Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Dịch vĩ: ba nghĩa chữ Dịch, chín cung Thái Nhất và quái khí

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202611 phút đọc3 lượt đọc
Dịch vĩ: ba nghĩa chữ Dịch, chín cung Thái Nhất và quái khí

Trước khi có trời đất, theo người Hán, có một thứ khí nhìn không thấy, nghe không nghe, tìm không ra, và họ đặt tên nó là Dịch. Từ đó họ lần ra ba nghĩa của một chữ, đường đi của vị thần Thái Nhất qua chín cung, và cách tám quẻ ứng với tám tiết trong năm. Còn một chuyện nữa: tên người viết bộ vĩ thư ấy đã mất hẳn...


Sau mười thiên giải thích kinh Dịch, bộ vĩ thư đời Hán được xem là tác phẩm lớn kế tiếp của Dịch học. Vĩ thư là loại sách đứng cạnh kinh để diễn giải kinh, và Dịch vĩ là bộ vĩ thư của Dịch. Bộ sách không ghi tên người viết, ra đời vào thời Tây Hán, và có sức ảnh hưởng lớn tới cả hai nhánh tượng số lẫn nghĩa lý của Dịch học về sau.

Bản gốc đã thất lạc từ lâu. Trịnh Huyền thời Đông Hán chú giải tám cuốn của bộ này: Càn tạc độ, Càn khôn tạc độ, Kê lãm đồ, Khôn linh đồ, Thông quái nghiệm, Thị loại mưu, Biện chung bị và Càn nguyên tự chế ký. Bản chú của ông rồi cũng mất. Sang đời Minh, đời Thanh, nhiều người kiên nhẫn nhặt lại từng mảnh: Cổ vi thư của Tôn Nghị đời Minh, Hoàng thị dật thư khảo của Hoàng Thích, Ngọc hàm sơn phòng tập dật thư của Mã Quốc Hàn, trong đó bộ Thất vĩ của Triệu Tại Hàn tương đối đầy đủ. Vĩnh lạc đại điển, Tứ khố toàn thư và Tứ bộ tùng khan cũng đều có chép.

Trong tám cuốn ấy, quý nhất là Càn tạc độ. Nó ngang hàng với Hệ từ của Dịch truyện, lại mở rộng thêm nhiều ý sâu, nên suốt hai nghìn năm vẫn là chỗ để người nghiên cứu Dịch quay về tra cứu.

Một chữ Dịch chứa ba nghĩa

Trước khi bàn trời đất sinh ra thế nào, cần hỏi chữ Dịch rốt cuộc nói điều gì: đổi thay, hay không đổi?

Câu trả lời của Càn tạc độ là: cả hai, và còn thêm một nghĩa thứ ba. Chữ Dịch gồm giản dịch, biến dịch và bất dịch. Giản dịch là sự giản lược mà vẫn thâu được lý của trời đất, phối hợp khéo với đức của vạn vật. Biến dịch là lẽ cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu bền. Bất dịch là nghĩa chưa từng được gọi tên trong Hệ từ, dù ý của nó đã nằm sẵn ở đó, và Càn tạc độ là nơi hai chữ ấy lần đầu hiện ra.

Bất dịch ở đây không phải sự đứng yên chết cứng. Động tĩnh vốn luôn có, cương nhu đi cùng nhau mà đổi chỗ, nhưng trong cái động lại giữ một mức cân bằng nhất định. Cho nên động là tuyệt đối, còn cái không đổi chỉ là tương đối, và hai điều ấy thống nhất trong cùng một phép biện chứng. Về sau, khi viết Dịch luận, Trịnh Huyền đã dựa vào đây để xác lập ba nghĩa của chữ Dịch, khiến quan niệm biến dịch của Chu Dịch trở nên đầy đặn hơn.

Thái Dịch, cái khí chưa ai thấy

Chu Dịch bắt đầu kể từ thái cực. Còn trước thái cực thì sao?

Dịch vĩ đáp rằng trước đó là một giai đoạn hỗn luân, nhìn không thấy, nghe không nghe, tìm không ra, và gọi nó là Dịch. Từ đây sách lần lượt đặt tên các bậc: Thái Dịch là cái khí chưa thấy; Thái Sơ là đầu mối của khí; Thái Thủy là đầu mối của hình; Thái Tố là đầu mối của chất. Khí, hình, chất đã đủ cả nhưng còn quấn vào nhau, chưa tách ra, nên mới gọi là hỗn luân.

Dịch biến thành một, một biến thành bảy, bảy biến thành chín; chín là chỗ cùng tột của khí, rồi trở lại một.

Cái "một" ấy là khởi đầu của biến hình. Phần nhẹ và trong bay lên làm trời, phần nặng và đục chìm xuống làm đất. Muôn vật đều trải ba giai đoạn là thành hình, đầy đặn rồi suy tàn, nên quẻ Càn có ba nét; có Càn có Khôn, có âm có dương thì vạn vật được dựng lại, và quẻ mới thành sáu nét.

Cách nhìn này gần với ý "đạo sinh một", "có sinh từ không" của Lão Tử hơn là câu "Dịch có thái cực" của Dịch truyện, nên người ta xếp nó vào dòng suy nghĩ của Đạo gia. Nhưng Dịch vĩ cũng nhấn mạnh khí, hình, chất đều đủ và không rời nhau, nghĩa là vũ trụ vẫn được dựng bằng chất liệu thật chứ không chỉ là cái hư vô. Chính chỗ đứng hai bên ấy làm cho thuyết Thái Dịch có sức thúc đẩy lâu dài với bản thể luận của Dịch học.

Thái Nhất đi qua chín cung

Sao Bắc cực đứng yên giữa trời, sao Bắc đẩu quay quanh nó. Người xưa nhìn cảnh ấy và vẽ thành một đường đi gồm chín bước.

Thái Nhất là tên vị thần của Bắc Thìn, tức sao Bắc cực. Sao Bắc cực ở giữa đứng im, Bắc đẩu vây quanh một vòng, phối với mười hai địa chi thì thành "đẩu cương kiến nguyệt", tức xem chuôi sao Bắc đẩu chỉ hướng nào để biết tháng nào. Đem cảnh ấy đối với bốn phương chính và bốn phương góc của bát quái, ta có thuyết bát quái cửu cung.

Thái Nhất di chuyển trong chín cung; cộng theo hàng dọc, hàng ngang hay hàng chéo đều được mười lăm.

Trịnh Huyền chú thích: Thái Nhất lúc nào cũng đi giữa tám quẻ, qua bốn cung chính và bốn cung góc; đi hết bốn cung thì về lại cung trung ương, vì trung ương là chỗ ở của Bắc Thìn nên mới gọi là chín cung. Hành trình bắt đầu từ Khảm, tới Khôn, tới Chấn, tới Tốn, đi được nửa đường thì dừng ở trung cung; rồi lại đi từ Càn, Đoài, Cấn, Ly, và hết một vòng. Mặt trời xuất phát từ giờ Tý, mặt trăng xuất phát từ giờ Ngọ, và việc Thái Nhất dời cung được tính theo nhịp mọc lặn ấy.

Thuyết này mọc trên hai gốc: một là thuyết quái khí của Kinh Phòng, hai là tri thức thiên văn về Thái Nhất đổi cung. Nhờ vậy nó nối được tin tức của âm dương với phương vị của bát quái, thống nhất cả thời gian lẫn không gian. Ảnh hưởng của nó lan khá xa:

  • Trong bói toán, thứ tự phi cung của Kỳ môn độn giáp đi theo thứ tự cửu cung của Dịch vĩ, và thuyết phương vị bát quái cũng nhờ đó mà vững hơn.
  • Trong y học, thiên Cửu cung bát phong của Hoàng đế nội kinh phát triển thêm một bước, gắn chặt chín cung với hai mươi bốn tiết khí và đẩu cương kiến nguyệt.
  • Với Lạc thư, chú giải của Trịnh Huyền về thứ tự đi qua chín cung đặt nền cho số học của Lạc thư, mở đường cho hình đồ Lạc thư về sau.

Càn khôn tạc độ: mở con đường của trời, mở cửa của đất

Tạc là khai mở. Mở xong đường trời, còn phải mở cửa đất mới có muôn vật.

Cuốn này có vị trí gần với phần Văn ngôn của Dịch truyện. Nói về Càn, nó cho rằng đạo Càn lớn lao nên mượn cửa trời để gọi tên; thánh nhân khai mở con đường của trời để làm sáng tỏ nguồn gốc của vạn vật. Nếu đục xuyên được vòm trời thì sẽ thấy trạng thái hỗn độn: một khí chưa chia, nguyên khí lắng thì thành âm dương, vận hành của Dịch bắt đầu và vạn vật được sinh ra. Nguyên khí ấy do âm dương vận chuyển mà thành, và chuyển động không ngừng.

Từ đó có câu người xưa biến khí thành Dịch, vẽ quẻ thành tượng. Bát quái, theo cách hiểu này, bắt nguồn từ sự chuyển động của trời trong vũ trụ chứ không phải từ tưởng tượng của riêng ai. Cũng từ đó có ý tượng trước số sau: Dịch bắt nguồn từ cái không, cái không hòa vào cái có, lý của cái có hiện thành hình, hình hiện thành tượng, rồi sau tượng mới có số. Con số, vì vậy, là sản phẩm biến hóa của vũ trụ, không phải thứ có trước.

Về phía Khôn, sách nhấn mạnh Khôn không chỉ là tên của đất mà là tác dụng của đất, vì vạn vật trong đất đều được thần hóa. Khôn mẫu vận động thì nguyên khí đi lên, vạn vật liên tục sinh ra; sách mượn hình ảnh Nữ Oa để nói về sức sinh nở ấy. Khôn có đức dày, có thế, nhiều lợi, thuần âm; âm cực thì nhu cực, nhu cực thì cương sinh ra. Trịnh Huyền chú rằng nếu nguyên khí không bị xâm hại, vạn vật tự hiển lộ; nếu bị xâm hại, vạn vật sinh ra không đúng thời và không được nuôi dưỡng. Nói cách khác, Khôn hóa và Càn hóa quan trọng như nhau: khí của Khôn không hòa thì khí vận bị tắc, địa khí không thông.

Kê lãm đồ: quái khí khởi từ quẻ Trung phu

Mùa đông, đất còn đóng băng, nhưng ngay giữa tháng mười một đã có một sợi dương khí rất nhỏ thức dậy.

Kê lãm đồ nêu rằng quái khí khởi từ quẻ Trung phu, vào tháng mười một. Theo Trịnh Huyền, quái khí là dương khí, mà Trung phu là tên quẻ, trung là hòa, phu là tin; chọn Trung phu để tượng trưng cái vi tế lúc dương khí vừa nhú. Dương khí sinh ra từ yếu, lớn dần tới mạnh rồi suy, và đó cũng là quy luật suy thịnh của âm dương.

Thuyết quái khí vốn có từ Mạnh Hỷ, nói về khí của trời đất. Kê lãm đồ, qua tay Trịnh Huyền, đưa nó thêm vào đời sống người: khi hào dương ở trên mạnh thì nghe rõ tiếng sấm, và Trịnh Huyền hiểu rằng thế là bề tôi mạnh, vua yếu. Quái khí thành một thứ để đọc cả tình hình xã hội.

Sách còn xếp sáu mươi quẻ vào mười hai địa chi, mỗi chi năm quẻ. Chi Dần có Tiểu quá, Mông, Ích, Tiệm, Thái; chi Mão có Nhu, Tùy, Tấn, Giải, Đại tráng; chi Tý có Vị tế, Kiển, Di, Trung phu, Phục; và cứ thế cho tới đủ mười hai chi. Mạnh Hỷ thì ghép sáu mươi quẻ với sáu mươi luật, mỗi quẻ coi sóc sáu ngày bảy phần. Hai cách chia khác nhau nhưng cùng một ý: đem quái khí buộc vào lịch pháp.

Thông quái nghiệm: tám quẻ ứng tám phương, tám tiết

Khí của một quẻ không đến đúng lúc thì trời đất và cả việc người đều lạc nhịp.

Thông quái nghiệm gắn tám quẻ với phương hướng và tiết khí: Càn ở tây bắc, chủ lập đông; Cấn ở đông bắc, chủ lập xuân; Tốn ở đông nam, chủ lập hạ; Đoài ở tây, chủ thu phân; Khảm ở bắc, chủ đông chí; Chấn ở đông, chủ xuân phân; Ly ở nam, chủ hạ chí; Khôn ở tây nam, chủ lập thu. Mỗi quẻ lại có một thời khắc và một màu khí đi cùng: Khảm đứng vào nửa đêm, khí đen xuất; Cấn lúc gà gáy, khí vàng xuất; Chấn lúc mặt trời mọc, khí xanh xuất; Ly giữa trưa, khí đỏ xuất; Khôn vào chiều, khí vàng xuất; Càn, Đoài khí trắng. Ngũ hành vì thế được cài vào quái khí.

Cuốn sách cũng tính cả hậu quả khi khí không tới. Ba tháng xuân mà khí quẻ không đến, mặt trời mất ánh sáng, vua mất ngôi, bề tôi mưu phản. Ba tháng hạ khí không đến, gió lớn quật gãy cây đổ nhà, có động đất. Ba tháng thu khí không đến, vua mải việc ngoài mà trong nhà thiếu thận trọng, quan hình án sao nhãng, nạn hạn xảy ra. Ba tháng đông khí không đến, khí đỏ hiện ra, trong trăm hai mươi ngày có binh đao, rồi nạn đói kém theo sau.

Điều bộ vĩ thư để lại

Vĩ thư có chỗ đáng tin, có chỗ nghiêng về điềm báo, nhưng không thể thiếu khi muốn hiểu Dịch học đời Hán.

Càn tạc độ là sự phát huy Hệ từ, Càn khôn tạc độ là sự phát triển của Văn ngôn; Kê lãm đồ, Thông quái nghiệm, Khôn linh đồ, Thị loại mưu và Càn nguyên tự chế ký là những phần bàn rộng thêm quanh Dịch. Đóng góp lớn của cả bộ có thể gom lại ba điểm.

Một là thuyết bất dịch, thuyết Thái Dịch và thuyết cửu cung, nâng cao quan niệm biến dịch, bản thể luận và phương vị của bát quái. Hai là cách bàn nguyên khí, khí hóa và khí số của Càn Khôn, góp lớn vào Dịch học tượng số, còn Kê lãm đồ và Thông quái nghiệm thì thúc đẩy thuyết quái khí. Ba là thuyết cửu cung và bát quái phương vị, lan sang lịch pháp, y học và bói toán, đồng thời đưa Dịch học vào dân gian.

Riêng phần quái khí thời Hán, nơi tai dị được gán thẳng vào chính sự, có phần nghiêng về tiên đoán, nhưng thuyết quái khí của Mạnh Hỷ và Kinh Phòng thì không thể vì thế mà gạt đi. Với ba điểm trên, Dịch vĩ vẫn là một văn hiến quý giá của Dịch học.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện