Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Trịnh Huyền chú Dịch vĩ bằng ngũ hành và hào thần

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Trịnh Huyền chú Dịch vĩ bằng ngũ hành và hào thần

Dạy nghìn học trò, bị bắt giam trong cơn biến loạn, ra tù ông đóng cửa ở nhà chú giải kinh điển. Trong tay ông, sáu hào của một quẻ bỗng đứng vào mười hai tháng của một năm. Cách ông sắp chúng nói lên điều gì về cách người Hán nhìn thời gian?


Người dạy nghìn học trò, đóng cửa chú giải kinh điển sau cơn biến loạn

Trịnh Huyền sống từ năm 127 đến năm 200, người đất Cao Mạt thời Đông Hán, tự là Khang Thành. Ông nổi tiếng là bậc đại sư về kinh học, đại gia về Dịch học, tinh thông ngũ hành, và là người đầu tiên nối nghiệp Dịch học họ Kinh. Lúc đầu ông học Dịch học họ Phí, sau đó theo nhà kinh học Mã Dung để học các kinh cổ văn. Học xong, ông về quê dạy ngũ kinh, học trò đông đến nghìn người.

Gặp lúc vua Hán Linh đế có cuộc biến giữa hoạn quan và đại thần, ông bị bắt giam. Ra tù, ông đóng cửa không đi đâu, ở nhà viết sách. Ông đọc nhiều kinh sách, chú giải nhiều kinh sách, và qua những trước tác ấy, qua những kiến giải ấy, hình thành nên môn Trịnh học.

Về ngũ kinh, ông hầu như chú giải toàn bộ. Riêng Dịch, ông để lại Chu Dịch chú, Dịch tán, Dịch luận; Tùy thư ghi Chu Dịch chú chín quyển. Tác phẩm nổi tiếng nhất là Dịch vĩ chú, được chép trong Tứ khố toàn thư. Điểm riêng của sách này là dùng hào thần và ngũ hành để bàn Dịch, nên nó thành tập đại thành của phái tượng số đời Hán. Ông còn chú Mao thi tiên, Chu lễ, Nghi lễ, Lễ ký. Đời sau có Trịnh Trân đời Thanh soạn Trịnh học lục bốn quyển để giữ lại học thuật của ông, Vương Ứng Lân đời Nam Tống soạn Chu Dịch Trịnh Khang Thành chú, Mã Quốc Hàn soạn Tân bản Trịnh thị Chu Dịch, Viên Quân đời Thanh soạn Trịnh thị di thư. Bản Chu Dịch chú của chính ông đã thất lạc, những gì còn lại là qua sao chép và nhặt nhạnh; những tư liệu giữ trong Tứ khố toàn thư đều là chỗ dựa quan trọng để nghiên cứu Dịch học họ Trịnh.

Ông là học trò Mã Dung nên quan điểm học thuật giống thầy: trên cơ sở nối tiếp Dịch học họ Kinh mà phát huy học thuật họ Phí.

Ngũ hành chui vào số trời đất

Hai bộ con số xưa, một của Thượng Thư, một của Chu Dịch, được ông ghép làm một bản đồ có phương hướng.

Tùy thư ghi dòng truyền: Trần Nguyên và Trịnh Chúng đời Hậu Hán đều truyền học họ Phí, Mã Dung truyền cho Trịnh Huyền, Huyền viết Dịch chú; Tuân Sảng viết Dịch truyện; đến đời Ngụy thì Vương Túc và Vương Bật đều chú, từ đó học họ Phí hưng thịnh và học họ Kinh suy. Vậy từ Trịnh Huyền đến Vương Bật là thời giao thoa giữa hai dòng Kinh và Phí.

Trên nền bát quái và hào vị của Kinh Phòng, ông tiến thêm một bước: dùng ngũ hành giải thích số đại diễn và số trời đất của Dịch. Đây là mầm mống hình thành Hà đồ, Lạc thư về sau.

Số ngũ hành xuất hiện sớm nhất trong thiên Hồng phạm của Thượng Thư: một là nước, hai là lửa, ba là mộc, bốn là kim, năm là thổ; nước thì thấm xuống, lửa thì bốc lên, mộc thì cong thẳng, kim thì đổi theo, thổ thì gieo trồng. Về sau người ta nối số ngũ hành của Thượng Thư với số trời đất của Chu Dịch mà lập ra số sinh thành: trời một sinh thủy, đất hai sinh hỏa, trời ba sinh mộc, đất bốn sinh kim, trời năm sinh thổ; đất sáu thành thủy, trời bảy thành hỏa, đất tám thành mộc, trời chín thành kim.

Trên nền sinh thành ấy, Thượng Thư đại truyện nối số sinh thành với số đại diễn của Chu Dịch, thành số đại diễn ngũ hành của Trịnh Huyền. Ông viết: số trời đất là năm mươi lăm, thông khí với ngũ hành; phàm ngũ hành bớt năm, đại diễn lại bớt một nên còn bốn. Trời một sinh thủy ở phương bắc, đất hai sinh hỏa ở phương nam, trời ba sinh mộc ở phương đông; đất sáu thành thủy ở bắc, hợp với trời một; trời bảy thành hỏa ở nam, hợp với đất hai; đất tám thành mộc ở đông, hợp với trời ba. Ông còn dùng ngũ hành để giải số trời đất: khí của trời đất mỗi thứ có năm, theo thứ tự ngũ hành, một là thủy, số trời; hai là hỏa, số đất; ba là mộc, số trời; bốn là kim, số đất; năm là thổ, số trời.

Số ngũ hành đại diễn và số trời đất ngũ hành này có ảnh hưởng lớn đến Dịch học, với ba giá trị: làm phong phú cách nhìn ngũ hành trong Dịch lý, đặt nền cho lý luận tượng số, và là cội nguồn của Hà đồ, Lạc thư đời sau, qua đó đặt móng cho Dịch đồ học. Ông còn làm cho cơ sở ngũ hành âm dương của chiêm bốc đầy đủ hơn.

Đóng góp của ông với bộ Dịch vĩ còn nằm ở chỗ khác. Luận điểm của ông rõ ràng, khúc triết, nên Dịch vĩ càng tăng giá trị, nhờ đó nền tượng số học của Dịch có chỗ dựa để phát triển. Dùng hào âm dương để giải Dịch, giải thích việc chiêm một cách sâu sắc, ứng dụng triệt để quan điểm âm dương của Dịch, ông khiến sự phát triển của Dịch lý có thêm một tầng ý nghĩa. Công trình chú Dịch vĩ của ông gồm mấy mặt: phát triển thuyết hào thần, lấy kinh để giải vĩ, và dùng cả quan điểm của Lão Tử.

Hào thần: sáu hào đứng vào mười hai tháng

“Hào thần” vốn do Kinh Phòng tạo trong Dịch vĩ trên cơ sở nạp giáp, rồi Trịnh Huyền phát triển. Chữ “thần” ở đây nghĩa là ngôi sao; ông xếp mười hai hào của quẻ Càn và quẻ Khôn thành mười hai “thần”, mười hai ngôi sao, muốn dùng Dịch để lập một thuyết thiên văn. Cách làm là cho sáu hào của quẻ ứng với mười hai tháng trong năm. Cứ hai quẻ ứng một năm, sáu mươi bốn quẻ ứng một vòng ba mươi hai năm, bắt đầu từ hai quẻ Càn Khôn, kết thúc ở hai quẻ Ký tế và Vị tế. Mục đích là để quẻ và hào mang nội hàm thời gian, ứng với tiết khí.

Quy luật xếp giống quy luật nạp giáp: quẻ dương đi theo chiều thuận, quẻ âm đi theo chiều ngược. Quẻ Càn, quẻ dương, đi theo chiều trái: hào chín đầu ứng tháng mười một, hào chín hai tháng giêng, hào chín ba tháng ba, hào chín bốn tháng năm, hào chín năm tháng bảy, hào chín trên tháng chín. Quẻ Khôn, quẻ âm, đi theo chiều phải: hào sáu đầu tháng sáu, hào sáu hai tháng tám, hào sáu ba tháng mười, hào sáu bốn tháng mười hai, hào sáu năm tháng hai, hào sáu trên tháng tư.

Ông dùng thuyết hào thần để giảng quẻ, làm cho quẻ và hào có thêm nội dung thời gian, tin tức trong bói cỏ thi nhờ đó phong phú, và vì hào thần phản ánh quy luật tiêu trưởng của hai khí, nên nó làm nổi bật nét riêng của bói Dịch. Ví dụ giảng hào sáu năm quẻ Thái: hào thần ở Mão, giữa trưa mùa xuân, muôn vật sinh sôi, quý về việc kết hôn; tháng trọng xuân, làm lễ kết hôn cho nam nữ thì phúc lợi đại cát. Ý là tháng trọng xuân là tháng hai, khí dương lên cao, vạn vật vừa sinh, nam nữ kết hôn đúng lúc dương trưởng âm tiêu thì lợi cho sinh dưỡng nên đại cát. Giảng hào sáu đầu quẻ Tỷ, ông nói hào thần ở Mùi, gặp ở phía đông; nghĩa là chỉ ra phương hướng và thời gian gặp gỡ nếu bói ra quẻ ấy. Đặc điểm là dùng hào thần kết hợp với khí hóa âm dương để luận thuận nghịch thành bại của sự việc, phát huy nguyên lý tương ứng giữa người với trời đất.

Lấy kinh giải vĩ, lấy hào giải quẻ, lấy Lão Tử giải Dịch

Một nhà kinh học nghiêm cẩn cũng để cho gió từ phía Lão Tử lùa qua cửa sổ.

Cách làm của ông là lấy kinh để giải truyện. Ví dụ quẻ Bĩ có câu trời đất không biến là Bĩ; ông dùng câu trong Dịch rằng trời đất không có biến đổi thì khí không thông để giải. Ông là nhà kinh học lớn nên rất trọng kinh. “Càn tạc độ” trong Dịch vĩ tương đương với Hệ từ truyện; ông lấy kinh giải truyện, vừa là sự nghiêm cẩn khi làm sách vừa là sự nối tiếp việc kinh học hóa Dịch học của Khổng Tử.

Dịch lý lấy âm dương làm hạt nhân, còn lý luận tượng số lấy âm dương ngũ hành làm nền. Tượng của bát quái tự nó đã là thể thống nhất của âm dương ngũ hành; Thuyết quái nói rõ điều ấy: Càn là kim, Khôn là đất, Ly là lửa, Cấn là núi thuộc thổ, Đoài là đầm thuộc thủy. Công của ông là nối Dịch số với ngũ hành, khiến cách nhìn ngũ hành của Dịch lý giàu thêm.

Ông cũng dùng hào âm dương để giải Dịch, lấy tượng hào làm rõ quy luật tiêu trưởng của âm dương. Ông nối tiếp thuyết hai khí âm dương của Kinh Phòng, tăng cường việc chú giải, củng cố thêm nhiều tượng số học của Hán Dịch trên nền âm dương ngũ hành.

Điểm cuối cùng đáng chú ý: trong một vài chỗ giải Dịch ông có đưa quan điểm của Lão Tử vào. Điều này mở ra tiền lệ lấy Lão để giải Dịch, thúc đẩy sự hòa Dịch với Lão, và ảnh hưởng đến lối chú giải bằng Lão Trang của Vương Bật. Khi chú Dịch tam nghĩa trong Dịch vĩ, ông lấy tư tưởng vô vi, vô vật của Lão Tử để trình bày: noi theo Dịch mà vô vi thì tính của thiên hạ không thể không tự thành; có thể nói đạo Dịch là vô vi nên trời đất, vạn vật đều biến thông. Ông bác học đa tài, chú giải hầu hết các kinh, kể cả Mao thi và Chu lễ; việc lấy Lão Tử giải Dịch mở đường cho các nhà giải Dịch về sau, qua đó Dịch hòa nhập với bách gia chư tử.

Một thước đo của thời Hán

Trịnh Huyền là nhà kinh học và đại sư Dịch học nổi tiếng đời Hán. Công lớn nhất của ông là phát triển phái tượng số của Hán Dịch. Quan điểm tượng số thể hiện qua Chu Dịch chú và Dịch vĩ chú, tác dụng thúc đẩy rất lớn đối với tượng số học. Ông có vị trí cao trong thời độc tôn Nho thuật ở đời Hán, sống đúng lúc cổ kinh học thịnh hành, dùng phương pháp nghiên cứu “kim cổ kiêm thu” và thái độ nghiên cứu nghiêm túc, trở thành tấm gương cho người sau.

Đứng giữa chỗ giao nhau của Dịch học họ Kinh và họ Phí, ông kế thừa cả hai rồi phát huy, nên Chu Dịch chú và Dịch vĩ chú của ông có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của tượng số học Dịch.

Có thể nói Trịnh Huyền là tập đại thành của Dịch học đời Hán; Chu Dịch chú và Dịch vĩ chú của ông là hai kiệt tác bất hủ trong lịch sử Dịch học, vừa có đóng góp cho nghĩa lý lẫn tượng số, vừa là những sự kiện đánh dấu thời đại.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện