Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Vô cực đồ: năm bức tranh nói hết đường nội đan

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202613 phút đọc2 lượt đọc
Vô cực đồ: năm bức tranh nói hết đường nội đan

Trên vách đá núi Hoa Sơn có khắc năm bức tranh, mỗi bức là một chặng của con đường nội đan. Người vẽ là Trần Đoàn, đạo sĩ mà vua Tống cũng phải nể. Cánh cửa của bức đầu hóa ra nằm ngay trong thân người.


Năm bức tranh khắc trên vách đá Hoa Sơn

Trần Đoàn là đạo sĩ đời Tống, từ nhỏ đã say Nho học, tinh thông dịch lý, từng ẩn cư ở Vũ Đương đất Hồ Bắc rồi cả ở Thục Trung. Ông học rộng hiểu sâu đến mức vua Tống Thái Tông cũng kính nể, tiếng tăm vang khắp triều ngoài nội. Những tác phẩm gắn với tên ông có Vô cực đồ, Thái cực đồ, Tiên thiên đồ và Chỉ huyền thiên. Về sau, Chu Đôn Di và Thiệu Ung truyền rộng tư tưởng ấy, nó thành một bộ phận của rất nhiều học thuyết Tống Minh. Chu Đôn Di còn đảo ngược thứ tự sắp xếp của Vô cực đồ, biến một lý luận luyện đan thành thuyết về cội nguồn vũ trụ, và đó là một bước phát triển quan trọng của Thái cực đồ.

Vô cực đồ được khắc trên vách đá núi Hoa Sơn, và là tác phẩm nổi tiếng về luyện đan, gắn rất nhuần nhuyễn lý luận của Chu Dịch với Lão Tử. Tính từ dưới ngược lên, nó gồm năm bức vẽ, mỗi bức một chặng của con đường nội đan:

  • Bức một: Huyền tẫn chi môn, còn gọi là “đắc khiếu”.
  • Bức hai: luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, còn gọi là “luyện kỷ”.
  • Bức ba: ngũ khí triều nguyên, còn gọi là “hòa hợp”.
  • Bức bốn: thủ khảm điền ly, còn gọi là “đắc dược”.
  • Bức năm: luyện thần hoàn hư, phục quy vô cực, còn gọi là “thoát thai cầu tiên”.

Hai chữ “vô cực” xuất hiện sớm nhất trong Lão Tử, ở câu “phục quy vu vô cực”, nhưng ý ấy thật ra đã nằm trong Kinh Dịch: Dịch có thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi, và còn có chữ “thiên địa nhân uẩn”, chỉ trạng thái mờ mịt hỗn mang của đất trời. Giai đoạn mờ mịt ấy chính là vô cực, cái thời như thực như hư trước khi có thái cực. Trương Cảnh Nhạc nói thái cực bắt nguồn từ vô cực, mà vô cực cũng chính là thái cực; Chu Đôn Di thì nói vô cực mà là thái cực. Trên thực tế hai bên không có ranh giới rõ, chỉ là một động một tĩnh, một hư một thực, giống như “đạo” của Lão Tử.

Bức một: cánh cửa của huyền tẫn

Bức đầu tiên chỉ vẽ một cánh cửa, nhưng là cánh cửa sinh ra mọi cánh cửa khác.

Cốc thần bất tử, thị vị huyền tẫn. Huyền tẫn chi môn, thị vị thiên địa căn.

Đó là câu của Lão Tử. “Cốc” là hang thung lũng trống rỗng, thăm thẳm; “thần” là sự biến hóa khôn lường của âm dương theo lời Kinh Dịch. “Huyền”, theo Dương Hùng trong Thái huyền, là cái bí ẩn trong vạn vật mà không bao giờ thấy được hình bóng; cũng là bóng tối, là màu đen, tóm lại thâm u và huyền ảo. “Tẫn” nghĩa là giống cái, là mẹ. Vậy “huyền tẫn chi môn” là cửa ngõ sản sinh triệu triệu sinh linh, là người mẹ của sự sống, là gốc của trời đất. Nói rộng ra, đó cũng là thái cực, là đạo, là nơi nhật nguyệt tinh tú vận hành để sinh ra vạn vật, đúng với câu “sinh sinh chi vị Dịch”.

Đem vào thân người, huyền tẫn chi môn chính là mệnh môn, cội nguồn của sự sống mỗi người, gốc rễ của chân thủy chân hỏa. Nam kinh, một bộ kinh điển của đông y, nói mệnh môn là nơi trú ngụ của thần khí và tinh khí, gốc của mọi nguyên khí. Trương Cảnh Nhạc đời Minh nói thêm rằng thủy hỏa ở mệnh môn là âm dương của ngũ tạng; ông dùng dịch lý để giải: khí càn nguyên sinh từ dưới và thịnh ở trên, bay lên là hướng về sống; khí khôn nguyên hình thành từ trên và thịnh ở dưới, lắng xuống là hướng về chết. Vậy khí dương sinh ở giờ Tý, thăng trước giáng sau; khí âm sinh ở giờ Ngọ, giáng trước thăng sau. Học thuyết mệnh môn về sau thành một phần quan trọng của cơ sở lý luận trong y học, và việc nói rằng tu luyện của Đạo gia bắt nguồn từ huyền tẫn chi môn là có lý.

“Đắc khiếu” là thủ khiếu, cũng là thủ nhất, tức tìm được chỗ để đặt tâm trí. Phần nhiều chỉ vùng bụng dưới, cách rốn chừng một tấc ba phân, tương đương huyệt khí hải; cũng có thuyết cho rằng đó là nê hoàn ở đầu. Nhìn chung là nhắm mắt, dồn tư tưởng, gạt bỏ tạp niệm, cho hơi thở lắng xuống vùng hạ điền rồi chuyên chú vào chỗ ấy cho tới khi thấy nơi đó nóng lên, gọi là “sinh dược”. Chỗ này nếu gặp trở ngại, người xưa còn có phép khai thiên mục: tập trung suy nghĩ vào khoảng giữa hai chân mày cho đến khi vùng ấy sáng như ánh mặt trời; và phép “thủ tổ khiếu” ở sơn căn, gốc sống mũi, nơi khí thái hư, thái khí và phế khí giao thông, giữ được thì thông xuống nê hoàn, nối cả ba vùng đan điền. Khi đã đắc khiếu, tức đã bước vào cánh cửa huyền tẫn, đó là dấu hiệu hoàn tất bước đầu của cả quá trình nội đan.

Bức hai: luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần

Cửa đã mở, giờ là lúc gom của quý trong nhà, và tên gọi của nó nghe lạ: luyện “kỷ”.

Luyện kỷ là luyện thuốc, gồm hái thuốc và dùng thuốc; thuốc ở đây là nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần. Tinh, khí, thần là ba báu vật của thân, thống nhất không tách rời: khí sinh tinh, tinh hóa khí, khí sinh thần, thần lại sinh tinh, tương sinh tương hỗ biến hóa không ngừng. Điều cốt yếu là đưa tinh, khí, thần hậu thiên trở lại dạng tinh, khí, thần tiên thiên. Hậu thiên vốn là cái dụng của tiên thiên, còn tiên thiên là gốc; “phục hồi” nghĩa là thu gom, cất giữ cho khỏi hao tán, và con đường đó là luyện kỷ. Theo bát quái, “ly” và “kỷ” đi đôi với nhau, nên luyện kỷ chính là luyện ly, tức là luyện tâm. Chặng này mới đặt nền cho “bào thai thần thánh”; còn giai đoạn nâng cao mới là lúc đứa trẻ ra đời và bay lên.

Quá trình hoàn tinh bổ não ở chặng này cần ba việc: sinh thuốc, hái thuốc, dùng thuốc. Khi thấy có hiện tượng sinh khí thì lấy ý niệm giữ cửa, dẫn nguyên tinh đi qua ba cửa là vĩ lư, giáp tích, ngọc chẩm, lên huyệt nê hoàn, rồi lên đỉnh đầu; sau đó theo nhâm mạch xuống trung điền, cuối cùng về hạ điền thì đóng lại. Việc ấy gọi là “phong dược”, cũng là một vòng chu thiên. Vì tâm giữ vai trò then chốt nên mới gọi là luyện kỷ, với ba tác dụng.

Thứ nhất, phải dập tâm trước, tức là tĩnh tâm, gạt lo phiền và dục vọng thì mới thấy được tính. Các nhà đan thường nói “tâm diệt tắc tính hiện”. Khi chân tính phát huy, người đạt được trạng thái tinh đầy mà không nghĩ lung tung, khí đầy mà không thèm ăn, thần đầy mà không thèm ngủ. Thứ hai là tác dụng hỏa hầu: “hỏa” là tâm thần, tức ý niệm; “hầu” là sự mạnh yếu của hơi thở dưới sự chi phối của ý niệm. Khi qua ba cửa thăng lên thì dùng võ hỏa, khi xuống đến điền đan thì dùng văn hỏa, việc điều hòa văn võ phụ thuộc vào tâm thần, nên gọi là luyện kỷ. Thứ ba là hoàn tinh bổ não, rồi mới dồn về đan điền tàng trữ; não là chúa tể của cơ thể, nên đó là trung tâm của sự tu luyện. Lưu Nhất Minh trong Tu chân biện nan tóm lại: luyện cái tinh tiên thiên mà tinh trong giao cảm không hề thất thoát, luyện cái khí tiên thiên mà hơi thở vẫn thanh thản điều hòa, luyện cái thần tiên thiên mà cái thần trong suy nghĩ vẫn bình yên.

Bức ba: ngũ khí triều nguyên

Năm cánh cửa của ngũ tạng cùng quay về một chỗ, như năm dòng sông chảy ra một biển.

Ngũ khí là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, bắt nguồn từ học thuyết ngũ hành, và bát quái trong Dịch đã ngầm chứa ngũ hành: Càn thuộc kim, Khôn Cấn thuộc thổ, Khảm thuộc thủy, Ly thuộc hỏa, Tốn Chấn thuộc mộc. Đông y đem đối chiếu ngũ khí với ngũ tạng: tâm hỏa, thận thủy, phế kim, tỳ thổ, can mộc, giải thích quan hệ hòa hợp giữa các tạng bằng sinh khắc của ngũ hành, và nhờ vậy ngũ hành cùng âm dương trở thành hai cột trụ của lý luận y học. Nội đan nói “ngũ khí triều nguyên” là cách gọi khác của ngũ tạng theo quan niệm đan gia. “Triều nguyên” là quy về nguồn, tức tu luyện để nguyên khí của ngũ tạng đứng yên, không thất thoát. Thân không động thì tinh ổn mà thủy triều nguyên; tâm không động thì khí ổn mà hỏa triều nguyên; chân tính tĩnh thì hồn ổn mà mộc triều nguyên; dục vọng hết thì phách ổn mà kim triều nguyên; bốn cái ấy bình hòa thì ý ổn mà thổ triều nguyên.

Có ba việc cụ thể. Một là giữ hạ điền, vì nó nằm giữa bụng, thông với thổ khí của tỳ, nên dùng ý giữ hạ điền thì ngũ tạng đều nhận được khí trung thổ và thêm sinh khí. Hai là “thủ ngũ quan, tàng ngũ khí”: ngũ quan là biểu hiện ra ngoài của ngũ tạng, mắt không tham thì hồn tụ ở gan, tai không tham thì tinh tụ ở thận, lưỡi không tham thì thần tụ ở tâm, mũi không tham thì phách tụ ở phổi, tay chân tĩnh lặng thì ý tụ ở lá lách. Ba là thủ ngũ thần tạng: tâm giữ thần, gan giữ hồn, lá lách giữ ý, phổi giữ phách, thận giữ chí; hồn không thoát qua mắt, phách không thoát qua mũi, thần không thoát qua miệng, tinh không thoát qua tai, ý không thoát qua lỗ chân lông tay chân. Năm thứ ấy không thất thoát thì tinh, thần, hồn, phách, ý hòa thành một khí, tụ ở đan điền. Khí ngũ tạng gom lại ở điền đan như thế gọi là “hòa hợp”, kết thành “thánh thai”, chặng thứ ba của nội đan.

Bức bốn: lấy Khảm điền vào Ly

Hai quẻ từng một thuần một đủ, nay mỗi bên mất một nét, và người tu phải đem trả lại.

“Thủ khảm điền ly” là chặng được thuốc, mấu chốt của việc biến tinh, khí, thần hậu thiên thành tiên thiên. Quẻ Càn vốn thuần dương, quẻ Khôn vốn thuần âm; sau khi có trời đất hậu thiên, Càn mất một dương hóa Ly, Khôn được một dương hóa Khảm. Muốn trở về, phải lấy hào dương giữa quẻ Khảm đem điền vào hào âm giữa quẻ Ly, cho Ly trở lại thành Càn, Khảm trở lại thành Khôn. Tính mệnh khuê chỉ nói thánh nhân dùng ý niệm làm người mối, dẫn hào dương của Khảm gặp hào âm của Ly, âm dương giao phối, thành quẻ thuần dương, đó là khôi phục thể tiên thiên. Ngộ chân thiên cũng nói: lấy hào giữa quẻ Khảm thay hào giữa quẻ Ly, chính là ý ấy. Thực chất đó là thăng thận thủy, hạ tâm hỏa, nâng khí dương của thận lên, hạ khí âm của tâm xuống, khiến Khảm Ly đỡ nhau; và bản chất của nó là hoàn tinh bổ não.

Từ thuốc sinh, thuốc hái, thuốc luyện đến phong và cất giữ, chặng này gom cả quá trình: khi vùng hạ điền nóng lên và rung động, tâm thần như say, thì lập tức dùng võ hỏa dẫn thuốc đến nê hoàn rồi về lại khí hải, qua ba cửa vĩ lư, giáp tích, ngọc chẩm, cuối cùng đưa tới đỉnh đầu. Làm như vậy chừng ba trăm lần là qua chặng luyện tinh hóa khí để bước vào chặng luyện khí hóa thần; thuốc từ nê hoàn xuống hoàng đình, thánh thai thành hình, kim đan sinh ra và “thai nhi” dần hiện rõ.

Bức năm: luyện thần hoàn hư, thoát thai cầu tiên

Khi chặng cuối cùng tới, cả con đường đi xuôi đời thường được đem đi ngược lại.

“Hoàn hư” là trở về thái cực: luyện tinh hóa khí là gộp ba thành hai, luyện khí hóa thần là gộp hai thành một. Cái một ấy là nguyên thần, đã trở về với trạng thái tự nhiên của vũ trụ, đi ngược con đường diễn sinh “đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật”; đạo gia gọi là “thuận thì thành người thường, nghịch thì thành tiên”. Hoàn hư là trở về với đạo của Lão Tử, với thái cực của Chu Dịch, trở lại cái phác ban đầu, tức vượt qua bản ngã mà về với đạo.

“Thoát thai cầu tiên” là thoát khỏi thai tiên mà thành tiên. Muốn rời bụi trần về trời, không chỉ vượt bản ngã trong tinh thần mà còn phải vượt cả bản ngã nơi thể xác: về mặt thần thì từ bỏ cái tôi để hòa vào tự nhiên, ta với đạo là một; về mặt hình thì rũ cái thân phàm để cùng trời đất tồn tại mãi. Đó là cảnh giới cao nhất của nội đan.

Năm nét vẽ chứa cả một lối viết bằng ký hiệu

Điều kỳ lạ nhất của Vô cực đồ không phải là cảnh giới tiên mà là việc người xưa chỉ dùng năm hình mà kể trọn một con đường.

Chỉ bằng năm bức hình giản dị, Trần Đoàn nói đúng và rõ cả năm chặng nội đan, đủ thấy sức cô đọng cao độ của nó. Ông chịu ảnh hưởng sâu của ký hiệu bát quái trong Chu Dịch, thủy tổ của các lối chữ viết bằng ký hiệu, với hào âm hào dương là ký hiệu gốc; Thái cực đồ, Hà đồ Lạc thư là sự bổ sung và phát triển của nó. Vô cực đồ nhận tinh hoa ấy: bức “thủ khảm điền ly” phát huy cao độ quan hệ hào âm hào dương trong hai quẻ Khảm Ly, còn bức “ngũ khí triều nguyên” tiếp thu quan hệ ngũ hành của Hà đồ Lạc thư. Dùng cái đơn giản để nói cái huyền ảo phức tạp, chứa lượng thông tin phong phú, đó là chỗ đáng học của lối viết bằng ký hiệu mà bát quái là tiêu biểu.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện