Bài tổng quan
Tế lễ, tu thân và chín đức trong Kinh Dịch
Hàng xóm bên đông mổ bò làm tế lễ linh đình, hàng xóm bên tây chỉ cúng sơ sài - vậy mà Kinh Dịch lại bảo người tế lễ sơ sài kia mới thực sự được hưởng phúc. Nguyễn Hiến Lê giải thích: lễ vật nhiều ít chỉ là chuyện phụ, gặp đúng thời mới là cái quyết định. Rồi từ chỗ tế lễ, sách dẫn sang chuyện tu thân, gói trọn trong chín quẻ mà người quân tử phải nghiền ngẫm suốt đời - trong đó có một đức mà Khổng Tử lẫn Lão Tử đều tôn làm mức cuối cùng của người quân tử...
Tế lễ: chí thành hơn lễ vật
Chúng tôi nhận thấy trong 64 quẻ, không quẻ nào nói riêng về việc tế lễ, một việc thời xưa từ nhà cầm quyền tới dân đều cho là rất quan trọng; nhưng rải rác trong nhiều quẻ, và nhiều hào hễ ngẫu nhiên nói về tế lễ thì bao giờ cũng khuyên trước hết phải chí thành.
Như quẻ Tụy nói về việc nhóm họp, phải chí thành, Thoán Từ bắt đầu bằng 4 chữ "vương cách thái miếu" (như vua đến tế lễ ở nhà thái miếu).
Quẻ Hoán, trái lại, nói về việc lìa tan, cũng khuyên phải có lòng chí thành và Thoán Từ cũng mở đầu bằng 4 chữ "vương cách thái miếu".
Vậy người Trung Hoa cho công việc tế lễ cần có lòng chí thành nhất, và hễ nói đến lòng chí thành thì lấy việc tế lễ làm thí dụ. Có lòng chí thành là đủ, lễ vật nhiều ít là điều phụ.
Như quẻ Tụy, Thoán Từ bảo: "lễ vật hậu hĩ thì tốt" (dùng đại sinh, cát), nhưng hào 2 cùng quẻ đó lại bảo "chí thành thì như trong việc tế lễ, dùng lễ mọn cũng tốt".
Quẻ Kí Tế, hào 5 lại nói: "Hàng xóm bên đông (hào 5) mổ bò (làm tế lễ lớn) mà thực tế không được hưởng phúc bằng hàng xóm bên tây (hào 2) chỉ tế lễ sơ sài". Cả hai hào đều có lòng chí thành ngang nhau, nhưng hào 2 gặp thời hơn nên may mắn hơn, được hưởng phúc hơn.
Độc giả có thể coi thêm Thoán Từ quẻ Quán, các Hào từ hào 2 quẻ Tổn, hào 2 quẻ Thăng, hào 5 quẻ Khốn...
Tu thân, đạo làm người
Thoán Từ và Hào Từ thường khuyên ta nên có thái độ ra sao, giữ những đức nào để tu thân, nhưng vẫn nhằm mục đích xu cát tị hung, nghĩa là vẫn chú trọng vào việc bói. Thoán truyện còn dựa vào Thoán Từ mà bàn rộng thêm về đạo làm người; đến Tượng truyện thì coi thường việc bói mà chỉ xét đạo làm người, đem nhiều tư tưởng của Nho giáo vô Kinh Dịch, tới nỗi có người trách tác giả Tượng truyện là "làm công tác tuyên truyền" cho đạo Nho, như trong Chương II chúng tôi đã nói.
Chúng tôi lấy thí dụ quẻ Đại Súc để độc giả nhận thấy rõ điều đó.
Thoán Từ chỉ nói: Chứa lớn: chính đáng (theo chính đạo) thì lợi. Không phải ăn cơm nhà (tức được hưởng lộc của vua), tốt.
Đại Súc là chứa lớn; chứa tài hay đức, hay cả tài lẫn đức, mà những đức gì, chúng ta không biết.
Thoán truyện giảng: chứa lớn là chứa đức cương kiện của quẻ Càn, đức thành thực, rực rỡ của quẻ Cấn (vì quẻ Đại súc gồm quẻ Càn ở dưới, quẻ Cấn ở trên), mỗi ngày phải sửa đức cho mới hoài (nhật tân kì đức). Giảng như vậy tuy có rộng thật, nhưng còn dựa vào lời Thoán Từ.
Tới Đại Tượng truyện thì bảo người quân tử phải tìm tòi nghiên cứu, những lời xưa vết cũ của Thánh hiền, mà biết cho đến nơi đến chốn, làm cho đến nơi đến chốn để nuôi chứa đức của mình (Quân tử dĩ đa thức tiền ngôn vãng hành dĩ súc kì đức). Rõ ràng là một bài luân lí không còn liên quan gì tới việc bói toán nữa.
Cả Văn Ngôn truyện và Hệ Từ truyện cũng nhấn vào tính cách luân lí đó mà người thời Chiến quốc và thời Hán lần lần gán thêm cho Kinh Dịch.
Chín đức để tu thân
Hệ Từ hạ chỉ ra chín quẻ mà người quân tử phải nghiền ngẫm để sửa đức, tức các quẻ:
- Lí, cái nền của đức, vì Lí là lễ, cung kính, thận trọng.
- Khiêm, cái cán của đức, khiêm là khiêm tốn, tự hạ.
- Phục, cái gốc của đức, vì phục là trở lại, khôi phục lại thiên lí.
- Hằng, là cái bền vững của đức, vì hằng là giữ lòng cho bền, không thay đổi.
- Tổn, là sự trau giồi đức, trau giồi bằng cách bớt lòng dục, bớt lòng giận.
- Ích, là sự nảy nở đầy đủ của đức, ích có nghĩa là tăng tiến cái đức.
- Khốn là để nghiệm xem đức mình cao hay thấp, vì có gặp thời khốn, gặp nghịch cảnh mới biết mình giữ được đạo, được tư cách không.
- Tỉnh, là sự dày dặn của đức, tỉnh là giếng là nơi nước không cạn mà cũng không tràn, giúp ích cho đời, công dụng đầy khắp, dày dặn.
- Tốn, là sự chế ngự đức, để được thuần thục, linh hoạt, biết quyền biến.
Chín đức đó quan trọng thật đấy, nhất là đức Khiêm mà Thoán Truyện quẻ Khiêm rất đề cao, coi nó là đạo trời đất:
"Đạo trời giao tế xuống dưới thấp, đó là đức Khiêm của trời, vì thế mà phát dục được vạn vật, công tạo hóa càng ngày càng rực rỡ, đạo đất chịu ở dưới thấp hết thảy vạn vật, đó là đức khiêm của đất, vì thế mà khí âm bốc lên giao tế với khí dương, như vậy là trời đất cùng khiêm cả. Đạo trời làm vơi chỗ đầy mà thêm vào chỗ thiếu (khiêm); đạo đất biến đổi (làm sụp) chỗ đầy mà đổ vào chỗ thiếu; quỉ thần làm hại chỗ đầy mà làm phúc cho chỗ thiếu; đạo người ghét chỗ đầy mà yêu chỗ thiếu. Khiêm thì cao quí mà sáng, thấp (tự hạ) mà không ai có thể vượt qua, đó là mức cuối cùng của người quân tử."
Câu cuối: "Khiêm tôn nhi quang, ti nhi bất khả du" sao mà có giọng Đạo đức kinh thế: "Thánh nhân hậu kì thân nhi thân tiên" Chương 7; "Thánh nhân dục thượng dân bất dĩ ngôn hạ chi, dục tiên dân tất dĩ thân hậu chi" - Chương 66.
Tiểu Tượng truyện hào 1 quẻ Khiêm cũng khuyên như Lão Tử:
"Người quân tử khiêm rồi lại khiêm, tự ti để nuôi đức mình" (Khiêm khiêm quân tử, ti dĩ tự mục dã).
"Người quân tử khiêm rồi lại khiêm, dùng đức đó mà qua được sông lớn (qua được tai nạn)" (Khiêm khiêm quân tử, dụng thiệp đại xuyên).
Hào 3: "Bậc quân tử cần mẫn, khó nhọc mà khiêm thì vạn dân đều theo" (Lao khiêm quân tử, vạn dân phục dã).
Đạo khiêm còn được nhắc trong nhiều chỗ khác nữa, như trong:
- Quẻ Đại Hữu, hào 4: Tuy giàu có mà đừng làm ra vẻ thịnh vượng, phải khiêm tốn thì không có lỗi.
- Quẻ Qui Muội, hào 5: Em gái vua Đế Ất mà gả cho người bình dân, và khi về nhà chồng, y phục lại không đẹp bằng y phục cô phù dâu, như vậy là rất khiêm tốn, tốt.
- Quẻ Minh Di, Thoán Truyện khuyên nên giấu bớt sự sáng suốt của mình đi, mà vẫn giữ được chí hướng, không khoe tài khoe giỏi, cũng là khiêm tốn nữa. Nên so sánh với câu "Tri, bất tri, thượng" (Biết mà làm ra bộ không biết, như vậy là sáng suốt nhất) Chương 71 trong Đạo Đức kinh.
Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương VI.
