Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Thái Huyền: tám mươi mốt thủ Dương Hùng dựng theo kinh Dịch

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Thái Huyền: tám mươi mốt thủ Dương Hùng dựng theo kinh Dịch

Một người nói lắp, ít nói, ba đời không làm quan, quyết định viết một quyển Dịch của riêng mình. Ở đó hai vạch âm dương nhường chỗ cho ba nấc một, hai, ba, và sáu mươi bốn quẻ hóa thành tám mươi mốt thủ. Phải chăng đó là một bản bắt chước, hay là một con đường mới?


Người nói lắp viết một quyển Dịch riêng

Dương Hùng sống từ năm 53 đến năm 18 trước Công nguyên, người đất Thành Đô, Tứ Xuyên, vừa là nhà Dịch học vừa là nhà văn nổi tiếng thời Tây Hán. Ngay từ nhỏ ông đã ham học, chưa viết văn nhưng về phần giảng giải chữ nghĩa cổ thì đã tinh thông; lớn lên không sách nào là không đọc. Ông giản dị, phóng khoáng, nói lắp nên ít nói, thâm trầm mà nghĩ sâu, rất mực thanh tĩnh. Mới ít tuổi đã có thú ham của người già, không mê phú quý, không buồn vì nghèo, không nghĩ đến chuyện lưu danh. Ông là bậc đại lượng, sách nào không phải sách của thánh hiền thì không ham đọc.

Về sau ông được Đại tư mã Vương Ân dùng, nhưng ba đời nhà ông vốn không làm quan. Ông hiểu cổ, vui với đạo, rất sùng kinh Dịch. Ông nói trong các kinh truyện không gì tuyệt diệu hơn Dịch, nên viết Thái Huyền; cho rằng về truyện thì không gì hay bằng Luận ngữ, nên viết Pháp ngôn; cho rằng trong các nhân vật sử sách không ai vĩ đại bằng Thương Hiệt, nên viết Huấn toản thiên. Ông thọ bảy mươi mốt tuổi.

Thái Huyền đập vỡ thể lệ của kinh Dịch nhưng lại chép theo chính kinh Dịch. Nội dung lấy Dịch lý làm cốt lõi, đồng thời thu nhận cái nhìn huyền đạo của Hoàng Lão. Thành tựu không thật lớn, nhưng nó thúc đẩy việc hòa hợp với đạo Nho và đưa ảnh hưởng của Dịch vào đạo gia. Lời văn kỳ quái, cách viết mới lạ; người đời sau khen chê không đồng nhất, nhưng về học thuật tư tưởng thì đóng góp và ảnh hưởng của nó không thể xem nhẹ. Hai bản chú nổi tiếng là Thái Huyền kinh tập chú và Thái Huyền xiển bí.

Huyền sinh âm dương, âm dương sinh vạn vật

Hai cách nói về cội nguồn vũ trụ đặt cạnh nhau, và người viết quyết tâm gộp chúng làm một.

Dương Hùng là người tiên phong hòa hai dòng Dịch và Lão. Ông nhìn vào quẻ Tổn, quẻ Ích của Dịch rồi đối chiếu với lẽ “nương nhau” của Lão: bớt những thói quen buồn vui, xem sự cát hung như nhau, đi vòng khắp tám cực. Việc ông gộp Dịch với tư tưởng Hoàng Lão chủ yếu để dung hòa cách nhìn bản thể vũ trụ với cách nhìn sinh thành.

Trong Thái Huyền, ông kết hợp “huyền” với đạo của Lão Tử và thái cực của kinh Dịch, rồi coi Thái Huyền là bản thể tối cao của vũ trụ, nêu ý Huyền sinh vạn vật. Ông bắt chước câu “Dịch có thái cực, thái cực sinh hai nghi” bằng câu “Huyền sinh âm dương, âm dương sinh vạn vật”. Ông viết: Huyền tràn đầy khắp nơi, mênh mông như trời, âm dương xen kẽ, lấy một dương ngụ nhất thống, muôn vật theo đó thành hình. Còn câu của Lão Tử “đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật” cũng được ông mô phỏng theo cách riêng: phương, châu, bộ, gia kết lại thành chín lần chín, 81 thủ, đó là số sinh, mọi việc trong năm đều đứng đắn.

Thật ra thái cực của kinh Dịch không giống đạo của Lão Tử. Đạo của Lão Tử hư vô, sinh ra trước trời đất; thái cực thì có thật, cùng tồn tại với trời đất. Nhưng Dương Hùng vẫn trộn cả hai làm một để bàn luận.

Mục đích ông viết Thái Huyền là mô phỏng Dịch, dựng một hệ thống làm mô thức giải thích sự sinh thành của vũ trụ. Dịch nói thái cực sinh hai nghi, hai nghi sinh bốn tượng, bốn tượng sinh bát quái. Thái Huyền nói Huyền sinh ba phương, ba phương sinh chín châu, chín châu sinh hai mươi bảy bộ, hai mươi bảy bộ sinh tám mươi mốt gia. Hệ thống bản thể luận ấy không có giá trị lớn, nhưng khách quan mà nói, nó cũng ảnh hưởng đến việc hòa Dịch với Lão.

So sánh hai bộ máy: sáu hào và bốn tầng

Theo Tư Mã Quang, Dịch và Thái Huyền cùng đạo mà khác thức. Dịch có hai loại vạch là âm và dương; Huyền có ba loại là một, hai, ba. Dịch có sáu ngôi; Huyền có bốn tầng là phương, châu, bộ, gia. Dịch chồng tám quẻ thành sáu mươi bốn quẻ; Huyền xen kẽ một, hai, ba ở phương, châu, bộ, gia thành tám mươi mốt thủ.

Các phần phụ cũng đối xứng. Dịch có Thoán, Tượng, Văn ngôn, Hệ từ; Thái Huyền cũng có thủ, trắc, văn, ly, doanh, nghê, đồ, cáo. Dịch có Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái; Thái Huyền cũng có số, xung, thác. Tư Mã Quang kết luận hai bộ đi khác đường nhưng quy về một mối, trăm điều nghĩ mà cùng nhất trí, đều bắt nguồn từ thái cực, hai nghi, tam tài, bốn mùa, ngũ hành, và đều quy về nhân nghĩa lễ.

Người đời khen chê lẫn lộn. Trương Hoành khen: nhà Hán được thiên hạ hai trăm năm thì tất có sách của một đời; Lễ bốn trăm năm, Huyền đã hưng thịnh. Trình Hi thì chê: Dương Hùng viết Thái Huyền vốn muốn làm cho Dịch sáng rõ, nhưng rốt cuộc vẫn khó hiểu như Dịch, thật vô ích, chẳng khác dựng nhà dưới khung một cái nhà khác, đặt giường chồng lên giường. Nhìn cả bộ sách, từ thể lệ, kết cấu cho đến nội dung, không chỗ nào không mô phỏng Dịch; ở phần tượng số lẫn nghĩa lý, nó không thêm được ý gì mới, lại dùng những cách nói khác thường khiến việc chú giải rắc rối, điều này chẳng cần cho việc nghiên cứu Dịch.

Tám mươi mốt thủ và nhịp lên xuống của hai khí

Đằng sau những cái tên lạ là một thước đo: khí dương và khí âm thay phiên nhau thế nào qua từng chặng.

Dù vậy, về cách giải thích âm dương và nghĩa lý, toàn bộ tác phẩm viết sâu sắc và đầy đủ, có những đóng góp quan trọng. Điều thứ nhất là ông phát huy đầy đủ tính biện chứng của âm dương. Tám mươi mốt thủ do ông tự dựng, tương đương sáu mươi bốn quẻ, lấy các nấc “tiềm, tại, dược, phi, cung, hối” của quẻ Càn làm cương lĩnh, rồi theo sự tiêu trưởng của hai khí mà phản ánh quan hệ vừa đối lập vừa thống nhất. Lấy vài thủ làm ví dụ:

Thủ Trung: khí âm ẩn ở nơi sâu, lòng tín thiện chưa ra ngoài. Thủ Hiền: khí dương hơi động, động mà lộ, ý nói cái khó khăn của vật lúc sinh. Thủ Tăng: khí dương đầy tràn, vật tăng thêm, ngày một phát triển thịnh vượng. Thủ Giao: dương giao vào âm, âm giao vào dương, vật đến nơi sáng sủa rực rỡ. Thủ Tùng: dương đến vực sâu, đến đầm, đến ruộng, đến đồi, vật đến được nơi nó muốn. Thủ Cách: khí dương khỏe bên trong, hợp với phong cách của đám âm nhưng rồi bị gạt bỏ và đi đến đổ vỡ. Thủ Cánh: khí dương đã bay đi, biến thể đổi hình, vật không còn linh. Thủ Trang: khí dương tuy rất được việc nhưng âm yếu ở phía dương, nép vào rồi muốn đi ra. Thủ Đào: khí âm sáng chói, khí dương lui ẩn, muôn vật sắp tiêu tan.

Ngoài ra Thái Huyền còn dùng sự lên xuống của hai khí, sự ứng nhau của hai khí và sự giúp nhau của cứng mềm để bàn. Thiên Huyền trắc nhấn mạnh sự thăng giáng: đêm đo bằng âm, ngày đo bằng dương; dương đầy năm phúc rồi theo loại mà lên, âm ẩn với sáu cực rồi theo loại mà xuống; lên xuống tương quan, chính lớn thì thông. Thủ Ứng: khí dương cùng cực ở trên thì khí âm manh nha ở dưới, trên dưới ứng nhau. Thiên Huyền xung bàn riêng về mâu thuẫn của âm dương: thủ Trung thì dương bắt đầu, thủ Ứng thì âm sinh. Sự biến hóa của ba trăm bốn mươi hai tán, tương ứng ba trăm tám mươi tư hào của sáu mươi bốn quẻ, cũng phản ánh triết lý tiêu trưởng chuyển hóa của âm dương.

Quái khí, lịch pháp và vòng trời tròn đất vuông

Điều thứ hai, ông rất tôn trọng thuyết quái khí của Mạnh Hỉ và phát triển nó. Ví dụ quái khí của Mạnh Hỉ nhắc quẻ Trung phu thì Thái Huyền có thủ Trung tương đương. Qua đồ Thái Huyền, ông trình bày phương vị thời không trong một năm: vừa coi trọng sự tiêu tức của hai khí, vừa nhấn mạnh phương vị ngũ hành.

Điều thứ ba, ông kết hợp với thiên văn lịch pháp. Ông không những tinh thông Dịch lý mà còn thông thiên văn, lịch pháp, khiến Thái Huyền mang thêm giá trị khoa học. Thành tựu nổi nhất là gắn quái khí với hai mươi bốn tiết khí của lịch Thái sơ. Tám mươi mốt thủ, mỗi thủ chín tán, thành bảy trăm hai mươi chín tán. Mỗi hai tán là một ngày một đêm, nên tính ra ba trăm sáu mươi bốn ngày rưỡi. Thêm hai tán phụ là kỵ và doanh thì thành khoảng ba trăm sáu mươi lăm ngày một phần tư, khớp với lịch Tam thống. Ông còn tôn thuyết Hồn thiên: trời tròn, đất vuông; cực trời ở giữa, lấy cực bắc làm gốc, một vòng trời chia ra mười hai thần, ứng với mặt trời, mặt trăng, năm ngôi sao. Điều này phản ánh cái nhìn duy vật của ông, và được Trương Hoành, Vương Sung đánh giá cao.

Ba ngôi trời, đất, người và con đường đi vào đời

Cái huyền nằm giữa tầng cao, nhưng bước chân vẫn đặt xuống mặt đất.

Điều thứ tư, ông góp vào cách nhìn tam tài của Dịch: đạo trời, đạo đất, đạo người. Trong Thái Huyền ông cũng lấy tam tài làm tôn chỉ: Thái Huyền có đạo trời, đạo đất, đạo người, lấy tên “Trời” là kiêm cả ba. Dịch nói đạo lập trời là âm và dương, đạo lập đất là mềm và cứng, đạo lập người là nhân và nghĩa. Ông kế thừa điều ấy và viết: cái dụng của đạo Huyền là vô cùng, người thấy mà biết nó là trí, người nhàn mà yêu nó là nhân; nắm được đạo đức nhân nghĩa mà thi hành thì gọi là nghiệp. Trong tám mươi mốt thủ, mỗi thủ từ nấc một đầu đến nấc chín trên đều thống nhất theo trời, đất, người.

Về mặt sinh thành vũ trụ, ông gộp cả Dịch lẫn Lão. Nhưng về mặt xã hội, ông giữ nhân sinh quan tích cực. Ông nhấn mạnh: cái quý của trời đất là sự sống; điều tôn quý đối với sinh vật là con người, là luân thường lớn. Và ông nhấn mạnh cả sự cách tân: đạo có đổi có hóa, đổi mà hóa phải hợp thời; vật mà không đổi thì không thành. Tóm lại, Thái Huyền nói huyền ở phần vũ trụ nhưng ở phần xã hội thì hiện thực, tích cực, hòa vào nhân thế, theo đúng tinh thần Nho của Dịch.

Chỗ đứng của một bộ Dịch dựng theo kinh Dịch

Đóng góp chính của Dương Hùng với Dịch học là mở đường dung hòa Dịch và Lão, đưa nhiều yếu tố thiên văn, lịch pháp vào tác phẩm để tăng nền tảng vật chất cho Dịch học và mở rộng ảnh hưởng của Dịch vào khoa học tự nhiên. Thái Huyền về mặt sinh thành vũ trụ đã kết hợp Dịch với Lão, gây ảnh hưởng cho đời sau trong lối lấy Lão để giải Dịch, và đặt móng cho sự nổi lên của huyền học nghĩa lý đời Ngụy Tấn. Ông còn cắt đứt sợi dây ràng buộc của việc lấy truyện giải kinh cổ văn, dựng hệ thống Thái Huyền, mở lối cách tân cho Dịch học. Thuyết quái khí kết hợp với âm dương ngũ hành và các yếu tố thiên văn, lịch pháp của ông ảnh hưởng đến sự phát triển ứng dụng của Dịch lý.

Có thể nói ông là đại diện của lối lấy Dịch làm chủ mà lồng vào học thuyết Lão ở đời Hán, góp phần đưa Dịch học thấm vào đạo gia và thúc đẩy sự hòa nhập giữa Nho với Đạo.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện