Bài tổng quan
Lấp lửng như Trương Lương, bốn ông già núi Thương và lời nói chừa đường lui
Nhà vua đã tuyên bố sẽ phế thái tử, hoàng hậu quỳ lạy người dám can ngăn rồi đi gõ cửa một mưu sĩ nhất quyết không nhận mình bày kế. Cuối cùng cục diện đổi chiều chỉ nhờ bốn ông già tóc bạc đứng sau lưng thái tử trong một bữa tiệc gia đình…
Thao lược giữ được cả khi mất hết tiền bạc và quyền thế
Có người ngoài vẻ ngờ nghệch lại là người nhìn thấu mọi việc, vì cái khôn thật sự không nằm ở chỗ bạ đâu nói đấy, muốn gì làm nấy. Trí tuệ và tài năng của một người thể hiện ở chỗ lúc nào cũng nắm chắc thế cục và nắm chắc chính mình. Thiếu thao lược thì rất khó thành việc lớn. Thao lược ở đây cùng nghĩa với cái mà ta vẫn gọi là âm mưu: dù là nhân vật lớn hay vai nhỏ, có chút mưu lược vẫn hơn không có.
Trong cạnh tranh xã hội ngày càng gay gắt, những người thành công thường hơn người ở trí tuệ và thao lược chứ không chỉ vì có tiền hay có quyền. Không có mưu lược thì dù có quyền có tiền cũng có thể mất sạch. Ngược lại, người giỏi mưu kế dù trắng tay vẫn có thể nhờ mưu lược và phấn đấu một thời gian mà giành lại quyền lực và của cải. Ông Jeamson, tổng giám đốc một công ty lớn ở Mỹ và là triệu phú, từng tuyên bố với các đối thủ: cứ mang hết tiền của tôi đi, tịch thu hết nhà xưởng, đổi hết cổ phiếu sang tên các bạn, chỉ cần tôi còn động não được và nhân viên còn trung thành với tôi, trong ba năm tôi gọi tất cả trở lại. Chữ động não ấy chính là vận dụng mưu kế, nói cho đúng là nghệ thuật của trí tuệ. Thời Tây Hán, Trương Lương và Trần Bình đều thấm nhuần đạo lý này, giữ nước giữ mình đến mức người thường không sánh nổi.
Lã hậu giữ ngôi thái tử bằng một lời mời
Ngai vàng sắp đổi chủ chỉ vì một người đàn ông bệnh nặng không nỡ xa người mình yêu, và một người vợ chịu nhiều ấm ức nhất định không để cơ hội ấy thành sự thật.
Lưu Bang dựng nên nhà Hán, việc đầu tiên sau khi lên ngôi là lập Lưu Doanh, con trai mình với Lã Trĩ, làm thái tử, còn Lã Trĩ ở ngôi hoàng hậu chính tông. Nhưng Lưu Bang vốn ham rượu, mê sắc, ngay giữa chiến trận vẫn không quên vui chơi, nên có cả một dãy tì thiếp xinh đẹp. Ông có tất cả tám người con trai, trong đó có Lưu Hằng, sau này là Hán Văn đế, và Lưu Như Ý do Thích phu nhân sinh. Thích phu nhân vừa đẹp vừa biết đàn hát, đọc sách, nói năng trôi chảy, lại hay tranh cường hiếu thắng, nên ôm ý đồ thay con mình vào chỗ thái tử. Lã hậu xưa không theo quân mà ở lại Trường An, tình cảm với nhà vua vốn nhạt, sau khi nhà Hán dựng lên vẫn không địch lại sự sủng ái dành cho Thích phi. Biết rõ mình không thể tranh hơn bằng sắc, bà chỉ còn cách ngày đêm đề phòng, coi mẹ con Thích phi như cái gai trong mắt, vì nếu ngôi hoàng hậu bị lật đổ thì hậu quả không thể tưởng tượng.
Khi Như Ý lên mười tuổi, Thích phu nhân đẩy nhanh việc đoạt ngôi, ngày đêm sụt sùi trước mặt Lưu Bang xin đổi thái tử. Lưu Bang mủi lòng, lại thấy Lưu Doanh nhu nhược kém thông minh hơn Như Ý, liền muốn phế bỏ cho xong. Nhưng đổi thái tử là việc có thể lung lay tận gốc quốc gia nên ông vẫn phải họp quần thần. Lã hậu nhạy cảm chính trị, mấy hôm ấy đứng ngồi không yên, thấy nhà vua triệu tập các quan liền lặng lẽ núp trong dãy nhà ngang phía đông điện Vị Ương nghe ngóng. Lưu Bang nói rõ ý định, bảo thái tử nhu nhược tư chất tầm thường không kế nghiệp lớn nổi, Như Ý tuổi nhỏ nhưng thông minh giống ta, ta muốn phế Doanh lập Như Ý, các khanh thấy sao? Lã hậu nghe mà mắt tối sầm, chân mềm nhũn, suýt ngã. Bà biết thái tử mất thì chức hoàng hậu cũng hết, chưa biết chừng bị đưa vào lãnh cung.
Các quan khiếp sợ, lời tâu phần nhiều cũ rích, ý nhà vua không đổi. Bỗng có tiếng kêu lớn: không được, không... không được! Hóa ra là ngự sử đại phu Chu Xương, người nói lắp, thẳng tính, từng theo Lưu Bang vào sinh ra tử, lời nói rất có trọng lượng. Ông can ngay giữa triều, thêm cả quần thần phản đối, ý định đổi thái tử đành gác lại. Bãi triều, Lã hậu không giữ nổi vẻ tôn nghiêm, chạy đến quỳ trước Chu Xương cảm tạ. Ông vội đáp lễ: thần can bệ hạ vì việc công chứ không vì việc riêng, sao dám nhận lễ lớn này, rồi bỏ đi. Lã hậu đứng ngẩn người, hiểu rằng mình chỉ vừa thoát một đòn, nhà vua mới nhượng bộ tạm thời, chuyện đổi thái tử có thể bị nêu lại bất cứ lúc nào. Bà phải tìm cách thật chắc.
Là người sáng suốt tự biết mình, bà thấy chuyện tranh giành chính trị khó ứng phó một mình nên đi tìm người bày mưu. Người đầu tiên bà nghĩ đến là Trương Lương, kẻ đa mưu túc trí. Nhưng Trương Lương hiểu rõ chỗ hiểm của việc nhà đế vương nên không muốn nhúng tay, không bày kế cũng không tỏ thái độ. Lã hậu không nản, sai anh trai là Lã Trạch đến, khi mềm khi rắn năn nỉ cho bằng được. Bị ép hết đường, Trương Lương mới nói: chuyện đổi thái tử không thể chỉ dựa vào tranh cãi ngoài miệng, tôi cũng khó trực tiếp xuất đầu lộ diện. Thế này, tôi tiến cử người khác thay tôi. Trên núi Chung Nam có bốn vị lão nhân ẩn cư, danh tiếng rất lớn, nhà vua trước kia từng muốn chiêu nạp nhưng họ chê vua khinh người vô lễ nên trốn vào núi, thề không làm bề tôi nhà Hán, nhờ vậy nhà vua càng tôn trọng. Nếu thái tử tự tay viết thư, không tiếc vàng bạc châu báu, mời họ về làm tân khách, thường theo thái tử vào triều và cố ý để nhà vua trông thấy, nhà vua biết có bốn người này phò tá thì sẽ không đổi thái tử nữa.
Lã Trạch về thuật lại, Lã hậu mừng rỡ, lập tức sai người mang thư thái tử cùng vàng ngọc gấm vóc đi mời bốn vị là Đông Viên công, Ỷ Lý Quý, Hạ Hoàng công và Giốc Lý tiên sinh, và bốn ông già cuối cùng cũng xuống núi. Chẳng bao lâu họ đã tỏ rõ công dụng. Năm 196 trước công nguyên, Anh Bố ở Hoài Nam nổi loạn, Lưu Bang đang bệnh có ý để thái tử Doanh cầm quân đi dẹp. Lã hậu thấy việc hệ trọng liền đến hỏi bốn ông. Bốn ông cảnh báo: thái tử đi dẹp loạn, thắng hay thua đều không lợi. Thắng thì công gì, vì ngôi thái tử đã ở tột đỉnh của bề tôi, không thể thăng thêm; thua thì rất nguy, nhà vua sẽ có cớ phế bỏ. Lã hậu cho là đúng, vào khóc lóc với Lưu Bang rằng dẹp loạn này liên quan sống còn của giang sơn nhà Hán và chỉ có đích thân nhà vua đi mới thành công. Lưu Bang nghe vai trò của mình quan trọng đến vậy, lòng hớn hở, quyết mang bệnh xuất chinh. Nhờ thế, Lã hậu không những tránh được hiểm nguy cho thái tử mà còn kéo dài thời gian để nhà vua hoãn việc thay ngôi.
Năm 194 trước công nguyên, khi đánh Anh Bố, Lưu Bang trúng một mũi tên. Về Trường An bệnh nặng, Thích phu nhân khóc ngày khóc đêm. Lưu Bang biết mình không còn sống bao lâu, không nỡ rời Thích phi và lo mẹ con nàng không phải đối thủ của Lã hậu, bèn lại muốn thi hành việc phế lập. Ông họp quần thần lần nữa, lần này Thúc Tôn Thông đứng đầu cuộc can ngăn, khiến Lưu Bang không thực hiện được quyết tâm, đành ôm hận ra về. Lã hậu thấy thời cơ đã tới, bày một bữa tiệc gia đình mời thái tử cùng bốn ông già dự. Lưu Bang đến, thấy sau lưng thái tử có bốn cụ hơn tám mươi tuổi tóc bạc phơ đứng hầu, đã nghi hoặc; nghe họ xưng tên thì kinh ngạc, trợn mắt hỏi: trẫm mời nhiều lần các vị đều trốn, sao nay lại theo con trẫm? Bốn ông đáp theo ý Lã hậu đã gợi trước: bệ hạ hay coi thường, nhục mạ người khác, chúng tôi không muốn chịu nhục nên không dám gặp. Nay thái tử nhân hiếu trung hậu, thiên hạ đều muốn dốc sức vì thái tử, nên chúng tôi bằng lòng đến hầu. Lưu Bang thở phào, dặn các ông hãy chăm sóc thái tử cẩn thận rồi lúng túng rút lui. Ý định đổi thái tử từ đó tan hẳn. Về hậu cung ông nói với Thích Ý: ta vốn muốn lập Như Ý, nhưng trong triều không ai tán thành, giờ Doanh lại có bốn ông già phò tá, vây cánh đã đủ, khó động đến được, xem ra Lã Trĩ sẽ là chủ của nàng rồi.
Về sau quan giữ ấn tên Triệu Nghiêu thấy rõ tâm tư nhà vua lo cho mẹ con Thích phi, bèn khuyên phong Như Ý làm Triệu vương, cho đi đất phong sớm và phái một vị tướng quốc cứng cỏi đi bảo hộ. Lưu Bang chấp thuận, chọn Chu Xương, và phong Triệu Nghiêu làm ngự sử đại phu. Phía Lã hậu từ lâu đã có tâm phúc theo dõi, hỏi ra là mưu của Triệu Nghiêu thì cười nhạt: rồi sẽ xem.
Trương Lương nói gì mà như chưa hề nói
Một người khéo là người mà lời nói rõ ràng đến mức không ai bắt bẻ được, nhưng cũng kín đến mức không ai nắm được.
Cơn sóng gió củng cố ngôi dòng trưởng này là màn hiểm ác nhất trong đời Lã hậu, và nhờ mưu mô kín đáo của bà mà nguy hóa thành yên. Có người cho thắng lợi thuộc về sức mạnh của bốn ông già núi Thương, nhưng thật ra chính Lã hậu đã chủ động mời Trương Lương vạch ra kế sách khiến cuộc cờ sôi động hẳn lên, nên Thích Ý không thể nào địch lại.
Còn Trương Lương, vai trò của ông mới là quyết định, và cũng cho ta thấy nét độc đáo cùng trí tuệ của ông. Những gì ông nói và nghĩ đều cẩn mật, không để lộ ý, không để mình rơi vào xoáy đấu tranh, nhưng thực chất thái độ của ông rõ ràng hết mức. Ông không tự mình bày mưu, không nhận mình có công, nhưng chỉ bằng một lời tiến cử đúng chỗ đã xoay chuyển cả cục diện. Sự lấp lửng nước đôi ấy cao minh ở chỗ không ai có thể truy ra ông đã làm gì.
Lấp lửng nước đôi và tiếng cười của đám đông
Có lúc nói thật chỉ chuốc lấy một trận đòn, nói giả lại thấy mất phẩm giá, và lúc ấy chỉ còn một tiếng cười là đường thoát.
Lấp lửng nước đôi cũng chính là cái mà người ta quen gọi là pha trò. Lỗ Tấn từng kể một chuyện nổi tiếng: một nhà sinh được bé trai, hàng xóm kéo đến chúc mừng. Người bảo đứa bé trắng trẻo bụ bẫm, tương lai nhất định làm quan lớn. Người bảo bé thông minh lanh lợi, sau này viết văn hay nhất thiên hạ. Người bảo bé tinh thần đầy đặn, chắc chắn phát tài. Nhưng có một người nói ngược lại, rằng đứa bé này rồi sẽ chết. Câu nói thật ấy làm mọi người sững sờ, rồi họ giận dữ xúm vào đánh cho anh ta một trận. Ai cũng thích nghe lời hay và thích nói lời hay; người nói lời hay được khen, người nói thật mà không biết ý bị đánh. Trong hoàn cảnh ấy, nói dối cho đẹp lòng gần như mất cả phẩm cách, mà những lời ấy chưa chắc xuất phát từ đáy lòng. Còn nói thật quá dứt khoát thì chuốc phiền, có khi rước họa. Vậy làm sao đây? Người ta bắt đầu cười đùa: đứa bé này... ha ha ha... đứa bé này... ha ha ha ha ha...
Pha trò đúng lúc là điều cần thiết, nhất là khi chưa nhìn ra kết quả của một vấn đề, đừng vội nói lời tuyệt đối mà nên lấp lửng nước đôi, bình tĩnh xem sự việc diễn ra thế nào. Có câu chưa điều tra thì chưa có quyền phát ngôn. Mọi kết luận nên đưa ra sau khi hiểu rõ nguyên nhân và kết quả, không phải ngay giữa lúc sự việc còn đang chuyển động.
Đừng vỗ ngực cam đoan, hãy chừa phần linh động
Lời đã nói ra như nước đổ ra khỏi chén, nên người khôn để lại trong chén một chỗ trống cho sự bất trắc.
Nhiều người không hiểu lẽ ấy, khi chưa nên kết luận lại quả quyết, nói những lời cứng nhắc như đinh đóng cột: việc này tuyệt đối không có vấn đề. Những thứ anh cần mười ngày sau chắc chắn giao một trăm phần trăm. Việc này tin được một trăm phần trăm. Tôi nói một là một hai là hai, thứ tư gặp thì thứ tư gặp. Ngày mùng một tháng mười nhà máy chúng tôi nhất định ra mẻ hàng đầu tiên, nếu không được tôi không làm người. Những lời vỗ ngực như thế trong đời có rất nhiều, và chính chúng ta khi hứng khởi cũng có thể buột miệng nói ra. Nhưng trời có mây gió khó lường, người có phúc họa sớm tối, việc đời xưa nay khó vẹn toàn. Mọi chuyện ngoài ý muốn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Vì vậy khi nói với người khác, nên chừa cho mình đủ phần linh động, đừng tự đẩy mình vào chỗ khó xử.
Giả như bạn định tháng mười nhà máy ra sản phẩm đầu tiên, trước khi hứa hãy tính đến một phần trăm bất trắc: kéo dài thời gian thì sao, điện, kỹ thuật, tay nghề công nhân gây rắc rối thì sao, nhân tố bất lợi ập đến thì sao. Cho nên nói thế này mới khéo: kế hoạch của chúng tôi là tháng mười có thể ra sản phẩm đầu tiên, nếu không có chuyện ngoài ý muốn, và chúng tôi sẽ hết sức cố gắng để các bạn hài lòng. Khi trò chuyện, đàm phán hay kết bạn, nên dùng nhiều những cặp từ như: mặc dù... nhưng mà..., hoặc là... hoặc là..., tuy rằng... nhưng..., có thể... song...
Nguồn: Tư Mã Sơn Nhân, Nguyên An, Âm Dương Kinh.
