Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Chu thiên, huyền quan và đường đi tới kết đan thành thai

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202612 phút đọc3 lượt đọc
Chu thiên, huyền quan và đường đi tới kết đan thành thai

Người luyện nội đan mượn tên vòng đi của mặt trời để gọi những vòng khí chạy trong thân, nhỏ rồi lớn. Giữa hành trình ấy có một cánh cửa mà ai đến nơi cũng nhắc tên, nhưng không ai chỉ được bằng ngón tay...


Vòng trời nhỏ và vòng trời lớn

Chữ chu thiên vốn chỉ vòng đi của mặt trời, mặt trăng. Mặt trời đi một vòng trên hoàng đạo là ba trăm sáu mươi độ và một phần tư, qua hai mươi tám vì sao rải rác, ứng với ba trăm sáu mươi ngày của một năm. Đó là đại chu thiên. Còn một vòng ngày đêm của cả bầu trời sao là tiểu chu thiên. Người luyện nội đan mượn chính tên ấy để nói rằng thân người, tiểu vũ trụ, phải ứng với đại vũ trụ. Một vòng tinh khí đi tuần hoàn theo mạch Nhâm Đốc trong thân thì gọi là tiểu chu thiên.

Nói rộng ra, tiểu chu thiên và đại chu thiên đại diện cho hai chặng của việc luyện. Tiểu chu thiên là chặng luyện tinh hóa khí, thuộc cửa đầu tiên, chừng một trăm ngày, nên còn gọi là trăm ngày xây nền. Trọng điểm là luyện hạ đan điền ở bụng, hái thuốc nhỏ, luyện đan nhỏ. Đại chu thiên là chặng luyện khí hóa thần, thuộc cửa giữa, trọng điểm ở đan điền nơi ngực, khí đi khắp mười hai kinh và tám mạch kỳ kinh, hái thuốc lớn, luyện đan lớn. Rồi đến chặng luyện thần trả về hư, vòng chu thiên càng lớn nữa, thuộc cửa trên, chừng chín năm, trọng điểm ở đan điền nơi đầu. Chặng này mang tính vượt lên, cuối cùng phải đạt đến chỗ hòa làm một giữa vật và ta, là bậc cao nhất của hoàn hư nhập đạo.

Nội đan gia cho rằng tiểu chu thiên là chiếc xe nước của Khảm Ly giao nhau, vận hành trong phạm vi nhỏ. Đại chu thiên là chiếc xe nước của Càn Khôn giao nhau, vận hành trong phạm vi lớn hơn. Vì thuốc, tức tinh khí, bắt nguồn từ thận thủy ở hạ đan điền, nên vòng này còn gọi là hà xa chu thiên. Tiểu chu thiên là tiểu hà xa, chủ yếu vận tinh. Đại chu thiên là đại hà xa, chủ yếu vận khí. Quỹ đạo thuốc đi trong tiểu chu thiên là mạch Đốc và mạch Nhâm, từ hội âm lên theo cột sống vào Ngọc chẩm rồi nhập thượng đan điền, tới Bách hội thì theo mạch Nhâm đi xuống trung đan điền, rồi quay về hạ đan điền. Con đường ấy qua ba cửa và hai cầu.

Đại chu thiên được xây trên nền tiểu chu thiên. Sau khi nối Nhâm Đốc, nó thông với mười hai kinh và tám mạch kỳ kinh, tức đi khắp thân. Khi bắt đầu hái thuốc, người luyện dùng tiểu chu thiên. Đến một mức nhất định, đại chu thiên tự nhiên xuất hiện, như câu nước đến thì rãnh thành. Vì tiểu chu thiên là lấy Khảm lấp Ly, mà các quẻ Ly, Càn, Khảm, Khôn đều nằm ở hai phương nam bắc và ứng với giờ Tý giờ Ngọ, nên nó còn gọi là chu thiên Tý Ngọ. Tiểu chu thiên coi trọng giờ Tý hoạt, chú ý tu luyện môi trường bên trong. Đại chu thiên coi trọng giờ Tý chính, chú ý môi trường bên ngoài, trọng tâm luyện nằm ở thần, đạt tới sự ôm lấy nhau giữa thần và khí.

Đến lúc đại chu thiên, đan gia nhấn mạnh phải giữ sáu căn không rò rỉ: mắt không nhìn ra ngoài là căn mắt không rò, tai không nghe ra ngoài là căn tai không rò, mũi thở được giữ kín là căn mũi không rò, lưỡi chống lên vòm trên là căn lưỡi không rò, thân được nâng đỡ chắc là căn thân không rò, một niệm không sinh là căn ý không rò. Còn hướng đi của đại chu thiên thì ngược lại với tiểu chu thiên: tiểu chu thiên là Đốc lên Nhâm xuống, đại chu thiên là Nhâm lên Đốc xuống.

Cánh cửa huyền

Có một chỗ trong thân mà ai tu đến nơi cũng nhắc, nhưng không ai chỉ được bằng ngón tay.

Huyền quan nhất khiếu là điểm then chốt sâu kín nhất của nội đan. Huyền là sâu xa, kín nhiệm, như Lão Tử nói: huyền lại thêm huyền, là cửa của mọi điều kỳ diệu. Vậy huyền quan rốt cuộc là gì? Các nhà đạo nói không giống nhau. Có người bảo là hạ đan điền, có người bảo là tổ khiếu, có người bảo là thượng đan điền, có người bảo là trung đan điền, cũng có người bảo đó là hoạt Tý thời.

Theo phép nội đan và các thuyết của đạo gia, huyền quan được hiểu là một hệ quan khiếu, nhưng tuyệt đối không phải một bộ vị cụ thể nào, cũng không phải một thời khắc cụ thể nào. Nó là cảm thụ của lúc công phu nội đan sắp đến chỗ trọn vẹn. Kim đan chính tông nói rằng huyền quan nhất khiếu là cái khiếu ẩn trong hỗn độn của tiên thiên, trong chỗ không có mà có, có mà không, cha mẹ chưa sinh đã có khiếu này, có khiếu này thì có thân này. Trên thông đến cung đỉnh đầu và thấu nê hoàn, dưới tiếp đan điền và chạm tới suối vàng. Đây là thánh địa nơi thuốc tụ hội.

Huyền quan cũng không phải khiếu của não, cơ quan làm chủ muôn khiếu trong y học. Nó mang nghĩa thượng thừa riêng của tôn giáo: chạm tới cảm xúc then chốt của cảnh giới tín ngưỡng. Nhà Phật gọi đó là trí tuệ, là liễu ngộ. Thiền tông gọi là nhập thiền hay chỉ thẳng lòng người. Đạo gia gọi là huyền quan nhất khiếu. Cũng như trong các tôn giáo khác, đó là cánh cửa vào đạo. Sách Phổ đăng lục của nhà Phật nói cửa huyền mở rộng thì con mắt chính lưu thông.

Huyền quan hướng về con đường kín trong tâm của phép tu Đạo gia, tức bậc cao nhất là luyện thần trả về hư, hoàn hư nhập đạo. Đến lúc này là đã tới thái hư của Dịch, hư vô của Lão Tử, ngồi quên mà Trang Tử đề cao, tức trời đất hợp nhất, và đạo gia mới xứng danh thánh tiên. Trương Bá Đoan nói: hư đến cùng cực, tĩnh một lòng một dạ, không còn thấy thân ta nữa, chỉ thấy lặng lẽ mờ mịt, hợp nhất với trời đất, thần khí ở trạng thái ấp ủ lên men, đó là điểm kỳ diệu nhất của tu luyện, nên gọi là huyền quan nhất khiếu. Chỉ khi người luyện đến một độ nhất định mới phát hiện ra, mà phát hiện một cách tự nhiên, không do ý niệm khống chế. Chỉ trong tình trạng không có ý niệm nó mới xuất hiện.

Ba đan điền và chuyện giữ cái một

Chữ đan điền đã thấy từ xa xưa. Trong y học cổ, Nan kinh nói mười hai kinh mạch đều có gốc ở sinh khí, đó là sinh khí vận động trong thận, là gốc của ngũ tạng lục phủ, gốc của mười hai kinh, cửa ra vào của hơi thở, nguồn của tam tiêu, còn có tên là vị thần chống tà khí. Nan kinh nói về bộ vị ấy, chính là chỗ hạ đan điền của đạo gia, đủ thấy đan điền quan trọng với sinh mệnh thế nào.

Trong nội đan, người luyện cần giữ ý nơi ba đan điền. Thượng đan điền là nê hoàn cung, sâu ngang hàng lông mày, đúng với chỗ não, nơi người xưa nói chuyện đưa tinh bổ não. Trung đan điền ở giáng cung, dưới tim, giữa hai bầu vú. Hạ đan điền nằm dưới rốn chừng hai tấc, tương ứng với huyệt Thạch môn của mạch Nhâm trong châm cứu. Các đan gia cho rằng sinh mệnh liên hệ với đan điền, là chỗ nguyên khí sinh ra rồi lan đi. Ngọc lịch kinh nói hạ đan điền là gốc của mệnh công, thượng đan điền là gốc của tính công.

Ba đan điền mỗi nơi có việc riêng. Hạ đan điền lấy luyện tinh hóa khí làm chủ. Trung đan điền lấy luyện khí hóa thần làm chủ. Thượng đan điền lấy luyện thần trả về hư làm trọng. Bão Phác Tử cũng nói rằng có người cho là dưới rốn hai tấc bốn phân là hạ đan điền, có người cho là giáng cung dưới tim, cung vàng, là trung đan điền. Cách gọi không cần phải khớp một chiều, điều cần là hiểu đây là những bộ vị sống. Ba đan điền đặt ở ba phần lớn của thân là bụng, ngực, đầu, ứng với thận, tim, não, đủ thấy sự liên hệ chặt chẽ của chúng.

Kết đan và thành thai

Mọi vòng đi, mọi cửa ải rồi cũng quy về một chỗ: những thứ thuốc đã luyện chín trở về lò, gặp nhau, thành một thể.

Kết đan là đem những dược vật gồm nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần đã hái được, luyện chín bằng phép văn võ, cho theo chu thiên trở về hạ đan điền. Phép ấy gọi là hái thuốc kết đan. Từ thuốc tới đan là cả quá trình tích tụ ngoại dược, luyện chín, hoàn đan, phong kín.

Thành thai cũng là quá trình quan trọng. Từ đan thành thai còn phải hoàn thành một việc nữa: tinh khí ở hạ đan điền đưa lên cao, nguyên thần ở thượng đan điền đưa xuống thấp, tinh khí thần dung hợp thành một thể thống nhất. Đó mới là thành thai, tức công đã viên mãn. Dấu hiệu của chặng này được liệt kê khá nhiều. Khi tiểu chu thiên thành công, nước bọt trong mềm được nuốt dần xuống đan điền, gọi là ngọc dịch hoàn đan. Khi đại chu thiên viên mãn, tinh khí trong thận dâng lên vào miệng, thấy đầy miệng nước bọt, gọi là kim dịch hoàn đan.

Một dấu hiệu nữa là dương quang ba lần hiện, còn gọi là ánh sáng trắng mầm vàng. Lúc luyện đan sắp hoàn tất, giữa hai chân mày lóe sáng ba lần, đó là dấu hiệu tiểu chu thiên thành. Đan gia cho rằng khi tiểu chu thiên đủ một trăm ngày, ba trăm vòng, thì có dương quang ba lần hiện. Ánh sáng ấy thay đổi theo chặng: lúc tiểu chu thiên như mầm vàng, lúc đại chu thiên sáng như tuyết trắng, từ nhạt đến thẫm, thể hiện độ sâu của công phu.

Còn lục căn chấn động. Tiên Phật hợp tông tả cảnh này: dưới rốn nóng ấm, hai thận như được hơ, mắt lóe ánh vàng, sau tai gió thổi, trong não như có tiếng chim, thân rung động, mũi như bị nghẹn hơi thở. Đó là dấu hiệu đại dược đã luyện thành. Cuối cùng là hiện tượng trẻ sơ sinh. Căn cứ lý luận lấy từ câu trở về như hài nhi của Lão Tử. Trẻ sơ sinh tượng trưng cho hỗn độn, thuần phác, là sự hoài niệm của đạo gia với cái tự nhiên nguyên sơ. Đan gia nói khi luyện đến một độ nhất định, từ kim đan kết thành thánh thai, xuất hiện hiện tượng anh nhi, đó là dấu hiệu công phu viên mãn. Sau khi ngọc dịch hoàn đan, chừng mười tháng thì thành thai, thành thai rồi còn phải bồi bổ ba năm như cho bú, tức tiếp tục tu ba năm nữa.

Lời tựa của Kim hỏa đan quyết tóm lại hành trình ấy: từ cửa Vĩ lư đi ngược lên, qua Giáp tích và Ngọc chẩm, đến nê hoàn, xuống giáng cung, rồi về lại huyệt khí, gọi là ngọc dịch hoàn đan. Trong một năm kết thành thánh thai, chờ mười tháng thì đủ đầy, mới thượng thăng thiên cốc. Dù đã có hiện tượng anh nhi vẫn cần bú ba năm. Đến lúc thoát thai thần hóa, có nghĩa là yên tĩnh ổn định để đạt tới ôm cái ban đầu, giữ cái thứ nhất.

Âm dương song tu và chữ vô dục

Trong nội đan còn một nhánh gọi là âm dương song tu, mà người đời hay hiểu lầm. Lý luận ấy bắt nguồn từ Dịch và Lão Tử. Chu Dịch nói đạo Càn thành nam, đạo Khôn thành nữ, âm dương hợp đức mà cương nhu có thể. Lão Tử nói muôn vật cõng âm mà ôm dương. Lão Tử cũng nói về cửa của huyền tẫn, gốc của trời đất. Đó là chỉ ra rằng âm dương hợp đức là gốc của sinh mệnh, nguồn của sự sống: chỉ âm thì không lớn, chỉ dương thì không sinh.

Chỗ huyền bí của phép song tu, theo sách, là thần giao mà hình không giao, tức mượn hình dáng của người đối diện để dẫn một dương sinh của chính mình, rồi cho đi qua chu thiên lớn nhỏ, đưa tinh hóa thành khí, giữ ở đan điền, hoàn thành con đường tu đạo luyện đan. Nó không giống chuyện giao cấu của người thường, và cũng không thể nói cùng một trời với những môn phái tà đạo. Theo Trần Chí Hư, kẻ hành tà đạo thì không thể gặp Như Lai. Phép ấy được mô tả là hai bên chỉnh quần áo, ngồi nghiêm trang, không tà niệm, không vọng tưởng, chỉ tập trung thần hợp khí. Lý luận này về sau được một số phòng trung thuật mượn dùng, nhưng tuyệt nhiên không ngang bằng với phòng trung.

Tôn chỉ của nội đan, nói cho cùng, là đạt tới vô dục, vô vi. Đó là mốc cao nhất của việc luyện đan trong, và cũng là chỗ khác lớn nhất giữa nó với những lối luyện khí thông thường.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện