Bài tổng quan
Ngũ hành sinh khắc và âm dương lý trong một lá số
Hai lửa gặp nhau, có khi bùng thành đám cháy lớn, có khi lại dập tắt lẫn nhau. Nước phải gặp lửa mới hóa thành hơi mà thanh khiết. Sắt phải khắc gỗ mới đẽo nên được tủ thờ, sa-lông. Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử mượn những nghịch lý rất đời thường ấy để giảng cái lý sâu xa của ngũ hành…
Hai lửa gặp nhau, có khi bùng thành đám cháy lớn, có khi lại dập tắt lẫn nhau. Nước phải gặp lửa mới hóa thành hơi mà thanh khiết. Sắt phải khắc gỗ mới đẽo nên được tủ thờ, sa-lông. Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử mượn những nghịch lý rất đời thường ấy để giảng cái lý sâu xa của ngũ hành trong một lá số — rồi từ đó bước sang một câu hỏi còn hóc búa hơn: vì sao cùng một cách Tử Phủ Vũ Tướng, người thì phúc hậu, kẻ lại gian tà?
Cùng một hành, nhưng không phải một loại
Khi đã nhận thức được quy luật của số 4, là nút mở vận hành của ngũ hành, mới thấy được Hà Đồ tiền sinh, thủy tổ phát sinh ra khoa Tử Vi Đẩu Số, lại lấy tới 4 cung Thế Thìn Tuất Sửu Mùi, mà Tuất ở nơi Thiên Phủ miếu vị, đối chiếu Tử Vi cao ngất sáng ngời ở Ngọ cung. Vậy nên hiểu Sửu Mùi là Thổ ngoại, Thổ đã thành, mà hai cung Thìn Tuất là nơi Thổ hư trung, Thổ hãy còn thu lấy hoặc phát ra, để thành nên thực thể ngũ hành khác.
Vì thế mà Thìn Tuất mới gọi là La Võng chi địa, thường là 2 cung khởi nghịch thuận của các sao, thường có danh là xương long chi địa, nên Tuất cung Phủ ngộ Hồng Quyền Phụ Bật, kiêm Mộ tinh, vi tối hảo — mới thấy rõ nguyên lý Tuất phải gặp được nhiều sao thuộc hành Thổ mới thật hoàn mỹ, và tại sao Cơ Lương là Mộc ở Tuất lại miếu địa, sẽ hiểu rộng ra sự tương quan của các cung được.
Thất Sát Nam Mạnh ca
Thất-sát Dần Thân Tý Ngọ cung.
Tây di cũng thù phục anh hùng.
Khôi-Việt Tả Hữu Văn Xương hội.
Khoa-Lộc danh cao thực vạn chung.
Âm dương và ngũ hành cục
Cung Thiên Bàn dùng để ghi Mạnh thuộc hành nào, nam nữ thuộc Âm hay Dương, tuổi sinh thuộc cục nào, và để đánh dấu các cung lưu vận niên từng năm.
Phân định Mạnh thuộc hành nào: tiên quyết phải xét Mạnh thuộc hành nào, thuộc Kim, Mộc, Thủy, Hỏa hay Thổ; thứ đến phân định xem hành ấy thuộc loại nào, sau đó mới xét đến các sao trong cung Mạnh, xem sao nào hợp với hành của bản Mạnh, và xem sao ấy có đồng một bản chất, hay một tính lý với Mạnh không, hay là sao ấy khắc chế với Mạnh, rồi sao mới họp các cung tam hợp, xung chiếu và nhị hợp lại, để xét toàn thể tinh Mạnh.
Thí dụ biết Mạnh thuộc Mộc, nhưng là Mộc nào: Đại lâm mộc là thứ mộc rất to lớn, ví như cây đa, cây đề ở đình chùa. Dương liễu mộc là thứ cây cũng to lớn, mà ta có thể dùng gỗ để làm nhà cửa. Tùng bách mộc là loại kém bằng dương liễu, gỗ chỉ làm đồ dùng. Bình địa mộc là loại cây ta thường thấy ở vườn ấp chẳng hạn. Tang đố mộc là thứ cây dâu, lá dùng để nuôi tằm. Thạch lựu mộc là thứ cây như cây lựu trồng để làm kiểng chơi. Qua các thí dụ trên, căn cứ vào bài Lục Thập Hoa Giáp là 1 vòng 60 năm, ta thấy Mộc là cây, nhưng cây có nhiều loại khác nhau, không đồng bản chất và tính lý, thì không ở chung được với nhau.
Nguyên tắc phân định
Đồng vị, đồng tính, cư đồng gia (cùng bản chất cùng tính lý có thể ở chung nhau một nhà). Bất đồng vị, bất đồng tính, bất cư đồng gia (không cùng bản chất và tính lý không thể ở chung với nhau được).
Thí dụ về việc phân loại Mộc này: tại sao ở rừng ta nhận thấy khu này là rừng tre, lồ ô, thì toàn là tre và lồ ô, ta ít khi thấy một cây loại khác tre, hay lồ ô, có thể ở giữa rừng tre, lồ ô được; giả thử có 1, 2 cây khác loại, dù là cây sao hay dầu, là thứ cây sinh trưởng rất mau, rất lớn, cũng không thể có được, nếu có cũng chỉ là cây cong queo, làm củi mà thôi. Tìm hiểu về nguyên lý sẽ thấy trước hết, đất này đã hợp cho loại tre, loại lồ ô, và chăng khi tre và lồ ô đã lớn, thân khí và các thứ khí khác của tre, lồ ô phát ra, thì chỉ có đồng loại của nó mới có thể sinh trưởng được thôi, các loại cây khác sẽ bị khắc chế mà tiêu diệt. Không cần nói chi tới loại tre và lồ ô, là thứ cây còn lớn, ngay khu rừng nào là khu cỏ tranh yếu ớt, cũng thấy toàn thể là cỏ tranh cả. Phải chăng đây là định luật của loài thảo mộc. Sau khi hiểu được định luật đồng nhi dị (cùng mà khác) của Mộc loại, là đã đồng thời hiểu ra các hành còn lại.
Định luật áp dụng: cùng hành mà vẫn sinh khắc lẫn nhau
Kỳ cố hà dư như: lưỡng Hỏa thành Viêm, lưỡng Hỏa Hỏa tuyệt (tại sao như thế, hai Hỏa gặp nhau thành đám cháy lớn, cũng hai Hỏa gặp nhau mà Hỏa bị tuyệt). Vì lửa sấm sét trên trời (Tích Lịch Hỏa) với lửa ở hỏa lò, là lửa đun bếp (Lò Trung Hỏa), thời gặp nhau làm sao để mà sinh hóa được, nếu sét đánh vào đám lửa đun bếp, thì đương nhiên sẽ tắt hết lửa ngay. Cùng một định luật này, áp dụng cho 3 hành còn lại kia, là về phương diện sinh hóa và diệt vong: hành Kim, lưỡng Kim Kim khuyết; hành Thổ, lưỡng Thổ Thổ duyệt; hành Thủy, lưỡng Thủy Thủy kiệt. Trên đây là sự sinh khắc cùng một loại với nhau.
Dị biệt ngũ hành khắc sinh: lại còn sự khắc và sinh của các hành khác đối kháng cùng nhau nữa. Thí dụ như nước và lửa là 2 loại thuộc ngũ hành cá biệt nhau, lửa không thể ở gần nước được, vì thuận lý thì Thủy khắc Hỏa, lửa đi lên mà nước thì lắng tụ xuống; nhưng ngược lại nếu muốn có nước vệ sinh để dùng, phải đun sôi lên, nước mới thuần khiết và đắc dụng. Định luật áp dụng: kỳ cố hà dư, như Thủy khắc Hỏa, vô Hỏa bất thành Thủy (tại sao như thế, nước khắc chế lửa, mà không có lửa, lại không thành thủy).
Sinh khắc Kim và Mộc: thí dụ như Kim (sắt) khắc chế Mộc, lấy dao, cưa, búa chặt thì cây chết, nhưng nếu không có Kim là búa, chẳng đục để đẽo gọt, chạm tỉa, thì gỗ kia đâu có thành được những tủ xưa, những bộ sa-lông quý giá, hay là đình chùa nguy nga lộng lẫy được. Hiểu được 2 thí dụ trên tất sẽ dùng được nguyên tắc để xét đoán, Kim nào khắc Mộc nào là được việc, và áp dụng về Kim, Mộc như sau: kỳ cố hà dư, như Kim khắc Mộc, vô Kim bất thành Mộc (tại sao như thế, sắt là thứ khắc Mộc, mà không có sắt thì Mộc lại không thành). Vậy nên suy ra chẳng hạn như Kim mà khắc Mộc tang giá, hay là Mộc rau muống, ấy là Mộc chiết, mà còn hết luôn đời vậy.
Mạnh hành và tinh đầu hành
Trên đây là một định luật chung cho ngũ hành, nên đã phân định được, hoặc sao chính tinh, hay là một sao nào hợp với hành của Mạnh, thời nên xét đoán xem sao đó đối chiếu với hành của bản Mạnh sinh khắc ra sao, để luận trình độ nhiều ít về xấu tốt. Nếu Mạnh và sao cư Mạnh đồng một hành với nhau, thời ông sao đó mới chính là của mình, tức là của Mạnh. Người có sao cư cung Mạnh cùng với một bản Mạnh, nên không bị khắc chế bởi hung sát tinh mà còn được các điều phù trì, tất sẽ hưởng danh tài hưng vượng, và đức tính mới chính là bậc quân tử, có thể hoàn toàn tin cậy, không thể có tâm hồn xảo trá tiểu nhân được.
Vì sao cùng một cách mà một đời khác nhau
Về Đẩu Số có 14 chính tinh luân chuyển trên 12 cung mà thôi, cái khó khăn là ở chỗ đó, vì trong 12 cung chỉ có 3, 5 cung là vô chính diệu, còn các cung kia không sao này thời sao kia; 1 ngày 1 giờ, trong một quốc gia nhỏ bé này cũng sinh sản ra bao nhiêu trẻ em, mà những người đạt phú quý và tri thức song tâm hồn phúc thiện ích quốc lợi dân lại là phần khác, nên trước mặt nhà lý số, có kể đâu là Tử Vi cư Ngọ, Thiên Phủ lâm Tuất, Thất Sát Dần Thân, Phá Quân Tý Ngọ mà bảo nhất hô bá mặc, cự phú, đôi kim tích ngọc, hay tứ phương cũng phục anh hùng — trái lại còn cười thầm, và biết đây là ông tướng đủ thứ, hay là chủ cai thầu đó thôi.
Nên nguyên lý của Đẩu Số, đều phải nhất luật quay tròn xoáy chặt vào Can Chi, mà vòng Lục Thập Hoa Giáp là minh chứng tỏ tường, định sẵn cái Hành nhất định của tuổi sinh, không một nhà thuật số nào chối bỏ được — cứ 60 năm tinh tú mới chuyển hết 1 chu kỳ, nên cũng Tử Phủ Vũ Tướng, mà người này phúc hậu, kẻ khác lại gian trá, nên nhà Tử Vi học có nhiều cách phê số thâm sâu, mà người hậu học và người có số không hiểu chi cả. Thí dụ như: thoát khí chi đồ, hay là cẩu thâu vị miễn — tức là kẻ lột áo người, hay là mình sẽ bị lột áo; hay là chó cắn gãy gối, chó cắn rách áo, chó cắn trộm, phải chăng là khất cái chi đồ, hay là loại đạo chích cũng vậy. Trên đây là những định lý riêng về ngũ hành thuộc bản Mạnh, quy luật sinh khắc của các sao nên xem ở mục tinh đẩu.
Âm dương lý
Sau khi đã định được ngũ hành thuộc bản Mạnh, tiếp đến nên nhận xét, xem đương số thuộc Âm Dương nam nữ để phân định các tam hợp cục, xem các sao cư chiếu ở các cung tam hợp, thuận nghịch cho một lá số ra sao. Về âm dương lý này, ta nên biết, 1 thí dụ khái niệm như con người, kẻ thuận tay mặt tất vị tay mặt sẽ tiện cho công việc hơn, kẻ thuận tay trái thì tay trái sẽ đắc lực hơn, và như khoa học Tây phương đã chứng minh, ai thuận tay nào nên để người ấy làm việc tay ấy, vì do ảnh hưởng cả bộ thần kinh tại óc, đã linh diệu về phía ấy hơn, trái nghịch với sự xếp đặt thiên nhiên đó, sẽ bị kém nhạy cảm.
Nguyên lý phân định âm dương: xét về đường đi thuận nghịch, vãng phản của đường Tiên Thiên và Hậu Thiên xuyên qua 2 cung Thìn Tuất, và 2 cửa ngõ đóng mở là 2 cung Mão Dậu, để sinh sinh hóa hóa, thành các cá biệt ngũ hành, đã tựu thành sự phân chia thuận nghịch của các tam hợp cục; thí dụ như Thân Tý Thìn là 1 tam hợp cục, đối với người Dương nam Âm nữ, thì phải khởi từ cung Thân, tới cung Tý, tới cung Thìn là nơi cuối cùng, cũng như một người đã về tới nhà mình vậy. Đối với người Âm nam Dương nữ, thì nghịch lại, phải khởi từ cung Tý tới Thân và khi tới Thìn cung là nơi cuối cùng — đấy là sự định lý âm dương, của 2 chữ Âm và Dương đã ghi trong cung Thiên Bàn mà ta thường không quan tâm tới.
Mạnh cung tương quan phương vị quy lý âm dương: vì quy luật Âm Dương, nên cung Mạnh sẽ rất quan trọng đối với cách giáp, và ngay khi chỉ có một sao ở hai bên cung Mạnh. Thí dụ Mạnh ngồi cung Dần, có sao Địa Kiếp cư cung Sửu: người Dương nam Âm nữ khởi thuận hành, nên mặt quay sang cung Mão, thì sự tác hại của Địa Kiếp sẽ nhẹ, vì Địa Kiếp ở sau lưng. Song với người Âm nam Dương nữ, khởi nghịch hành, ví như trước mặt lúc nào cũng có tên côn đồ ám hại mình vậy, cho nên duy chỉ có một Địa Kiếp mà cuộc đời vẫn bị nhiều khổ hạnh.
Tam hợp cục liên hệ âm dương: ba cung Mạnh Tài Quan bao giờ cũng ở trong một tam hợp cục, nên Âm Dương quy lý vào tam hợp cục cùng 1 quy luật. Thí dụ đối với người Dương nam Âm nữ, tam hợp cục Thân Tý Thìn, Mạnh ngồi cung Tý, hung sát tinh cư cung Thân, sẽ nặng tai vạ hơn là hung sát tinh cư cung Thìn, vì bọn hung sát kia sẽ đi từ cung Thân tới cung Tý của Mạnh; nhưng nếu hung tinh cư cung Thìn, thì tai họa sẽ sơ qua thôi, vì hung sát tinh ở vào điểm cuối cùng của một tam hợp cục.
Lưu niên vận hành, đại tiểu hạn: đã hiểu được Âm Dương quy lý vào Mạnh cung, và các tam hợp cục của Âm Dương nam nữ, nặng nhẹ ra sao, thì việc lưu hạn tới cung đại hạn, tiểu hạn và nguyệt nhật hạn, thời cũng 1 nguyên tắc. Không những các cung đại hạn, niên, nguyệt, nhật, thời phải xét cung nào nặng, cung nào nhẹ, nhất là khi lưu vòng sao Tràng Sinh, là đại diện cho gia đình gồm toàn thể các thứ bậc, vòng sao Thái Tuế và vòng sao Lộc Tồn, thấy các sao thiện ác của các vòng sao này, ở trong các cung tam hợp với cung đại diện cho một hạn (thí dụ đại hạn cư cung Ngọ) thời phải quy lý Âm Dương, để phân định hai cung Dần và Tuất xem cung nào hệ trọng, cho nên cũng hung sát tinh ở tam hợp chiếu mà hạn nhẹ, cũng hung sát tinh cư ở tam hợp chiếu, mà hạn trở tay không kịp, là do lý Âm Dương cả.
Nên vì lý Âm Dương mà phân biệt được Mạnh cư cung nào, thì tay mặt ở cung nào, tay trái ở cung nào, đối chiếu các sao tượng hình tính thân thể con người, mà toán ra được các cơ quan tỳ vết, hình thương hay ám tật. Thí dụ Mạnh ngồi cung Tuất: cung Dậu là tay mặt, cung Hợi là tay trái. Mà sao Phượng Các là tai của con người, nếu Phượng Các ở cung Dậu bị Hình, Kiếp, tức là tai bên mặt sẽ bị tỳ vết. Một thí dụ sao Phượng Các là tai cho tất cả các sao hình tượng thân thể con người, nên khi nghi ngờ giờ sinh không đúng, muốn kiểm chứng Tử Vi với đương số, đã có cung Mạnh và cung Tật Ách để so sánh, tất không thể nào di dịch được.
Đẩu số tương quan tướng học: cũng như khoa xem tướng, nhà tướng học trông thấy tai phải một người nào đó có tỳ vết, tất biết ngay cha mẹ của người ấy phải có thời gian phá bại, tùy thuộc thời gian mà tai là tượng trưng. Vì đối với tướng học, tai phải thuộc Mộc (tượng thời gian từ 8 tuổi tới 14 tuổi), tai trái thuộc Kim (tượng thời gian từ sơ sinh tới 7 tuổi). Như vậy là Kim khắc Mộc, hơn nữa tai là cơ quan để xem về sự thụ hưởng phúc đức, vì nhĩ giả ỷ dã.
Công thức âm dương: đối với Mạnh Thân cư cung Âm và cung Dương, sự phân định của quy luật Âm Dương lý, đối với một lá số cần thiết như thế nào qua các thí dụ trên. Ngược lại như thường thấy sinh Dương hiềm Mạnh cư Âm vị (cung Âm), sinh Âm hiềm Mạnh cư Dương vị (cung Dương), hay là Mạnh cư cung Âm mà Thân cư cung Dương, cho nên số bị triết giảm xấu, thời thiết tưởng không phải là lý Âm Dương nữa, vì Tử Vi học phải liên hợp cả năm tháng, ngày giờ sinh, mới có một độ số Tử Vi ở tại cung nào, ngay như một người sinh Dương, Mạnh cư cung Dương, hay sinh Âm, Mạnh cư cung Âm, cũng còn phải xét đoán xem cung Âm hay cung Dương kia có miếu vượng hay bị khắc hãm — như vậy tại sao lại sinh Dương Mạnh cư Âm, hay sinh Âm Mạnh cư cung Dương, là khắc chế, là xấu, thì thật Tử Vi đã tự mâu thuẫn vậy.
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
