Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Sấm gọi tên các triều đại từ Hồng Bàng đến nhà Nguyễn

Đạo Học - Đạo Gia04/10/202613 phút đọc2 lượt đọc
Sấm gọi tên các triều đại từ Hồng Bàng đến nhà Nguyễn

Chỉ cần tách một chữ ra làm đôi, người xưa đã đọc được cả một triều vua đang lên hay đang xuống. Từ chữ Lê, chữ Lý, chữ Trần cho đến chữ Nguyễn, mỗi lần ghép lại là một lần ngai vàng đổi chủ…


Cảm đề: bài thơ ông tự gửi lại đời

Bài sấm mở đầu bằng một khúc thơ ông viết khi đã về ở ẩn. Ông tả cảnh thanh nhàn vô sự, thả thuyền chơi trên Ngũ Hồ, nhớ chuyện Phạm Lãi xưa sau khi giúp Việt vương Câu Tiễn diệt Ngô Phù Sai thì chán danh lợi, đổi tên là Đào Chu, cùng Tây Thi rong chơi trên Ngũ Hồ. Câu "tuổi già thưa kém bạn" theo cách nói cổ có nghĩa là ít bạn.

Thanh nhàn vô sự là tiên,
Năm hồ phong nguyệt ruỗi thuyền buông chơi.
Cơ tạo hóa,
Phép đổi dời,
Đầu non mây khói tỏa,
Mặt nước cánh buồm trôi,
Hươu Tần mặc kệ ai xua đuổi,
Lầu Hán trăng lên ngẫm mệnh trời.
Tuổi già thưa kém bạn,
Văn chương gửi lại đời.
Dở hay nên tự lòng người cả,
Bút nghiên soi hoa chép mấy lời.
Bí truyền cho con cháu,
Dành hậu thế xem chơi.

Bản sấm được lưu truyền gồm mười bốn câu cảm đề này cùng hai trăm bốn mươi tám câu sấm, tổng cộng hai trăm sáu mươi hai câu. Để dễ đọc, hai trăm bốn mươi tám câu ấy được chia thành năm mươi tám khổ: tám khổ sáu câu, còn lại là những khổ bốn câu.

Từ chuyện thanh nhàn của người ở ẩn, lời sấm bắt đầu bằng một câu hỏi về cả dải đất này.

Họ Hồng Bàng, biển dâu và ngôi nước đổi thay

Khổ thơ mở đầu ôn lại cả cuộc dựng nước: từ họ Hồng Bàng, qua cuộc biển dâu của thế gian, từ các triều Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước, đã bao lần ngôi nước đổi thay. Núi sông trời đã định sẵn, bản đồ và sách vở trình bày trọn vẹn, đọc lên bây giờ mới rành.

Nước Nam từ họ Hồng Bàng,
Biển dâu cuộc thế, giang sơn đổi vần.
Tự Đinh, Lê, Lý, Trần thuở trước,
Đã bao lần ngôi nước đổi thay.
Núi sông thiên định đặt bày,
Đồ thư một quyển xem nay mới rành.

Khổ kế tiếp là một đoạn chiết tự, tức tách chữ để đoán nghĩa. Chữ "hòa", "đao", "mộc" ghép lại thành chữ Lê, và "lạc" nghĩa là rơi: nhà Lê hết. Các chữ "thập", "bát", "tử" ghép lại thành chữ Lý: nhà Lý nối tiếp. "Đông A" là chữ Trần. "Dị mộc tái sinh", cây khác sống lại, ý nói nhà Hậu Lê. Cách đọc này gợi ý nhiều về chiết tự, thứ lối đoán mà lời sấm còn dùng đi dùng lại ở nhiều khổ sau.

Hòa đao mộc lạc,
Thập bát tử thành.
Đông A nhật xuất,
Dị mộc tái sinh.

Khổ thứ ba nói đến vận mới. Chấn cung xuất hiện mặt trời, Đoài cung có sao rơi; "phụ nguyên" giữ lấy mối cai trị, vua bị phế xuống làm dân thường. Người đời giải rằng đây là lúc nhà Tây Sơn xuất hiện. Khổ thứ tư kể tiếp: hơn mười năm chiếm giữ, thiên hạ mới được yên lâu dài. Lời thần trước đã ứng linh, những điều sau này phải đoán cho minh mới tường.

Chấn cung xuất nhật,
Đoài cung vẫn tinh.
Phụ nguyên trì thống,
Đế phế vi đinh.
Thập niên dư chiếm,
Thiên hạ cửu bình.
Lời thần trước đã ứng linh,
Hậu lai phải đoán cho minh mới tường.

Chữ "chấn" và chữ "đoài" trong khổ thơ ấy là hai quẻ của bát quái, và người ta gắn chúng với hai anh em ở đất Tây Sơn.

Kẻ biện lại làm vua và anh em Tây Sơn

Khổ thứ năm có những câu mà người đời nhớ rất lâu.

Hòa đao mộc hồi dương sống lại.
Bắc Nam thời thế đại nhiễu nhương,
Hà thời biện lại vi vương,
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn.

Nghĩa là: khi nào kẻ biện lại làm vua, thì đó là lúc cõi Bắc mất mà cõi Nam cũng phải chạy dài. Người ta nói rằng trong lịch sử nước Việt chỉ có một người từ chức biện lại mà lên ngôi vua, đó là Nguyễn Nhạc. Năm Tân Mão (1771), niên hiệu Cảnh Hưng thứ ba mươi hai đời vua Lê Hiển Tông, từ một chân tuần biện lại ở Vân Đồn, Nguyễn Nhạc cùng hai em là Huệ và Lữ chiến đấu suốt bảy năm, rồi nhảy một bước lên ngai Thái Đức Hoàng đế năm 1778.

Từ đó tình hình đất nước diễn ra đúng như lời sấm. Cuộc chiến giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn trong Nam nổ ra. Chẳng bao lâu quân Tây Sơn thắng, diệt chúa Nguyễn, rồi thừa thắng đem binh ra diệt luôn chúa Trịnh ở Bắc. Tây Sơn trả quyền lại cho nhà Lê, vua Lê từ đó thoát khỏi nạn chúa Trịnh chuyên quyền. Nhưng sau khi vua Hiển Tông mất, vua Chiêu Thống lên ngôi, dòng họ Trịnh trở lại. Nhà vua mật triệu Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An ra giúp. Chỉnh dẹp tan đám con cháu họ Trịnh còn sót lại, rồi chuyên quyền và ra mặt chống Tây Sơn. Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm đem quân ra đánh Chỉnh; quân Nhậm tiến gần Thăng Long, Chỉnh mang vua chạy trốn, nửa đường bị Nhậm bắt sống. Vua thoát, nhưng phải giả dạng thường dân, giấu ấn tín trong mình mà chạy.

Trong thời "biện lại làm vua" ấy, không chỉ miền Bắc bị diệt mà miền Nam cũng bôn ba chạy trốn, và không chỉ một lần. Chúa Nguyễn bị quân Trịnh do tướng Hoàng Ngũ Phúc đuổi, phải chạy vào Quảng Nam nương náu ở Bến Ván. Chưa được vài tháng, chúa lập cháu là Nguyễn Phúc Dương lên làm Đông cung để lo khôi phục và phòng xa nếu mình gặp rủi ro. Tây Sơn tiến lên, quân Bắc đi xuống, chúa Nguyễn bị kẹt giữa hai gọng kìm, trốn vào Trà Sơn, rốt cuộc phải cùng cháu là Nguyễn Phúc Ánh xuống thuyền chạy về Gia Định.

Người anh vừa lên ngôi thì bóng người em đã phủ lên cả cõi Bắc.

Ngựa đá, cầu phao và chữ "tiểu" trên đầu, dưới chân

Khổ thứ sáu nói về mối quan hệ giữa vua Lê và chúa Trịnh. Khổ thứ bảy mở đầu bằng hai câu thơ nổi tiếng khác, và kết bằng hai câu về một mặt trời đỏ ở núi tây.

Lê tồn, Trịnh tại,
Lê bại, Trịnh vong.
Chim bằng cất cánh về đâu?
Chết tại trên đầu hai chữ quận công.
Bao giờ trúc mọc qua sông,
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non tây.

Hai câu cuối ứng với việc Tôn Sĩ Nghị đem quân sang cướp nước ta. Khi qua sông Nhị Hà, Nghị chia đồn đóng ở những bãi cát rộng và sai bắc cầu phao trên sông để đi lại cho tiện. "Trúc mọc qua sông" là nói chiếc cầu phao làm bằng tre. Chính sau trận Đống Đa lịch sử, Tôn Sĩ Nghị kéo quân qua cầu phao ấy, quân lính xô đè lên nhau mà chết, thây xác ùn nghẽn cả sông. Nguyễn Huệ nhờ chiến thắng đó mà mở ra một triều đại mới của nhà Tây Sơn, đúng như hai câu: bao giờ trúc mọc qua sông, mặt trời sẽ lại đỏ hồng non tây.

Khổ thứ tám có thế này.

Đoài cung một sớm đổi thay,
Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn.
Đầu cha lộn xuống chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.

Người ta hiểu đó là chuyện Nguyễn Nhạc yếu dần, Nguyễn Huệ nổi lên. Trong Kinh Dịch, Đoài cung là phương Tây, chỉ người em, còn Chấn cung là phương Đông, chỉ người anh. Chữ "Quang" trong Quang Trung có chữ "tiểu" ở trên đầu, chữ "Cảnh" trong Cảnh Thịnh lại có chữ "tiểu" ở dưới chân. Cảnh Thịnh là niên hiệu của Nguyễn Quang Toàn, con vua Quang Trung. Hai đời vua ấy cộng lại vừa mười bốn năm, nên mới có câu: đầu cha lộn xuống chân con, mười bốn năm tròn hết số thì thôi.

Giữa tiếng reo mừng chiến thắng, lời sấm còn nhớ đến một kẻ mang chí lớn như chim bằng, và cái kết của người ấy.

Chim bằng gãy cánh dưới hai chữ quận công

"Chim bằng cất cánh về đâu, chết tại trên đầu hai chữ quận công." Câu ấy được hiểu là nói về Nguyễn Hữu Chỉnh, một danh tài đất Bắc Hà, hay tự hào rằng nhân tài xứ Bắc chỉ có một mình ông. Chỉnh thường ví mình có chí cả như chim bằng, người đương thời gọi ông là Cống Chỉnh.

Lúc đầu Chỉnh làm thuộc hạ cho Hoàng Ngũ Phúc, lão tướng đại tài của chúa Trịnh. Sau khi Ngũ Phúc mất, ông theo Hoàng Đình Bảo, con nuôi của Phúc, phò Trịnh Cán, con thứ của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm và thứ phi Dương Thị Huệ, tục gọi là bà Chúa Chè. Phủ chúa Trịnh nổ ra loạn kiêu binh, Trịnh Cán bị phế, Hoàng Đình Bảo bị giết, Trịnh Khải lên ngôi chúa. Chỉnh bỏ Trịnh sang đầu Tây Sơn, dâng vua Tây Sơn bài sách "Phù Lê diệt Trịnh". Nhờ bài sách ấy mà Tây Sơn áp dụng một chiến thuật mềm dẻo, đưa đất Bắc Hà sang một khúc quanh lịch sử lớn.

Sau khi diệt quân chúa Trịnh, Nguyễn Huệ đem các thuộc hạ như Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm vào cung Văn Thọ vấn an vua Lê. Vua phong Huệ chức Nguyên soái Dục chính Phù Vân Uy quốc công, Huệ có ý bất mãn, nhưng nhờ Chỉnh khéo léo nên nguôi giận. Vua Lê lại gả cô con gái út là công chúa Ngọc Hân, lúc ấy mười sáu tuổi, tài sắc vẹn toàn, giỏi văn chương thi phú, cho Nguyễn Huệ. Vua Lê mất, Huệ tôn cháu là Hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên ngôi, hiệu Chiêu Thống.

Khi quân Tây Sơn rút về Nam, nghe lời Vũ Văn Nhậm vốn ghét tính kiêu căng tự phụ của Chỉnh, Nguyễn Huệ bỏ Chỉnh lại đất Bắc. Chỉnh hoảng hốt chạy theo kịp quân Huệ ở Nghệ An. Huệ vỗ về và khuyên ông ở lại Nghệ An phòng mọi bất trắc, nhưng ngầm truyền cho Nhậm theo dõi mọi hành động của ông, vì biết trước sau gì Chỉnh cũng mưu phản. Chỉnh biết mình bị bỏ rơi, tiến thoái lưỡng nan, song là người nhiều mưu trí, ông tìm người tài lưu vong, tích thảo dồn lương, gây thanh thế để chiếm Nghệ An. Gặp lúc vua Lê Chiêu Thống bị con cháu chúa Trịnh là Trịnh Bồng, giữ chức Án Đô vương, áp bức, nhà vua phái sứ vào triệu Chỉnh ra dẹp loạn. Cơ hội ngàn năm một thuở đã đến. Chỉnh ra Bắc dẹp yên Trịnh Bồng và được vua Lê phong Bình chương Quân quốc trọng sự Đại tư đồ Bằng Trung công.

Chỉnh chiếm phủ Trịnh làm đại bản doanh, xin vua phong con là Nguyễn Hữu Dụ làm thế tử, cắt đặt chân tay bộ hạ vào các chức vụ trong triều và biên trấn. Bộ hạ lại tâu xin phong Chỉnh tước Nhất tự công, được mở phủ quân Vũ Thành, đúc ấn riêng, lập Khu mật viện. Nắm trọn binh quyền, Chỉnh quyết đoán mọi việc, không thèm hỏi ý vua Chiêu Thống. Vua Lê vừa thoát nạn Trịnh Bồng lại lọt vào tay lộng thần Cống Chỉnh, đất Bắc Hà lại một phen lầm than, vua làm bù nhìn, chỉ biết âm thầm đau khổ.

Vũ Văn Nhậm, theo mật lệnh Bắc Bình vương theo dõi Chỉnh, mật tấu về Nam. Sau hội nghị quân sự ở Quảng Nam, Nguyễn Huệ nêu tội Chỉnh giống như họ Trịnh xưa ôm chân vua Lê mà lộng quyền, rồi ra lệnh cho Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân ra Nghệ An họp với Vũ Văn Nhậm mở cuộc Bắc phạt. Chỉnh bại trận, bị bộ tướng của Nhậm là Nguyễn Văn Hòa bắt ở núi Tam Tằng, huyện Việt Yên, Bắc Giang, bỏ vào cũi đưa về Thăng Long nạp cho Nhậm. Con Chỉnh là Nguyễn Hữu Dụ bị chặt đầu ngay tại chỗ. Còn Chỉnh thì bị Nhậm phanh thây. Chim bằng đã gãy cánh sau những ngày hưởng vinh sang tột đỉnh, đúng như câu "chết tại trên đầu hai chữ quận công".

Sau tiếng gãy cánh của chim bằng, một cái tên khác hiện ra từ những nét chữ ghép lại.

Tin dê, mắc mồi đàn dê và bốn ngôi vua của một nhà

Khổ thứ chín mở đầu bằng hai câu.

Phụ nguyên chính thống hẳn hoi,
Tin dê lại phải mắc mồi đàn dê.
Dục lòng chinh chích u mê,
Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm.

Theo lối chiết tự, đầu chữ "phụ" ghép với chữ "nguyên" thành chữ Nguyễn: ở đây nói đến nhà Nguyễn. Khi Nguyễn Ánh, tức Gia Long, nhờ Bá Đa Lộc cầu viện nước Pháp, ông đã khiến người Pháp để mắt đến nước Việt, và thực chất là mở cửa cho tư bản Pháp tràn vào. "Dê" ở đây là "dương nhân", người Tây Dương. Từ đó nhà Nguyễn dần dần mất chủ quyền về tay người Pháp.

Khổ thứ mười có bốn câu nổi tiếng.

Để loài bạch quỷ Nam xâm,
Làm cho trăm họ khổ trầm lưu ly.
Ngai vàng gặp buổi khuynh nguy,
Gia đình một ở ba đi dần dần.

Hai câu đầu ám chỉ việc người Pháp thôn tính nước ta, "bạch quỷ" là bọn quỷ da trắng, khiến dân chúng khổ sở muôn vàn. Hai câu sau nói vương quyền nghiêng ngả. Trong bốn vị vua nhà Nguyễn lúc ấy, chỉ một người được yên ổn tại vị, còn ba người kia mất ngôi, xa xứ, lưu đày: vua Hàm Nghi bị đày sang Algérie, vua Thành Thái và vua Duy Tân bị đày sang đảo Réunion, chỉ còn vua Khải Định ở lại nối nghiệp, ứng với câu "gia đình một ở ba đi dần dần".

Còn hai câu sau của khổ thứ chín, người ta cũng tách chữ. Chữ "đức" gồm chữ "thập" ở trên, chữ "tứ" ở dưới, rồi chữ "nhất" nằm trên chữ "tâm". Kết hợp với chữ "dục" ở đầu câu trên, người ta cho rằng đây nói về vua Dục Đức. Theo lịch sử, vua Tự Đức không có con trai, nuôi ba người cháu làm con nuôi là Dục Đức, Chánh Mông, Dưỡng Thiện. Tờ di chiếu lập Dục Đức nối ngôi, cử Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết làm phụ chính.

Trong di chiếu có đoạn nói Dục Đức mắt có tật, tính ham chơi, e không gánh được việc lớn, nước cần có vua lớn tuổi nên phải lập con trưởng. Đúng ngày làm lễ tấn tôn, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết viện câu đó mà truyền bãi chầu để định đoạt lại. Ba hôm sau lại thiết triều, Tường tuyên bố phế Dục Đức. Triều đình không ai dám nói, duy có ngự sử Phan Đình Phùng đứng lên phản đối, liền bị Tường và Thuyết bắt giam, cách chức đuổi về. Em ruột vua Tự Đức là Lãng quốc công Hồng Dật được lập lên, niên hiệu Hiệp Hòa; còn Dục Đức bị giam một nơi, về sau không được cho ăn uống mà chết.

Nguồn: Nguyễn Nghiệp (sưu tầm), Trạng Trình – Sấm và Ký.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia