Bài tổng quan
Mười ba thế xấu của Thái Ất qua những biến cố xưa
Năm Giáp Ngọ, 207 trước Công nguyên, Thái Ất và Thủy Kích đứng chung một cung, và đúng năm ấy Triệu Cao giết Hồ Hợi khiến nhà Tần chao đảo. Người xưa đem từng thế xấu của bàn sao đặt cạnh từng biến cố có thật để xem lời đoán ứng đến đâu. Có năm vua mất, có năm thành mất, và có năm chỉ cần một cung đối diện là cả triều đình đổi chủ…
Một năm mà Thái Ất đứng cạnh Thủy Kích, hai Đại Tướng chặn nhau, Văn Xương bị đẩy ra ngoài cung, thì trên bàn Thái Ất đã có đủ dấu hiệu của một năm xáo động. Người xưa không chỉ đặt tên cho từng thế xấu mà còn đem từng thế ấy so với những biến cố có thật của nhiều triều đại, để xem lời đoán nào ứng, lời đoán nào lệch. Mười ba thế xấu ấy lần lượt hiện ra như sau.
Ếm: kẻ mạnh che khuất người dưới
Ếm là thế âm thịnh, dương suy, tức dương bị âm đè. Nó tượng cho cảnh vua yếu bề tôi mạnh, vua tôi đều không nghe lời người trung lương, hoặc kẻ trên hiếp kẻ dưới như mặt trời bị mây che kín. Đi kèm với thế này thường là chém giết, đánh úp, ôn dịch, hạn hán, kỷ cương đổ nát, trộm cướp và bạo loạn. Khi Thủy Kích đóng cùng cung với Thái Ất thì gọi là Ếm, và năm tính Kể gặp thế này được coi là hung bạo vô cùng.
Năm Giáp Ngọ, 207 trước Công nguyên, bàn Thái Ất của năm ấy rơi vào nguyên thứ tư. Thái Ất và Thủy Kích cùng đứng ở cung Cấn, số ba, nên thành Ếm. Đại Khách cũng đến cùng cung với Thái Ất nên thành Tù. Tham Chủ ở cung Tý, số tám, thành Ép. Mắt Định, tức Kể Mục, nằm ở Khôn là Cách, còn Văn Xương ở Thân cũng là Cách. Bên khách và bên chủ lại tù hãm, chặn nhau, toán chủ chỉ mười sáu, toán khách chỉ ba, không có địa. Cả cung lẫn tướng đều xấu cùng lúc.
Năm ấy ở nước Tần, Triệu Cao giết Hồ Hợi, con của Tần Thủy Hoàng, rồi lập Tử Anh lên thay. Nhà Tần từ đó suy sụp, Hạng Vũ đánh bại quân Tần trên chiến trường, rốt cuộc chính Triệu Cao cũng bị giết. Người xưa coi đó là minh chứng cho chữ Ếm: kẻ cầm quyền bị người sát bên bóp nghẹt, rồi kẻ bóp nghẹt cũng không giữ nổi thân.
Ép: kẻ sát bên cung Thái Ất
Có thế xấu đến từ chỗ xa, có thế xấu đến từ chỗ gần, và khi nó đứng sát bên Ất Cả thì nó là con dao kề cổ.
Ép là sự bức bách, nắm giữ, ứng với việc bất nghĩa: trên không giữ đạo, dưới không giữ lòng trung chính, trên dưới đè ép nhau, bề tôi ép vua. Khi Văn Xương, hai Đại Tướng, hai Tiểu Tướng hoặc Kể Mục đứng ở bên trái hay bên phải sát cung Thái Ất thì gọi là Ép. Ép lại chia ra ép ngoài và ép trong. Nếu đứng trước Thái Ất thì là ép ngoài, báo có xâm lăng hoặc đại thần nghịch loạn từ ngoài tới. Nếu đứng sau Thái Ất thì là ép trong, báo có người cùng họ phản lại. Khi cả hai phía cùng ép thì âm mưu đến từ cả trong lẫn ngoài. Cung ép thì tai họa nhẹ, còn thần gián ép thì tai họa nặng và đến mau. Ép ở nơi khí rời hay khí tuyệt của dương thì là điều cực hung cho nhà vua.
Năm Tân Mão, 210 trước Công nguyên, Thái Ất ở cung Ngọ, số hai. Văn Xương nằm ở thần gián Mùi, chính là ngôi Thiên Đạo, đứng trước Thái Ất nên là ép ngoài. Đại Tướng chủ ở Tốn, số chín, là ép trong và ép cung. Tham Chủ ở Khôn, số bảy, cũng ép từ ngoài cung. Toán chủ là ba mươi chín, dương trùng. Toán khách là ba mươi mốt, dương trùng tạp.
Năm ấy Tần Thủy Hoàng, đã làm vua được ba mươi bảy năm, đột ngột ngã bệnh rồi băng ở Sa Khâu. Đình úy Triệu Cao cùng thừa tướng Lý Tư dựng con thứ là Hồ Hợi lên ngôi và ép chết con trưởng là Phù Tô. Loạn lớn bắt đầu từ chính cái chết ấy.
Chặn: hai hổ trong một rừng
Chặn, còn gọi là Bế, Tính hay Quan, là cảnh hai bên cùng chiếm một chỗ mà không bên nào nhường. Thế này thành khi bốn tướng chủ khách, lớn nhỏ, đều dồn vào một cung. Hoặc khi tướng khách đứng chung cung với Văn Xương, thành khách chặn chủ. Hoặc khi Văn Xương ở chung cung với Thái Ất. Hoặc khi tướng chủ đứng cùng cung với Thủy Kích, thành chủ chặn khách. Chặn ngăn nhau thì như hai cọp một rừng, hai rắn một hang, ai cũng phải canh phòng, kìm hãm, nên chỉ có thể giữ thế thủ, đề phòng, tránh làm điều phạm kiêng kỵ.
Gặp thế chặn, phải xem hai mắt Văn Xương và Thủy Kích đang vượng, tướng, hưu, tù, tử hay phế. Toán nhiều thì thắng, toán ít thì thua, toán hòa thì thắng, toán không hòa thì thua. Hai bên bằng số thì xem số đơn mười chín, hai mươi chín, ba mươi chín mà phân thế ngũ hành.
Năm Quý Hợi, 298 trước Công nguyên, Thái Ất ở cung Mão, số bốn. Văn Xương và Đại Khách cùng nằm ở Khôn, số bảy, toán chủ hai mươi lăm, thế cửa đóng. Thủy Kích ở Ngọ, toán khách hai mươi bảy. Khách chặn Văn Xương nên bên chủ bất lợi, còn khách có toán dài và hòa. Năm ấy nước Tần đem quân đánh nước Sở, nhưng sau cùng phải rút lui. Các Đại Tướng chủ, Tiểu Tướng chủ lại bay ra cung giữa, với toán chủ hai mươi lăm dài mà hòa, tức là đều không có lợi cho các tướng.
Tù: bị giam ngay trong cung
Tù là khi Thái Ất, các Đại Tướng, Tiểu Tướng chủ khách và Văn Xương cùng đứng một cung. Khi tướng chủ khách cùng cung với Thái Ất cũng là Tù, và nếu đứng ở nơi khí rời, khí tuyệt thì rất hung. Văn Xương mà đứng chung cung Thái Ất thì vừa tù vừa chặn. Năm tính Kể gặp thế này có nạn vua phải chạy, quân bại, đất sụp lở, không thể cất binh trong thời bình. Nếu cả bốn tướng cùng cung với Thái Ất thì vừa tù vừa ép, tượng của âm mưu. Nếu gặp cả chặn lẫn tù thì bất lợi cho bên chủ.
Năm Giáp Ngọ, năm Kiến An thứ mười chín đời Hán Hiến Đế, tức năm 214, Thái Ất vào cung Tý, số tám. Văn Xương cũng vào cung tám nên vừa tà vừa chặn, toán chủ tám, không có thiên. Đại Chủ đứng vào cung tám là Tù, là Ếm, toán khách mười bảy. Cùng năm ấy, Lưu Bị tiến vào Thành Đô, tự nhận chức châu mục, còn bên đánh trước thì chịu thiệt. Đó là ứng nghiệm câu chặn và tù đều bất lợi cho kẻ ra quân trước.
Kích: nhát dao từ hai bên
Kích là lời khích bác chen vào chỗ nghi ngờ, là nhát dao đâm vào lúc người ta tưởng đã yên.
Kích là nghĩa của đâm chém, tranh đoạt, xâm lăng, thao túng, dối trên và khích bác. Khi Thủy Kích ở bên trái hay bên phải sát Thái Ất thì là Kích. Nó đứng sau Thái Ất một thần gián thì là thần kích trong. Nó đứng sau Thái Ất một cung chính thì là cung kích trong. Nó đứng trước Thái Ất thì là kích ngoài. Kích ngoài là chư hầu lấn át, thần tử nghịch phản hoặc ngoại quốc xâm phạm. Kích trong là hai bên ghét nhau, trên lấn dưới, dưới xâm trên. Thần kích thì tai nạn đến nhanh, cung kích thì tai nạn đến chậm, và còn phải xét thêm toán cùng cung nơi ấy là khí rời hay khí tuyệt.
Năm Canh Thân, 241 trước Công nguyên, Thái Ất ở cung Khảm, tức Tý, số tám. Văn Xương ở Ngọ, toán chủ mười sáu, hòa. Thủy Kích ở cung Cấn nên là ngoại cung kích, kích theo thời. Toán khách ba mươi hai, không có địa, nhưng hòa. Đại Khách ở Ngọ đối cung với Thái Ất nên vừa cách vừa đối. Năm ấy năm nước chư hầu hợp binh đánh Tần, nhưng cả hai bên đều bại và bị đuổi chạy tán loạn. Người xưa coi đó là minh chứng cho chữ kích từ ngoài.
Cách: kẻ ngăn giữa đường
Cách là biến đổi, chống lệnh, trên dưới cách bức nhau. Khi Thủy Kích cùng hai Đại Tướng, Tiểu Tướng khách đứng ở cung đối diện với Thái Ất thì thành thế Cách, nghĩa là khách đứng chống chủ. Nơi khí rời, khí tuyệt thì rất hung. Nếu có thêm chặn mà hai bên đánh nhau thì chủ thắng. Toán không hòa thì chủ bại.
Năm Kỷ Dậu, 589, vào đời Trần Hậu Chủ, Thái Ất đứng ở Mão. Đại Khách ở Dậu là Cách, toán khách hai mươi sáu. Thái Tuế cũng đứng đối cung với Thái Ất. Thủy Kích vừa đến Thiên Đạo, tức cung Mùi, và Tham Chủ cũng nằm ở cung sáu, Dậu, nên cũng là Cách. Đại Chủ ở cung hai bị kích, toán chủ mười hai, hòa. Năm ấy quân nhà Tùy tràn xuống phương Nam, diệt nước Trần, bắt Trần Hậu Chủ.
Đối: hai lòng trong một triều
Đối là xung đột. Nó diễn tả cảnh đại thần có hai lòng, vua đuổi bề tôi trung lương. Khi Văn Xương cùng hai Đại Tướng, Tiểu Tướng đứng ở cung đối diện Thái Ất thì gọi là Đối. Văn Xương đối với Đại Tướng, Tiểu Tướng thì gọi là tự đối. Năm có thế Đối thì vua không được lợi điều gì, trong triều có gian thần, dễ có nạn vì sắc đẹp mà nghiêng ngả.
Năm Kỷ Hợi, 939, bên nước Việt, Ngô Quyền giết Kiều Công Tiễn, đánh bại quân Nam Hán rồi xưng vương đóng đô ở Cổ Loa. Năm ấy Thái Ất ở Tốn, Đại Chủ ở Kiền, đối nhau thẳng một đường. Sang năm Canh Tý, Thái Ất ở cung một, Văn Xương ở Tốn, cung chín, đối cung với Thái Ất, toán khách hai mươi lăm, toán chủ hai mươi bốn, hai bên tướng đều đóng cửa, không lợi. Vua nghe lời đại thần hai lòng, bốn phương nổi chiến trận. Khi gặp thế Đối hay Cách, nhà vua nên trừ kẻ gian, dùng người trung lương, cải tổ đường lối cai trị để dân yên, thì có thể biến họa thành phúc.
Cắp, dẫn cắp, nắm dẫn, dẫn cách
Dẫn cắp, còn gọi là Đề hiệp, là kẹp lấy, nắm giữ. Khi Văn Xương hoặc Thủy Kích đứng ở bên trái hay bên phải sát Thái Ất thì là dẫn cắp. Hai tướng chủ khách chặn ở hai bên Thái Ất cũng là dẫn cắp. Bốn tướng cùng hai mắt đứng ở cung chính cùng Thái Ất, hoặc ở thần gián, cũng là cắp. Bốn tướng cùng Thủy Kích đứng chung cung với Văn Xương cũng là dẫn cắp. Nắm dẫn, tức Chấp Đề, là khi Thái Ất cùng hợp với hai cửa Khai và Sinh. Dẫn cách, tức Đề Cách, là khi Thái Ất đối xung với hai cửa Khai và Sinh.
Năm Quý Tỵ, 213, Thái Ất ở cung Khôn, số bảy, cùng ở với Đại Chủ nên vừa bị kẹp vừa bị tù. Đại Khách ở Ngọ, cung hai, ép trong. Tham Khách ở Dậu, cung sáu, ép ngoài. Đó là cắp, đó là ép. Năm ấy Tào Tháo tự lập làm Ngụy Công, đem quân đánh Tôn Quyền nhưng không thắng nổi. Khi Thái Ất bị kẹp từ cả hai bên, bên nào ra tay trước cũng khó đạt ý, vì lúc cùng đường mà tiến thì dễ rơi thêm vào chỗ hiểm.
Bốn quách cố đỗ: thành đóng, cửa then cài
Bốn cơ không thông, tức đô ấp của vua, thành quách bốn phương và bốn cửa quan đều bị chặn, gọi là Tứ quách cố đỗ. Khi gặp thế này thì chỉ có thể cố giữ, tuyệt đối không động binh. Có ba trường hợp:
- Văn Xương bị tù ở cung Thái Ất, và Đại Tướng, Tiểu Tướng chủ chặn nhau.
- Thủy Kích đến cung Thái Ất, mà Đại Tướng, Tiểu Tướng chủ khách chặn nhau, một Đại Tướng chặn một Tiểu Tướng.
- Năm tính Kể có bốn thế cùng lúc: ếm, ép, chặn, cách.
Cả ba trường hợp đều bất lợi cho việc xuất binh. Phải giữ thành, còn việc đời gặp cảnh ngộ ấy cũng chẳng thành công. Năm Giáp Ngọ 207 trước Công nguyên, năm Triệu Cao giết Hồ Hợi, cũng chính là một năm gặp thế này. Người cầm quân gặp năm ấy mà vẫn xuất binh thì chẳng khác gì mở cửa thành cho kẻ địch.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
