Sao Thất Sát - Tử Vi Tinh Điển
Bản chất hỏa hoa chi kim của sao Thất Sát, bốn thế đứng, cách hợp nhất với Tử Vi hóa Sát vi Quyền, các vị trí hãm địa cùng loạt câu phú luận riêng cho từng cung vị.
Thất Sát trong hệ Nam Đẩu, thuộc âm Hỏa âm Kim, còn gọi là "hỏa hoa chi kim" — như sắt nung đỏ bắn ra những hoa lửa, chủ về sinh sát, tính chất của một thượng tướng. Hỏa hoa bắn tung ra ngoài, nhưng âm Kim lại nội liễm, cho nên tâm tính vừa âm trầm vừa dễ giận dữ.
Trong Tử Vi khoa, Thất Sát được coi là hung sát tinh. Bất luận số đẹp hay xấu, hễ đã có Thất Sát vào Mệnh hay Thân thì tất phải trải qua những chuyện hung hiểm, hoặc có một thời gian bị lắm chướng ngại. Sách viết: "Nhị cung phùng chi định lịch gian tân" (Mệnh Thân có Thất Sát phải nếm trải gian nan, tân khổ).
Một khi có Thất Sát phủ Mệnh, phải xem kỹ những vận hạn — nếu vận tốt đến càng sớm để thành công sớm thì hậu vận lại tối tăm với thất bại. Thiếu niên đắc chí ắt lúc bị thất ý ảnh hưởng đến hết đời. Nếu tuổi trẻ bôn ba chìm nổi, đến trung niên mới phát đạt, thì nhờ kinh lịch đã thâu lượm như thanh gươm tôi luyện kỹ rồi — sự phát đạt ấy mới hay.
Bốn thế đứng của Thất Sát
Thất Sát có những thế đứng kể sau: đơn thủ ở Dần, Thân, Tí, Ngọ và Thìn, Tuất; với Liêm Trinh nơi Sửu, Mùi; với Tử Vi ở Tị, Hợi; với Vũ Khúc ở Mão, Dậu.
Vấn đề hãm địa: Mão Dậu và Thìn Tuất
Sách viết: "Thất Sát cư hãm địa trầm ngâm phúc bất vinh." Hãm cung cho Thất Sát là Mão Dậu và Thìn Tuất, nhưng đáng ngại là Mão Dậu gọi bằng cách "Sát hãm Chấn Đoài" (Chấn là Mão, Đoài là Dậu).
Lý luận cho rằng Thất Sát không có hãm địa là sai. Vũ Khúc Thất Sát ở Mão Dậu mà đứng cùng hung sát tinh, rồi lại gặp vận có lưu hung sát tinh, thì tai họa không nhỏ, phần lớn do sự lầm lỡ của chính mình mà ra. Vũ Khúc Thất Sát chỉ nên dựa vào nghề nghiệp mưu sinh an thân, tham vọng lắm thêm phiền. Thất Sát vốn ưa vẫy vùng, nhưng ở Dậu Mão hãm chẳng khác gì con cá trong chậu, quẫy cựa lắm cũng thế thôi, đôi khi còn sinh nguy hiểm. Nếu như có được Hỏa Tinh, Tham Lang thì sự đắc ý không bền, nay được mai mất.
Thất Sát hợp nhất với Tử Vi
Thất Sát hợp nhất với Tử Vi (đã nói ít nhiều trên phần Luận về Tử Vi). Sách viết: "Tử Vi Thất Sát hóa Sát vi Quyền." Thất Sát đóng Dần, cung xung chiếu trên cao là Tử Vi Thiên Phủ; Thất Sát đóng Thân, cung xung chiếu ở dưới có Tử Vi Thiên Phủ, gọi bằng cách "Thất Sát ngưỡng đẩu" hay "Thất Sát triều đẩu".
Thất Sát khi đã biến thành Quyền rồi, không nên hội tụ với Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phượng Các — vì đã xung sát thì xung sát luôn, đứng lẩn quẩn văn vẻ làm gì, nửa văn nửa võ thành nửa mùa, tất hành động mâu thuẫn và thành công kém ác liệt.
Thất Sát đã gặp Tử Vi để hóa vi Quyền rồi thì không nên thấy Hóa Quyền nữa — sẽ vì thế mà quyền lực quá nặng, thành ra con người cô khắc, quan hệ giao tế sinh lắm kẻ thù; càng không nên thấy Hỏa Tinh, quyền lực khốc liệt khiến cho kiêu căng mà lắm nguy hiểm, thân phận lưu ly, lúc thân ghẻ lạnh, không ai muốn khuông phù — dù có sự nghiệp thật đấy, nhưng đầy gian nan và lúc về già cô quạnh.
Thất Sát một khi hóa thành Quyền, lại rất cần gặp Hóa Lộc, Lộc Tồn, Tả Hữu, Khôi Việt — có Tham Lang đứng với Hóa Lộc càng tốt; còn như Tham Lang đứng với Linh Tinh thì phải trải thiên ma bách chiết mới thành công.
Cổ nhân luận Thất Sát thủ Mệnh cho rằng sao này đóng ở bốn cung Dần, Thân, Tí, Ngọ kể làm thượng cách — ở Dần với Thân là "ngưỡng đẩu" với "triều đẩu", ở Tí Ngọ thì gọi bằng "Hùng tú Càn nguyên cách". Hai ông Ngô Cảnh Loan và Vương Đình Chi đưa ra luận cứ đáng chú ý: "Thất Sát Ngọ mới đúng hùng tú càn nguyên; Thất Sát ở thủy cung Tí là phá cách" — vì Thất Sát vốn thuộc Hỏa Kim; và nói thêm "Liêm Trinh Thất Sát đóng Mùi cũng kể là hùng tú càn nguyên". Như vậy thay vì Dần Thân Tí Ngọ, nay theo hai ông là Dần Thân Ngọ Mùi.
Thất Sát tại Ngọ và quan hệ với Liêm Trinh
Thất Sát tại Ngọ, cung Phúc Đức có Liêm Trinh — Liêm Trinh là âm Hỏa nung nấu, rèn đúc âm Kim của Thất Sát. Hai ông còn cho rằng Thất Sát không nên gần văn tinh tại Mệnh hay tam hợp chiếu, nhưng lại rất cần có văn tinh ở Phúc Đức — nhờ những văn tinh (Xương Khúc, Long Trì, Phượng Các, Hóa Khoa) đóng Phúc Đức làm che giảm ngọn lửa Liêm Trinh thì cuộc đời ít gian nan. Riêng ý này còn thấy điều Thất Sát đóng Tí không bằng đóng Ngọ.
Bản chất và so sánh với Cơ Lương
Thất Sát âm Kim âm Hỏa, Kim bị Hỏa luyện, tính tình dũng mãnh, cương cường, là con người của hành động, chủ động, làm việc tích cực. Bởi vậy Thất Sát mới được coi làm tướng tinh.
So với Thiên Cơ Thiên Lương thì Cơ Lương mang khuynh hướng tư tưởng, lý thuyết, trong khi Thất Sát xông pha, chấp hành. Thất Sát chỉ huy, lãnh đạo; Cơ Lương thừa hành. Thất Sát điều khiển; Cơ Lương vẽ kế hoạch. Bởi vậy cuộc đời Thất Sát thường có những nút chuyển biến dữ dội, triệt để — lên thật cao và xuống thật thấp, tùy theo vận hay dở.
Thất Sát vào nữ mệnh
Người xưa e ngại Thất Sát vào nữ mệnh. Có những câu ca:
Nữ mệnh sầu phùng Thất Sát tinh
Bình sinh tác sự quả thông minh
Chí cao khí đại vô nam nữ
Bất miễn hình phu lịch khổ tân. (Đáng buồn khi số gái có sao Thất Sát, làm việc thông minh tháo vát, tham vọng nhiều và xông xáo như con trai — khó tránh được chuyện khắc chồng và phải bôn ba vất vả.)
Thất Sát cô tinh Tham tú phùng
Hỏa Đà tấu hợp phi vi quý
Nữ mệnh đắc thử tính bất lương
Chỉ hảo cô phòng vi tì thiếp. (Thất Sát cô thần gặp Tham Lang, gặp thêm Đà La Hỏa Tinh thì ắt không quý — số nữ tính bạc bẽo, liều lĩnh, đưa đến khắc hại chồng, làm thiếp hầu.)
Thất Sát Dần Thân nữ mệnh phùng
Ác sát gia chi dâm sảo dung
Cánh phùng cát hóa chung bất mỹ
Tì thiếp thị phụng chủ nhân ông. (Thất Sát tại Dần Thân mà số nữ có kèm sao hung nữa là người nhan sắc, tính tình khéo nhưng xảo — dù gặp cát tinh cũng chưa hẳn là đẹp, ắt phải có bận khắc phu.)
Đời trước cổ nhân sợ người đàn bà sắc sảo, tháo vát, xông xáo, tự lập nên mới đưa ra những câu phú trên. Thời nay không thể câu nệ vào những câu phú cổ hủ ấy nữa — nữ mệnh Thất Sát bây giờ đều là những người đàn bà thành công, làm việc giỏi; chỉ cái chuyện khắc phu thì vẫn vậy thôi.
Có một điều khá chính xác: Thất Sát tại Mệnh nữ đi cùng Đào Hoa, Hỏa Tinh không ai không bạc tình. Thất Sát vào cung Phúc Đức của số nữ, tình duyên không ai không lận đận, nhỡ nhàng. Bởi vậy mới có câu phú: "Thất Sát đan cư Phúc Đức nữ nhân thiết kỵ tiện vô nghi" (Thất Sát một mình ở cung Phúc Đức, số nữ lao đao vất vả, dễ rơi vào tình trạng lẽ mọn).
Liêm Sát tại Sửu, Mùi — bàn về "lộ thượng mai thi"
Bàn về câu "Thất Sát Liêm Trinh đồng vi lộ thượng mai thi" (Thất Sát đồng cung với Liêm Trinh thủ Mệnh lúc chết chôn bên đường): Thất Sát Liêm Trinh chỉ đóng cùng ở hai chỗ Sửu và Mùi. Trong khi Thất Sát ở Mùi cung đã được coi làm cách tốt "hùng tú càn nguyên", tại sao còn có câu này?
Các nhà số học Trung Quốc lập luận: "Liêm Sát đồng vị chỉ gặp hung nguy khi đóng tại Sửu thôi, còn Mùi cung thì không", và phải có những sát tinh như Kình Đà Hỏa, Hóa Kỵ thì mới đi tới chỗ "lộ thượng mai thi" — mà lộ thượng mai thi không hoàn toàn cứ phải vùi thây bên đường, ý bóng của nó là cái chết bất chợt, cái chết không ở trên giường bệnh hay ở trong nhà; hoặc chết như một nhà chính trị bị ám sát, hoặc chết như một tên ăn cướp bị bắn giữa đường. Vấn đề là cân đo những hung sát kỵ tinh nặng nhẹ mức nào.
Số Liêm Sát không bị hung sát kỵ tinh tất nhiên không "lộ thượng mai thi". Một điều chắc chắn: hễ đã số Liêm Sát dù ở Sửu hay Mùi thì cũng phải có cuộc sống của kẻ phiêu lưu, hoặc có một chút khác thường. Nếu đem hai câu viết ở mục Trú giải Thái Vi phú — "Thất Sát Liêm Trinh lưu đãng thiên nhai" (Mệnh có Liêm Sát sống nơi chân trời góc biển) và "Thất Sát Liêm Trinh đồng vị lộ thượng mai thi" — thì cái lý nó gần gần nhau: đã chân trời góc biển, làm sao còn chết ở quê nhà?
Ngoài ra Thất Sát Liêm Trinh mà đóng Thiên Di (tất nhiên thủ Mệnh là Thiên Phủ Mùi hay Sửu), nếu Thiên Phủ bị Tuần Triệt hay gặp hung sát tinh cũng gặp cái chết của đồng vị Liêm Sát đã nói trên.
Thất Sát tại Thìn, Tuất
Sau hết là Thất Sát ở hai cung Thìn Tuất. Thìn là Thiên La, Tuất là Địa Võng. Thất Sát là sao của hành động, không dễ thích ứng, không dễ thuận tòng như Liêm Phủ vào hai cung ấy — vì Thiên Phủ Liêm Trinh mềm dẻo, biết theo thời thế, biết đứng vào hàng lối. Do đó Thất Sát Thìn Tuất kể như hãm địa, do sức ép của Thiên La Địa Võng, và do sức tranh thoát dữ dội của Thất Sát.
Thất Sát Thìn Tuất ý chí kiên cường, có chủ kiến và độc lập tính, nhưng phải trăm cay ngàn đắng mới thành tựu nếu được cát tinh phò trợ; còn như quá nhiều hung sát tinh vây bọc thì chỉ nên học một xảo nghệ mà an thân. Vì đối cung là Liêm Phủ, cho nên hung tinh đáng ngại nhất cho Thất Sát Thìn Tuất là sao Hóa Kỵ đứng đối cung — đó là giảm hẳn khả năng thích ứng thuận tòng, chỉ còn bất mãn phẫn nộ, tất nhiên sẽ cực hơn.
Về sao Thất Sát lâm Thân có hai câu phú hầu như mâu thuẫn: "Thất Sát lâm Thân chung thị yểu" và "Thất Sát cư Thân hưởng đắc an toàn chi phúc." Yểu hay Phúc chỉ là vấn đề hãm hay đắc địa mà thôi, ngoài ra còn phải xem thêm các hung sát kỵ tinh nữa mới định cho rõ được.
Những câu phú khác về sao Thất Sát
Thất Sát cư Quan đắc vị uy áp vạn nhân. Thất Sát đóng Quan Lộc đắc địa, uy quyền — uy quyền gồm vị thế và oai nghiêm, chỉ huy mật vụ đắc lực.
Thất Sát phùng Thái Tuế trí dũng hữu dư. Thất Sát đi bên Thái Tuế vừa dám làm vừa giỏi liệu công việc.
Sát Phá hỉ trợ Kình Dương. Thất Sát Phá Quân có Kình Dương trợ, thành công mau, phát mạnh, nhưng nhiều nguy hiểm, ví như người cưỡi cọp.
Thất Sát thủ tha tài vi kỷ vật. Thất Sát tinh tấn lướt được đằng chân lấn đằng đầu, lấy của người làm của mình.
Thất Sát Phá Quân nghi xuất ngoại, chư ban thủ nghệ bất năng tinh. Mệnh Thất Sát hay Phá Quân nên làm nơi xa, có nghề nhưng không giỏi tay nghề lắm — chỉ vào Thất Sát Phá Quân hãm.
Thất Sát trùng phùng tứ sát, yêu đà bối khúc trận trung vong. Thất Sát hãm thêm Hỏa, Linh, Không, Kiếp thì dễ có tật trên người, thường gặp nguy hiểm nơi trận mạc.
Thất Sát Hỏa Dương bần thả tiện đồ tể chi nhân. Thất Sát hãm thủ Mệnh gặp Kình Dương, Hỏa Tinh chỉ chuyên ăn người và hung bạo, cũng không nên danh phận được.
Thất Sát thủ chiếu, tuế hạn Kình Dương, Ngọ sinh nhân Mệnh an Mão Dậu chư hưng vong. Thất Sát thủ hay chiếu Mão Dậu, niên vận gặp Kình Dương, người tuổi Ngọ gặp một ngã rẽ thay đổi cuộc đời mình.
Sát Kình tại Ngọ, mã đầu đới tiễn, tương giao sát điệu, Bính Mậu nhân mệnh vị nan toàn. Mệnh Thất Sát Kình Dương ở Ngọ, gặp vận nhiều sát tinh, người tuổi Bính Mậu nguy đến tính mạng.
Thân phùng Sát Phá Liêm Tham, hạn lâm Địa Võng Hình Khôi sát điệu Kỵ Đà xâm nhập, Thục gia trường nội, Dực Đức mệnh vong. Cung Thân có Sát Phá Liêm Tham hội tụ, đến vận hạn vào cung Địa Võng (Tuất) có Hóa Kỵ, Đà La, Thiên Hình, Thiên Khôi, như ông Trương Phi bị ám toán chết ngay trong trướng phủ.
Sát cư Ly Khảm nam nhân, thê hiền đa hội; mạc ngộ Kiếp Riêu, ố phụ ái cô thân. Nữ mệnh trai oán hồng nhan nan tự chủ. Thất Sát thủ Mệnh Ngọ, số trai gặp vợ hiền, nhưng nếu có Địa Kiếp, Thiên Riêu thì lại thích sống độc thân; còn mệnh nữ thường oan trái, rơi lệ vì tình.
Sát phùng Hình Hổ hãm tại tử cung thai lệ chi ai. Sát gặp Thiên Hình, Bạch Hổ ở cung Tử Tức, đến già chưa thấy tay bồng con thơ.
Sát Phá Tham tại Nữ mệnh nhi ngộ Văn Xương ư Tân Đinh Tuế sương phụ chi nhân. Mệnh Sát Phá Tham, gặp sao Văn Xương, người nữ tuổi Tân, Đinh thì góa chồng hoặc ly phu.
Sát Phá Tham tại phối cung đắc Quyền Lộc Khúc Xương mệnh phụ chi nhân; Quý tuế ưu phùng Cô Quả, quả phụ chi nhân. Cung Phu có Sát Phá Tham đắc địa hội Hóa Quyền, Hóa Lộc thì lấy chồng quyền chức cao, làm mệnh phụ; nhưng tuổi Quý mà thấy thêm Cô Thần, Quả Tú thì lại thành quả phụ.
Sát Riêu cư hỏa địa nữ nhân ba đào xuất hải, phùng Quyền Lộc tham bác chi nhân. Thất Sát Thiên Riêu thủ Mệnh ở Tị hay Ngọ, đàn bà có cuộc sống lênh đênh, được Quyền Lộc thì sành sỏi thành công, gây cơ dựng nghiệp.
Sát Hình tọa cùng Liêm trực vô tư. Mệnh Thất Sát hội chiếu Thiên Hình hoặc đồng cung là người liêm khiết, chính trực.
Mệnh vô chính diệu, hạn ngộ Trúc La Đào Hồng, Suy Tuyệt, Khổng Minh nan cầu trường thọ. Mệnh không chính tinh, vận đến Trúc La; Sát Phá Tham với Đào Hoa, Hồng Loan và Suy hay Tuyệt, như Khổng Minh có lập đàn cúng tế vẫn khó thọ.
Sát Phá Liêm Tham tam kỳ gia hội lai triều, Hồng Hình Tả Hữu uy danh nhất thế chi nhân; phùng Kỵ Không Triệt chung thân tác sự nan thành. Sát Phá Liêm Tham đắc địa hội tụ vào Mệnh cùng với Khoa Quyền Lộc, Hồng Loan, Thiên Hình, Tả Hữu là người uy danh lừng lẫy; nhưng hễ bị Tuần Triệt, Hóa Kỵ thì làm việc gì cũng chẳng nên, vì làm toàn chuyện lớn lao mà không có phận.
Thất Sát đan thủ Mệnh viên vô khả cứu trùng lâm chi hạn. Thất Sát Thìn Tuất, vận lại gặp Thất Sát thì khó tránh tai ương, thất bại.
Mấy người thủy ách, hỏa tai
Sát Liêm ngộ Hỏa, Riêu ngồi Kỵ Tham. (Sát Liêm gặp Hỏa Tinh hay bị nạn cháy nhà. Thiên Riêu gặp Hóa Kỵ, Tham Lang dễ vướng nạn sông nước.)
Dần Thân Sát Kỵ trùng gia
Thương chiêu đả mạ thật là gian truân. (Cung Dần Thân, Thất Sát đứng cùng Hóa Kỵ, thường bị đẩy đưa vào những chuyện gây gổ, đánh chửi nhau phiền toái.)
Sinh con điếc lác ngẩn ngơ
Bởi cung tử tức Sát Đà Kiếp Không.
Sát phùng Phù Hổ hay đâu
Dã Tràng thưa ấy âu sầu ngục trung.
Ngôi cao chức trọng công hầu
Mệnh Thân Sát Phá ở đầu Ngọ cung.
Liêm tại Mùi đứng cùng Thất Sát
Tính cang kiên tài cán đảm đương
Được thêm Kỷ Ất sinh nhân
Anh hùng trí dũng mười phần khá khen.
Sát Kình ở tại Ngọ cung
Tai ương chìm nổi luôn trong cuộc đời
Nhưng Giáp Kỷ là người cái thế
Bậc anh hùng địa vị thênh thênh.
Kìa nữ mệnh Đinh Tân hai tuổi
Sát Phá Tham lại hội Văn Xương
Ấy là góa bụa đáng thương
Nếu không cũng chịu dở dang duyên tình.
Thất Sát phùng Dương Đà ư Tật ách tàn tật chi nhân. Thất Sát gặp Kình Dương, Đà La ở cung Tật Ách tất có tật thương.
Thất Sát lưu niên Bạch Hổ hình lục tai truân. Thất Sát hãm thủ Mệnh, lưu niên gặp sao Bạch Hổ tất bị kiện tụng, cò bót.
Thất Sát lâm Thân Mệnh, lưu niên Hình Kỵ tai thương. Thất Sát vào Thân Mệnh, lưu niên có Thiên Hình, Hóa Kỵ gặp tai nạn thương tích.
Sát lâm Tuyệt địa hội Dương Đà Nhan Hồi yểu triết. Sát đứng với sao Tuyệt gặp Kình Đà thì không thọ.
Thất Sát Phá Quân chuyên ỷ Dương Linh chi ngược. Thất Sát Phá Quân hãm địa thủ Mệnh gặp Kình Dương, Linh Tinh thì cuộc đời khó khăn chướng ngại, dễ thành dễ bại.
Cung Tị ấy Sát là đẹp quá
Nếu mà Tuyệt Hóa cùng ngồi
Ấy phường tàn nhẫn đó thôi
Ấy phường khát máu tanh hôi sá gì.
Thìn Tuất Thất Sát xem qua
Kình Hình hội ngộ ắt là đảo điên.
Nguồn: Tử Vi Tinh Điển – Vũ Tài Lục
