Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Tào Tháo, Trương Lương và Tần Cối: những kiểu mưu lược giữa loạn thế

Đạo Học - Khuyên Thiện30/09/202613 phút đọc1 lượt đọc
Tào Tháo, Trương Lương và Tần Cối: những kiểu mưu lược giữa loạn thế

Có người nhẫn nại ngồi giữa bữa tiệc gươm đao mà không đổi sắc mặt, có người đốt kho lương của đối thủ để lật cả cục diện miền Bắc, lại có người chỉ cần đặt bút ký một bức thư xin hòa. Cùng sống giữa thời loạn, mỗi người dùng cái đầu của mình vào một việc khác hẳn, và cái giá thì dân chúng là kẻ trả...


Tào Tháo: người dựng nghiệp bằng cả gươm lẫn sách

Cuối đời Hán, khi mỗi châu có một kẻ tự xưng anh hùng, có người chọn cách nhìn lâu hơn mọi kẻ khác trước khi ra tay.

Từ nghĩa binh chống Đổng Trác đến thế cờ ba nước

Nhìn từ xa, Tào Tháo là một trong số ít nhân vật khiến người Trung Hoa vừa nể vừa sợ. Ông làm tể tướng nhà Hán, con trai Tào Phi sau này tôn ông làm Ngụy Vũ Đế. Công lớn nhất của ông là gom miền Bắc về một mối sau nhiều năm quân phiệt cát cứ, nhưng cái khiến ông ở lại trong ký ức đời sau lại rộng hơn nhiều: ông vừa cầm quân giỏi, vừa lo việc dân, vừa làm thơ hay.

Ông bước vào lịch sử bằng việc bán gia sản để dựng nghĩa binh chống Đổng Trác. Khi Viên Thiệu, người được giao cầm đầu cuộc dẹp loạn, còn do dự, ông đã ngồi tính lực lượng hai bên và tin chắc kẻ chuyên quyền phải thua, bởi hắn bức vua dời đô, đốt cung thất, làm lòng người tan nát. Kế hoạch tác chiến ông đề xuất không được dùng, nhưng đã cho thấy con người ấy nhìn xa thế nào. Về sau Đổng Trác bị Vương Doãn và Lã Bố trừ khử, ông tiếp tục đón vua trở lại, đánh bại Lã Bố, giữ kinh thành, và trở thành đại tướng được phép đi cùng vua khắp nơi.

Ông nhìn thiên hạ như một ván cờ ba nước đi. Trước hết dẹp Trung Nguyên: đối với Trương Tú thì dụ hàng, đối với Lã Bố và Viên Thuật thì ly gián cho họ tự đánh nhau, còn Lã Bố sau cùng bị vỗ về rồi trừ bỏ. Kế đến đánh Viên Thiệu, kẻ chiếm bốn châu, quân đông và có thế lực trong triều. Ở Quan Độ ông không thắng bằng số đông mà bằng cách đốt kho lương và đánh vào hậu cứ, đến khi các con của Thiệu tranh ngôi thì ông thừa cơ quét sạch, thống nhất miền Bắc. Cuối cùng ông xuống phía nam, và ở đây ván cờ dừng lại: liên minh Tôn Quyền và Lưu Bị, cộng với việc ông khinh địch ở Xích Bích, đã dẫn đến thế chân vạc Ngụy, Thục, Ngô. Ông mất khi bước cuối cùng chưa xong.

Văn võ, độ lượng và tàn nhẫn trong cùng một người

Ông cho lệnh chọn người theo tài chứ không theo xuất thân, giữ phép nước nghiêm, lập đồn điền, sửa thủy lợi, vỗ yên lòng dân. Ai từng đọc thơ ông đều biết ông là nhà thơ có hơi thở người lính: câu về con ngựa già nằm chuồng mà chí vẫn ở ngàn dặm còn được nhắc mãi. Sử sách chép ba mươi năm cầm quân mà sách vở không rời tay.

Nhưng cũng chính người ấy để lại vết máu lớn. Ông đàn áp quân Khăn Vàng, tàn sát dân vô tội ở Từ Châu để trả thù cha, giết những kẻ chống mình. Đau nhất là chuyện Hoa Đà: thầy thuốc ấy từ chối làm thầy thuốc riêng cho ông, bị bắt giam rồi giết, và những sách y thuật cao minh bị đốt, làm một phần nền y học Trung Hoa mất theo. Ông có câu nói bất hủ về chuyện thà ta phụ người, đủ cho thấy nỗi ích kỷ ẩn dưới vẻ hào phóng. Tuy nhiên, ông cũng thả Quan Công về với Lưu Bị vì kính lòng trung, bỏ qua mối thù với Trương Tú vì việc chung, và tự phạt mình khi ngựa dẫm hỏng ruộng lúa.

Người viết sách cân nhắc và thiên về cho rằng công của ông lớn hơn tội, vì nhờ ông mà miền Bắc tránh được thêm một thời kỳ hỗn chiến kéo dài. Nhưng phần tội thì không thể xóa.

Chính vì tính cách hai mặt ấy mà hình ảnh ông chưa bao giờ đứng yên. Người thì thấy một kiệt tài dám nói dám làm, người thì thấy một quân phiệt sẵn sàng đạp lên máu dân. Cả hai cách nhìn đều có chỗ dựa trong sử liệu, và có lẽ vì thế mà ông sống mãi trong sách vở, sân khấu lẫn lời kể dân gian, hơn hẳn nhiều bậc đế vương có đời sống êm đềm hơn.

Trương Lương: mưu lược đi cùng chính đạo

Nếu Tào Tháo là hình ảnh của kẻ dùng mọi thứ để đạt mục đích, Trương Lương lại là người luôn hỏi liệu mưu ấy có còn chính nghĩa hay không.

Từ chiếc chùy sắt đến cửa ải Hán Trung

Trương Lương người nước Hàn, cuối thời Chiến quốc. Thời trẻ ông gặp một ông già nhặt giày, tức Hoàng Thạch công, được truyền bộ binh thư Thái Công. Sau này ông theo Lưu Bang và cùng Tiêu Hà, Hàn Tín được gọi là ba bậc kiệt xuất của đất Hán Trung.

Trước đó, vì nước mất, ông bỏ hết gia tài thuê một lực sĩ dùng chùy sắt nặng trăm hai mươi cân để phục kích xe của Tần Thủy Hoàng, nhưng đánh trúng nhầm xe phụ nên phải trốn chạy. Sách nhận xét việc ám sát một mình vua không phải cách của nhà mưu lược lớn, vì nó chỉ gây loạn cho dân mà không đập tan được cái gốc bạo ngược, và khi ấy ông còn chưa rõ mình đang trả thù riêng hay vì nước.

Về sau ông thành người giữ sự tỉnh táo cho Lưu Bang. Khi Bái Công vào thành muốn hưởng lạc, ông can rằng làm thế là giúp kẻ bạo ngược. Lúc Lưu Bang phải lui về Hán Trung, ông bày kế đốt sạch đường sạn đạo để Hạng Vũ hết nghi ngờ, đồng thời khuyên Lưu Bang nhẫn nhục chờ thời. Ông còn thuyết phục Anh Bố, Bành Việt, Hàn Tín, giúp định đô, bàn cách phong hầu, và khi lực lượng đủ mạnh thì khuyên nhân thời cơ đánh Hạng Vũ dù phải phá lời hòa ước. Sau khi Hán đã yên, ông không tham chức quyền mà lui đi tu tiên học đạo.

Tiệc Hồng Môn và chữ nghĩa

Nổi tiếng nhất là tiệc Hồng Môn. Khi Lưu Bang vào Hàm Dương trước và chuẩn bị xưng vương, Hạng Vũ đuổi đến mở tiệc, bên trong mai phục đầy đao kiếm. Trương Lương cùng Lưu Bang bước vào giữa nơi gươm giáo mà vẫn điềm nhiên, thái độ ấy đủ làm Hạng Vũ lưỡng lự dù Phạm Tăng nhiều lần ra hiệu. Khi Hạng Trang múa kiếm định đâm, Hạng Bá lấy thân che, Trương Lương gọi Phàn Khoái vào, để Lưu Bang có dịp chuồn ra. Ông ở lại dâng cặp ngọc bích cho Hạng Vũ, khiến Phạm Tăng đập vỡ chén ngọc mà than rằng kẻ đoạt thiên hạ chắc chắn là Bái Công.

Điều đáng nhớ hơn cả là cách ông ứng xử. Khi Hạng Bá khuyên ông chạy riêng, ông trả lời rằng Bái Công gặp nguy mà mình bỏ đi thì là bất nghĩa. Công to như thế nhưng ông vẫn tự nhận mình không có công gì, và Cao Tổ cũng phải nói rằng bàn mưu trong màn trướng mà quyết thắng ngoài ngàn dặm thì mình không bằng ông. Mưu của ông đi đúng chính đạo, khác hẳn với thủ đoạn của những kẻ chỉ biết quỷ kế.

Đổng Trác: kẻ cầm quân biến kinh thành thành địa ngục

Bên cạnh những người biết dùng trí để cứu đời, lịch sử cũng ghi tên những kẻ dùng mưu để nuốt cả đất nước.

Con đường lên đỉnh bằng lừa dối

Đổng Trác là kẻ gian tặc cuối đời Đông Hán. Hắn không phải người thâm mưu, nhưng lòng dạ gian tà chứa đủ mọi tâm kế, và từ một người lính thường hắn lên tới chức đại tướng nhờ cả đời lừa lọc. Ở trận Trần Thương hắn định đứng ngoài xem hai bên đánh nhau rồi hưởng lợi. Khi triều đình cử hắn đi làm châu mục để thu binh quyền, hắn vẫn ngầm luyện quân, chờ thời. Đến lúc chính biến cung đình xảy ra, hắn kéo quân về, phế Thiếu Đế, lập Hiến Đế, leo lên thái úy, quyền nghiêng thiên hạ đến mức vua cũng phải sợ.

Tội ác và cái giá đối với dân

Điều khiến hắn bị nguyền rủa là sự tàn bạo. Hắn giết người thành thói, cướp vợ người ta rồi treo đầu chồng lên xe đi khắp chợ. Sử chép quân hắn ùa vào nhà dân cướp của, hãm hiếp phụ nữ, gọi đó là "sưu lao", và trong những cuộc hành hình hắn dùng cả vạc dầu, móc mắt, cắt mũi, luộc sống để vui thú. Trên triều hắn ngang nhiên không cúi chào, kẻ nào trái ý là mất mạng. Khi dời đô về Trường An hắn đốt cháy Lạc Dương, kinh đô lâu đời trở thành đống đổ nát, đến nỗi cả nghìn dặm không nghe tiếng gà gáy. Lúc hắn bị giết, dân Trường An reo hò mừng rỡ.

Tội lớn nhất của hắn lại là cái di họa để lại: cuộc hỗn chiến quân phiệt đẩy nhà Hán từ thống nhất xuống chia cắt, và nhân dân ngập trong chết chóc. Người viết sách cho rằng cái chết cũng chưa đủ trả tội của hắn.

Thái Kinh: tể tướng chỉ biết trở gió

Có kẻ không cần tài năng hay công trạng, chỉ cần đoán đúng hướng gió là có thể ngồi ở ngôi cao suốt mười tám năm.

Ba lần đổi chủ, ba lần lên xuống

Thái Kinh làm tể tướng đời Bắc Tống. Xuất thân bình dân, vào quan trường bằng khoa cử, không có công đức đáng kể và cũng không có chỗ dựa, nên hắn hiểu rằng muốn trèo lên phải dùng thủ đoạn. Thời Tống Thần Tông, triều đình theo tân pháp của Vương An Thạch, hắn đứng về phía cải cách và được trọng dụng. Vua mất, Triết Tông còn nhỏ, thái hoàng thái hậu nắm quyền và khôi phục cựu pháp, hắn lập tức quay sang phe cũ. Khi Triết Tông lớn lên và trở lại tân pháp, hắn lại về phe mới. Chính sách đổi ba lần thì hắn cũng đổi chủ ba lần. Sách gọi đó là buôn bán đầu cơ chính trị chứ không phải tài ứng biến.

Hắn ba lần bị cách chức tể tướng và ba lần quay lại, lần nào cũng được phong thêm, cuối cùng lên tới chức thái sư. Mỗi lần thất thế hắn không nản mà ngầm quan sát chờ cơ hội. Khi cửa chính đóng, hắn đi cửa sau: lấy lòng thái giám Đồng Quán bên cạnh Tống Huy Tông và hối lộ Trịnh quý phi, những người gần vua nhất trong đời riêng.

Ân nhân bị hắn hại, nhà vua bị hắn quây kín

Hắn nhắm vào các đại thần có uy tín như Tư Mã Quang, Trương Đôn, Tằng Bố, Triệu Đỉnh, xin họ tiến cử rồi khi mạnh thì gạt chính họ đi, như với Tằng Bố. Hắn hợp với Huy Tông vì cùng thích thơ và họa, đoán ý vua rất khéo, lại bám sát không cho ai khác đến gần vua, và vơ vét sức dân để xây vườn cung cho vua chơi. Hắn cho dựng bia "gian đảng", khắc tên những người chống mình, với tôn chỉ thuận ta thì còn, nghịch ta thì mất. Đời sống riêng thì xa xỉ, tham tiền quyền và sắc, nhà cửa nguy nga. Một kẻ tầm thường và đồi bại như thế vẫn ngồi ghế tể tướng suốt mười tám năm, và chính cái vòng quyền lực ấy cũng phản chiếu cách các vua thời phong kiến chọn người.

Tần Cối: từ tù binh đến kẻ bán nước cầu vinh

Một bản văn xin hòa và một lệnh triệu hồi tướng ngoài mặt trận đã đủ để cắt đứt cả một cuộc kháng chiến.

Thân ở Nam mà lòng ở Bắc

Tần Cối làm thừa tướng Nam Tống mười tám năm, là kẻ mà hầu như người Trung Quốc nào cũng biết tên. Lúc quân Kim mới tấn công hắn còn chút lương tâm, từng phản đối nghị hòa. Sau vì dính vào việc tôn Trương Bang Xướng lên làm vua bù nhìn mà bị quân Kim bắt đi. Trong hàng ngũ địch hắn lộ rõ bản chất, và khi quân Kim nhận ra hắn dùng được thì biến hắn thành gián điệp gửi về Nam Tống. Về đến nơi, hắn mang theo một mục đích không thể nói ra: thân ở Nam mà lòng ở Bắc, ngầm lôi kéo và mê hoặc nhà vua. Hắn dâng lên Cao Tông một bức thư cầu hòa, được vua khen hết lời và nhờ đó lên thừa tướng. Mục đích của hắn và tâm địa của Cao Tông gặp nhau: một kẻ sợ mất ngôi, một kẻ muốn giữ ngôi, nên cả hai đi vào con đường thỏa hiệp nhục nhã.

Giết Nhạc Phi và chọn chia cắt

Hắn cống nạp cho Kim, chấp nhận việc vua Tống xưng thần với vua Kim, mua chuộc quan lại và đẩy những người phản đối nghị hòa ra khỏi triều. Khi Nhạc Phi và Hàn Thế Trung đánh cho quân Kim phải lùi và than rằng lay chuyển núi còn dễ hơn lay chuyển quân họ Nhạc, Cao Tông và Tần Cối lại ra lệnh triệu Nhạc Phi về. Hắn buộc tội "có thể có" (mạc tu hữu) lên Nhạc Phi và con là Nhạc Vân rồi giết cả hai, kéo theo Trương Hiến và các tướng chủ chiến khác. Nguyên do sâu xa là Cao Tông vừa sợ Kim vừa sợ nếu thắng rồi thống nhất Nam Bắc thì ngôi báu sẽ không còn thuộc về mình, còn Tần Cối khéo lợi dụng nỗi sợ ấy để giữ Nam Bắc chia đôi. Người đời sau đúc tượng cho hắn quỳ trước Nhạc Phi, và bản án lịch sử về hắn không đổi.

Bốn con người, một câu hỏi về mục đích của mưu lược

Bốn nhân vật này sống ở hai thời khác nhau nhưng khiến người ta phải hỏi mưu lược sinh ra để làm gì.

Nhìn cạnh nhau, ta thấy ranh giới nằm ở chỗ mưu lược phục vụ điều gì. Trương Lương dùng trí để giữ chính đạo và biết lúc nào nên lui. Đổng Trác, Thái Kinh và Tần Cối dùng thế lực và lừa dối để chiếm quyền, gây khổ cho dân và để lại đổ nát. Tào Tháo đứng ở giữa: ông có công đưa đất nước về một mối, nhưng bàn tay ông cũng nhuốm máu dân thường. Người viết sách không xóa mâu thuẫn ấy mà để người đọc tự cân nhắc.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện