Bài tổng quan
Chu Công viết Hào từ và nghi án Thập Dực
"Tiềm long vật dụng" - rồng còn ẩn náu, chưa dùng được: đó là lời đầu tiên Chu Công viết dưới hào Sơ quẻ Càn, hoàn tất phần Hào từ mà cha ông, Văn Vương, đã bỏ dở trong ngục Dữu Lý. Nhưng lời Thoán, lời Hào vẫn còn quá cô đọng, nên đời sau phải thêm bản chú giải Thập Dực, và hầu hết đều tin rằng chính Khổng Tử là người viết. Đối chiếu lại từng câu trong Luận Ngữ, Nguyễn Hiến Lê phát hiện ra...
Chu Công và 384 lời Hào từ
Khi Văn Vương mất rồi, con ông là Cơ Phát lên nối ngôi Tây Bá, năm -1122 đem quân diệt Trụ, chấm dứt nhà Ân và sáng lập nhà Chu, xưng là Vũ Vương, và phong cha là Văn Vương.
Vũ Vương tổ chức chính quyền, vỗ về dân chúng, nhưng làm cho nhà Chu vững, thịnh lên, cho văn minh Trung Quốc tiến mạnh, là công của Chu Công – em ruột của ông, tên là Đán – mà Khổng Tử rất phục, suốt đời chỉ ước ao lập được sự nghiệp như Chu Công.
Vũ Vương chết năm -1115, con là Thành Vương, còn nhỏ tuổi, lên nối ngôi; Chu Công làm phụ chính, hết lòng giữ ngôi cho cháu, dẹp bọn phản động trong họ, tổ chức chế độ phong kiến, sửa đổi lễ nhạc, mà vẫn có thì giờ tiếp tục công việc của cha, nghiên cứu Dịch.
Văn Vương mới chỉ đặt ra Thoán từ để giải nghĩa toàn quẻ, Chu Công đặt thêm Hào từ cho mỗi hào của mỗi quẻ, cộng là 384 hào, để giải nghĩa từng hào một.
Chẳng hạn quẻ Càn, dưới hào Sơ (hào 1), Chu Công viết:
"Tiềm long vật dụng" – rồng còn ẩn náu, không dùng được.
Dưới hào 2, ông viết:
"Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân" – rồng đã hiện lên cánh đồng, ra mắt kẻ đại nhân thì lợi.
Dưới hào 3:
"Quân tử chung nhật càn càn, tịch dịch nhược, lệ, vô cữu" – người quân tử suốt ngày hăng hái tự cường, đến tối vẫn còn thận trọng như lo sợ; nguy hiểm, nhưng không tội lỗi.
Tới đây Chu Dịch mới thành một cuốn sách có văn từ, có nghĩa lí, đời sau gọi là Kinh, và chia làm hai thiên: thượng cho 30 quẻ đầu, hạ cho 34 quẻ sau. Nhưng lời Thoán và lời Hào vẫn quá giản áo, ít ai hiểu, nên đời sau phải chú thích, làm thêm bản Thập Dực. Thập là mười, dực là cánh con chim, có ý bảo Thoán từ của Văn Vương, Hào từ của Chu Công đặt ở dưới mỗi quẻ, mỗi hào, là đủ hình con chim rồi, bây giờ thêm Thập Dực là thêm lông cho con chim.
Thập Dực được gọi là Thập truyện. Chữ truyện thời xưa có nghĩa khác ngày nay: những lời để giải thích kinh thì gọi là truyện; chẳng hạn sách Xuân Thu của Khổng Tử gọi là Kinh, sau được ba người giải thích – Tả Khâu Minh, Công Dương Cao, Cốc Lương Xích – và phần giải thích của ba nhà đó gọi là Tả truyện, Công Dương truyện, Cốc Lương truyện.
Dịch nghĩa là gì? Chu Dịch nghĩa là gì?
Chúng ta đã biết sách Chu Lễ bảo đời Chu có ba loại Dịch: Liên Sơn Dịch, Quy Tàng Dịch và Chu Dịch. Nhưng tên Dịch đó do ai đặt ra, có từ hồi nào thì không ai biết. Ngay đến ý nghĩa của nó cũng có hai thuyết.
Thuyết được hầu hết mọi người ngày nay chấp nhận là: dịch nghĩa là biến đổi. Về ngữ nguyên, chữ dịch (biến đổi) lại có hai thuyết nữa. Một thuyết bảo chữ đó hồi xưa tượng hình một loài rắn, tựa như loài kì nhông ở nước ta, rất dễ đổi màu da – ở trên cây thì biến thành màu vỏ cây hay lá cây, xuống dưới đất thì biến thành màu đất. Mới đầu hình đó trỏ loài kì nhông, sau có nghĩa là dễ biến đổi như kì nhông, sau cùng chỉ còn nghĩa là biến đổi, mất hẳn nghĩa kì nhông. Một thuyết nữa bảo chữ dịch gồm chữ nhật (mặt trời) ở trên và chữ nguyệt (mặt trăng) ở dưới: dịch là thay đổi cho nhau như mặt trăng và mặt trời – mặt trời lặn thì trăng mọc – là di chuyển hoài ở trên trời.
Dù theo ngữ nguyên nào thì dịch cũng có nghĩa là biến dịch, thay đổi. Vạn vật sinh ra, lớn lên, rồi già, chết. Trong quẻ Càn, vạch dương ở hào Sơ có một nghĩa, lên hào 2, hào 3... lại có những nghĩa khác. Đó là biến dịch.
Dịch còn có nghĩa là giao dịch. Giống đực giống cái giao cấu với nhau rồi mới sinh sinh hóa hóa. Trong 8 quẻ đơn, hào âm hào dương thay đổi cho nhau; trong 64 quẻ trùng, các quẻ đơn thay đổi cho nhau. Đó là giao dịch.
Nhưng trong sự biến dịch, vẫn còn những luật bất dịch, như luật thịnh đến tột bực rồi phải suy – loài người về thể chất khoảng 50 tuổi bắt đầu suy, mặt trăng tròn rồi bắt đầu khuyết; quẻ Càn, vạch dương lên đến hào 5 là thịnh cực, tới hào Thượng là suy. Một luật bất dịch nữa là luật phản phục: không có gì mà không trở lại (vô vãng bất phục – quẻ Thái), như hết bốn mùa rồi trở lại xuân, nước ròng sát rồi lại dâng lên...
Thuyết "dịch là biến đổi" được mọi người chấp nhận, nhưng vẫn không khỏi có người thắc mắc: giải nghĩa chữ dịch như vậy rất đúng, nhưng Kinh Dịch chỉ có nghĩa đó từ khi nó thành một tác phẩm triết lí cuối thời Xuân Thu, trong thời Chiến Quốc; còn hồi đầu đời Chu, nó chỉ là một sách bói, chỉ cho người Trung Hoa một cách xem quẻ mới bằng cỏ thi để thay cách bói bằng yếm rùa, thì nó chưa có nghĩa đó, mà chỉ có nghĩa là giản dị, và chữ dịch phải đọc là "di", nghĩa là dễ dàng. Dưới mỗi quẻ có kèm theo một lời đoán nhất định, dưới mỗi hào cũng vậy; viên thái bốc bói được quẻ nào, hào nào thì cứ theo lời đoán kèm theo đó mà suy luận, so với lối bói bằng yếm rùa giản dị hơn nhiều, nên cách bói mới có tên là "Chu Dị": cách bói giản dị của nhà Chu. Thuyết này không phải là vô lí, và được vài nhà chủ trương, chẳng hạn Dư Vĩnh Lương, Phùng Hữu Lan như đã nói ở trên.
Về nghĩa chữ Chu trong Chu Dịch cũng có hai thuyết. Một thuyết, đại biểu là Trịnh Huyền (đời Hán), bảo Chu đó không có nghĩa là nhà Chu, mà có nghĩa là hết một vòng rồi trở về (chu nhi phục thủy), là chu lưu trong vũ trụ, là phổ cập; Chu Dịch có nghĩa là đạo dịch phổ biến khắp vũ trụ, hết một vòng rồi trở về. Trịnh Huyền lấy lẽ rằng ba sách Dịch đời Chu – Liên Sơn, Quy Tàng, Chu Dịch – tên hai sách trên không chỉ thời đại, thì tên cuốn cuối cũng không chỉ thời đại.
Một thuyết nữa, đại biểu là Khổng Dĩnh Đạt (đời Đường), bác lẽ đó, bảo người ta gọi hai sách trên là Liên Sơn, Quy Tàng, không thêm chữ dịch ở sau; mà Chu Dịch có chữ dịch, tức chữ dịch này không thể tách khỏi chữ Chu được, nên Chu Dịch phải có nghĩa là dịch của đời Chu.
Lí luận của Trịnh và Khổng đều không vững, và chúng ta chỉ cần biết rằng ngày nay mọi người đều hiểu Chu là đời Chu, mà tên Chu Dịch xuất hiện sau Khổng Tử, Mạnh Tử, vì trong Luận ngữ, Mạnh Tử chỉ thấy dùng tên Dịch thôi, không dùng tên Chu Dịch.
Một cuốn sách rất quan trọng mà từ nguồn gốc đến người viết, thời đại xuất hiện, ý nghĩa của tên sách đều gây nhiều thắc mắc, mấy nghìn năm sau chưa giải quyết được; đó cũng là một lẽ khiến cho Chu Dịch thành một kì thư.
Nghi án: Khổng Tử có thực viết Thập Dực?
Có lời đoán cho mỗi quẻ (Thoán từ, tức Quái từ), và lời đoán cho mỗi hào trong mỗi quẻ (Hào từ) rồi, thế là sách Chu Dịch hoàn thành. Người đời sau chỉ thêm những lời chú giải. Không có cuốn nào được nhiều người chú giải như cuốn đó: tới đầu đời Thanh đã có trên một trăm bảy chục bản chú giải còn giữ được, nếu kể cả những bản đã thất lạc, chỉ còn lại cái tên, thì con số phải gấp hai, gấp ba. Tiếp tục cho tới nay vẫn còn có người chú giải lại, có cả người Nhật, người Âu, người Việt mình nữa – ai cũng muốn xen ý kiến riêng của mình, của thời đại mình vô bộ kinh đó.
Quan trọng nhất vẫn là chú giải đầu tiên, tức Thập Dực, cũng gọi là Thập truyện.
Đại đa số các học giả Trung Hoa thời xưa cho rằng Thập Dực là công trình của Khổng Tử. Sách Hán thư, phần Nghệ văn chí, bảo:
"Dịch đạo thâm hĩ, nhân canh tam thánh, thế lịch tam cổ" – đạo Dịch rất thâm thúy, là công của ba vị thánh, trải ba đời mới xong.
Ba vị thánh đó là Phục Hi, Văn Vương, Khổng Tử; ba đời là đời thượng cổ (Phục Hi), đời trung cổ (Văn Vương), đời hạ cổ (Khổng Tử). Các thầy bói ngày nay khi bói đều khấn cả bốn vị: Phục Hi, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử.
Nhưng Khổng Tử có thực là người viết Thập Dực không? Điều đó còn đáng ngờ. Muốn biết đời và tư tưởng Khổng Tử thì chỉ nên căn cứ vào Luận ngữ, những sách khác đều không đáng tin.
Trong Luận ngữ chỉ có hai bài nhắc tới Kinh Dịch: bài Tử Lộ - 22, Khổng Tử dẫn một hào từ trong quẻ Hằng; và bài Thuật Nhi - 16, Khổng Tử nói: "Gia ngã số niên, ngũ thập dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá hĩ" (cho ta sống thêm vài năm nữa, tới 50 tuổi để nghiên cứu Kinh Dịch, thì có thể không lầm lỗi lớn).
Bài sau, có người cho là chép sai: hai chữ "ngũ thập" chính là chữ "tốt", chữ dịch chính là chữ diệc, và phải chấm câu lại là "Gia ngã số niên, tốt dĩ học, diệc khả dĩ vô đại quá hĩ" – cho ta sống thêm ít năm nữa để học, thì cũng có thể không lầm lỗi lớn.
Dù chép đúng chăng nữa, thì bài đó cũng như bài trên chỉ đủ chứng tỏ rằng Khổng Tử có đọc Kinh Dịch, chứ không có gì chắc chắn rằng ông đã viết về Kinh Dịch. Huống hồ trong Luận ngữ, ông không hề giảng Kinh Dịch cho môn sinh, như giảng về thi, thư, lễ nhạc. Mạnh Tử, Tuân Tử cũng không hề nói ông viết Thập Dực, chỉ nói ông viết kinh Xuân Thu thôi. Mà danh từ Thập Dực này không hề xuất hiện trong thời Tiên Tần, mãi tới đời Hán mới thấy.
Vả lại còn mấy lẽ nữa: tư tưởng trong Thập Dực rất tạp, có tư tưởng của Lão Tử, có câu giống trong Trung Dung, Đại Học. Trong Văn ngôn và Hệ từ – hai truyện trong Thập Dực – có chép "Tử viết" (nghĩa là thầy dạy, hay Khổng Tử dạy) – như vậy không phải là của chính Khổng Tử viết rồi. Giọng văn cũng nhiều chỗ khác nhau, ý nghĩa có chỗ thâm thúy, có chỗ rất tầm thường, không thể do một người viết được, mà do nhiều người trong nhiều thời viết rồi người sau gom cả lại.
Do những lẽ đó, từ đời Tống, Âu Dương Tu, Diệp Thích đã ngờ thuyết Khổng Tử viết Thập Dực, và gần đây, từ Khang Hữu Vi tới Phùng Hữu Lan đều nhận là Âu Dương Tu có lí.
Nhiều lắm thì ta chỉ có thể nói rằng Khổng Tử đã nghiên cứu Kinh Dịch, nhưng về già chỉ giảng cho một số rất ít môn sinh, và Thập Dực do một phái Dịch học đời Chiến Quốc – gồm cả Khổng gia lẫn Lão gia – viết kẻ trước người sau, do đó mà hoàn thành rất trễ, có thể là cuối thời Chiến Quốc đầu đời Hán, không thể nào ngay sau đời Khổng Tử được.
Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương I – II.
