Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Người vượn Bắc Kinh và cội nguồn văn hóa Trung Hoa

Đạo Học - Khuyên Thiện30/09/202615 phút đọc2 lượt đọc
Người vượn Bắc Kinh và cội nguồn văn hóa Trung Hoa

Đêm 21 tháng 12 năm 1929, một nhà khảo cổ học Trung Quốc cúi xuống bên hố khai quật ở Chu Khẩu Điếm và nhặt lên một mảnh xương sọ khiến cả giới học thuật phương Tây phải nhìn lại những gì họ vẫn tin về lịch sử loài người. Từ mảnh xương ấy, hàng loạt phát hiện khảo cổ nối tiếp nhau suốt mấy chục năm sau dần dựng lại gương mặt của một nền văn minh 5000 năm tuổi. Chữ khắc trên mai rùa, vạc đồng chôn dưới lòng đất, trang sách chép tay còn sót lại trong động đá...


Những nét chính về văn hóa truyền thống Trung Quốc

Trên một lãnh thổ rộng hơn 960 vạn km² ở phần đông bán cầu có một nền văn hóa rực rỡ và lâu đời, một nền văn hóa lấp lánh những ánh hào quang của lịch sử 5000 năm văn minh - đó là nền văn hóa Trung Hoa. Hàng loạt các thành tựu khảo cổ đã bao lần làm chấn động thế giới là sự minh chứng cho bề dày lịch sử của văn hóa Trung Hoa. Nền văn hóa dân tộc này đã có những cống hiến to lớn cho sự phát triển của đất nước Trung Quốc và sự phát triển của văn hóa thế giới.

Văn hóa Trung Hoa có thể ví như một vườn hoa với trăm ngàn hoa đẹp đua nhau nở, khoe trăm sắc màu rực rỡ sáng tươi. Nền văn hóa vĩ đại, hoài thai một dân tộc vĩ đại - một dân tộc bất khuất kiên cường - một dân tộc đang vươn cánh bay lên.

Bùi Văn Trung phát hiện ra người vượn Bắc Kinh

Vào lúc bảy giờ tối ngày 21 tháng 12 năm 1929 đã diễn ra một sự kiện làm chấn động toàn thế giới: nhà khảo cổ học Trung Quốc Bùi Văn Trung phát hiện ra di vật xương sọ của người vượn Bắc Kinh, từ đó bác bỏ quan điểm sai lầm của các học giả phương Tây cho rằng lịch sử văn hóa Trung Quốc chỉ mới bắt đầu từ khoảng bảy, tám nghìn năm trước Công nguyên, và rằng Trung Quốc không có thời đại đồ đá. Việc phát hiện về "người Bắc Kinh" đã cung cấp những chứng cứ đầy thuyết phục cho lý luận "từ vượn đến người".

Phát hiện về người Nguyên Mưu ở Vân Nam

Ngày 1 tháng 5 năm 1965, tại cửa Cửu Long thôn Na Bang, huyện Nguyên Mưu, tỉnh Vân Nam, đã phát hiện ra hai miếng răng người hóa thạch. Phát hiện về người Nguyên Mưu này đã tuyên bố trước toàn thế giới một điều rằng: từ cách đây ít nhất 170 vạn năm, trên lãnh thổ Trung Quốc hiện nay đã có tổ tiên của người Trung Quốc sinh sống.

Tìm ra văn hóa Ngưỡng Thiều

Những phát hiện về đồ gốm màu ở Tây An năm 1921 đã đưa lịch sử văn minh Trung Quốc lùi xa hơn mấy ngàn năm. Những đồ gốm màu sắc rực rỡ, hoa văn hình học đẹp, bố cục hợp lý là chứng cứ vững chắc để khẳng định rằng người Trung Quốc từ 6000 năm về trước đã bước vào thời đại văn minh.

Phát hiện về tiền thân của chữ giáp cốt

Những ký hiệu khắc trên các sản phẩm gốm tìm thấy được ở Bán Pha - Tây An năm 1954 thuộc di chỉ văn hóa Ngưỡng Thiều đã đánh dấu một thời đại văn minh ký hiệu có từ cách đây 6000 năm, là hình ảnh tượng trưng của cái nôi văn minh Hoa Hạ thời kỳ đầu.

Vương Ý Vinh phát hiện ra chữ giáp cốt

Năm 1899, nhà kim thạch học Vương Ý Vinh đã phát hiện ra chữ giáp cốt trên xương hóa thạch của một loại động vật khiến cả thế giới đều rất quan tâm chú ý. Phát hiện này là lời tuyên bố trước toàn thế giới rằng Trung Quốc từ cách đây 3000 năm đã có hẳn một hệ thống chữ viết. Những miếng xương hóa thạch được tìm thấy ở làng Tiểu Đồn, thành phố An Dương, tỉnh Hà Nam, đã mở ra tấm màn của lịch sử văn minh Trung Quốc.

Đào được vạc Tư Mẫu Mậu ở Ân Khư - An Dương

Vào năm 1939, người ta đã đào được vạc Tư Mẫu Mậu ở Ân Khư (An Dương). Đây là chiếc vạc bằng đồng đen lớn nhất thời nhà Thương của Trung Quốc. Phát hiện này đã chứng minh trước toàn thế giới rằng ngay từ thời xa xưa, Trung Quốc cổ đại đã lấy "cửu đỉnh" - chín cái vạc đồng - làm biểu tượng cho quyền lực quốc gia, chín vạc đồng tượng trưng cho chín châu, đồng thời nói lên những thành tựu to lớn của văn hóa đồng đen Trung Quốc.

Phát hiện ra tổ tiên của loài người có nguồn gốc từ Trung Quốc

Giữa tháng 5 năm 1995, hội nghị toàn quốc tổ chức ở Thạch Gia Trang nghiên cứu thảo luận về động vật có xương sống cổ và nhân loại thời cổ đại đã công bố một tin tức làm sửng sốt cả thế giới: hàng loạt các xương hóa thạch của động vật cổ được phát hiện ở trấn Thượng Hoàng, thành phố Lật Dương, tỉnh Giang Tô, đã chứng minh một điều rằng Thượng Hoàng chính là một trong những cái nôi của nhân loại.

Phát hiện này cùng với hơn 50 loại di tích động vật có vú hóa thạch đã tìm thấy được ở Thượng Hoàng từ trước đến nay đã cho thấy từ cách đây 45 triệu năm, Thượng Hoàng đã là một vùng rừng núi rậm rạp, thực vật phong phú tươi tốt, rất thích hợp cho sự sinh sống của các loại động vật cổ.

Từ thập kỷ 60, người ta cho rằng động vật có xương sống bậc cao, bao gồm cả con người, có khởi nguồn từ Bắc Phi (Ai Cập và Angiêri) do phát hiện sớm nhất về loài động vật này là ở Bắc Phi. Song trên thực tế, thời đại sinh sống của loài động vật này được tìm thấy trong di tích quần thể động vật ở Thượng Hoàng còn sớm hơn so với ở Bắc Phi từ 8 triệu đến 10 triệu năm.

Khổng Tử chỉnh lý Lục Kinh

Năm 551 trước Công nguyên, Khổng Tử - một thánh nhân văn hóa tầm cỡ thế giới, một nhà giáo dục, nhà tư tưởng vĩ đại - được sinh ra ở núi Ni Ấn, cách huyện Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông 25 km về phía đông nam. Khổng Tử đã chỉnh lý Lục Kinh, bao gồm Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Nhạc và Kinh Xuân Thu, từ đó mà nền văn hóa truyền thống Trung Quốc được truyền bá tương đối rộng rãi. Sự xuất hiện của Khổng Tử đã mở ra kỷ nguyên mới cho sự phát triển văn hóa truyền thống Trung Quốc. Nhất là tôn chỉ "hữu giáo vô loại" - giáo dục không phân biệt - của ông đã đánh vào sự lũng đoạn, độc quyền trong nền giáo dục của giai cấp quý tộc, mở ra một trang mới huy hoàng trong lịch sử giáo dục Trung Quốc.

Thư tịch Trung Quốc, một kho tàng đồ sộ

Thư tịch của Trung Quốc - một kho tàng đồ sộ tưởng như không giới hạn - là sự tụ hội của dòng chảy văn hóa Trung Quốc qua 5000 năm, mỗi một quyển sách là một vì tinh tú lấp lánh ánh sáng tri thức. Thư tịch không chỉ là tài sản tinh thần quý báu của nhân dân Trung Quốc mà còn có ý nghĩa như những cống hiến lớn lao rực rỡ nhất của Trung Quốc đối với toàn nhân loại.

Kinh Dịch, sự kết tinh của trí tuệ Trung Hoa

So với Kinh Thánh, Kinh Côran, kinh Phệ Đà, thì Kinh Dịch là sự kết tinh 3000 năm trí tuệ Trung Quốc cổ đại mà ánh sáng huy hoàng rực rỡ của nó có thể khiến lu mờ nhật nguyệt: Kinh Dịch là vì sao chói lòa vụt lên từ mặt đất phương Đông, tỏa ánh sáng ra vạn trượng. Kinh Dịch không chỉ là điểm khởi nguồn vĩ đại cho dòng chảy văn hóa truyền thống mà còn là cội rễ vĩ đại của tư duy triết học Trung Quốc. Kinh Dịch cũng là nhân tố cơ bản tạo nền móng cho các đạo lớn ở Trung Quốc như Nho, Đạo, Phật. Từ sự nỗ lực phi thường và trí thức uyên bác của Khổng Tử, Kinh Dịch trở thành cuốn sách hàng đầu trong mọi loại sách, có tác dụng kế thừa và phát huy văn hóa tư tưởng Trung Quốc đến muôn đời. Đây cũng là một minh chứng cho sự thật lịch sử "ánh sáng đến từ phương Đông" - quang minh lai tự đông phương.

Dịch truyện, ngọn tháp của tư duy phương Đông

Dịch truyện là tác phẩm lớn tập trung cao độ nền lý luận duy vật và biện chứng của tư tưởng Trung Quốc cổ đại, là ngọn tháp của hệ thống tư tưởng phương Đông. Dịch truyện ra đời trong thời Xuân Thu Chiến Quốc, đã rọi sáng con đường phát triển của triết học cổ đại Trung Quốc, cùng với sự đề cao nhân sinh quan "tự cường không nghỉ" - tự cường bất tức - từ mấy ngàn năm đã tôi luyện hun đúc nên thứ tinh thần, khí chất rất riêng của người phương Đông.

Luận ngữ, tác phẩm đánh dấu thời đại

Sự ra đời của Luận ngữ - một tác phẩm lớn mang tính vạch thời đại trong lịch sử Trung Quốc - đã khẳng định cơ sở lý luận lấy nhân nghĩa làm tâm điểm của Trung Quốc cổ đại, có tác dụng "nhật nguyệt tranh hôn" đối với sự tôi luyện tinh thần, tiết tháo của con người theo những lý luận của Trung Quốc xưa. Từ đó mà Luận ngữ có được những cống hiến lớn mang tính thời đại cho việc hạn chế truyền thống không tiếp thu tôn giáo ở Trung Quốc.

Matteo Ricci đến Trung Quốc, dựng nên cây cầu nối liền văn hóa Đông Tây

Vào thế kỷ XV, giữa năm Vạn Lịch, một giáo sĩ của đạo Thiên Chúa người Italia đã đem những tác phẩm "Luận ngữ", "Đại học", "Trung Dung", "Mạnh Tử" và "Kinh Dịch" về và phổ biến ở phương Tây, mở ra tấm màn bí ẩn về Nho học Trung Hoa, dựng nên cây cầu nối liền văn hóa Đông Tây.

Lão Tử, tác phẩm tìm hiểu những bí mật của vũ trụ

Lão Tử là tác phẩm đề cập đến một lý tưởng xã hội hoàn toàn đối lập với lý tưởng mà Luận ngữ của Khổng Tử nói tới. Nếu Luận ngữ đưa ra chủ trương "hữu vi nhi trị" - lấy hành động để trị - thì Lão Tử lại đưa ra chủ trương "vô vi nhi trị" - trị mà không hành động. Luận ngữ nghiên cứu về quy luật vận động của xã hội, Lão Tử lại nghiên cứu, khám phá những quy luật và bí mật của vũ trụ. Chính vì Lão Tử đã áp dụng quan điểm về vũ trụ "hữu sinh vu vô" - có sinh không tử - để nhìn vào những vấn đề xã hội nên đã dẫn đến sự sai lầm cơ bản hay sự thất bại triệt để của tính xã hội học trong đó. Tuy vậy, Lão Tử vẫn không bị mất đi ý nghĩa triết học to lớn mà vẫn giữ được vị trí là một báu vật trong kho tàng thư tịch triết học Trung Quốc.

Ảnh hưởng của Lão Tử đối với thế giới cũng không nhỏ. Cuốn sách đã hoàn toàn thuyết phục được tổng thống Mỹ Kennedy chỉ với câu "Trị đại quốc như phanh tiểu tiên" - trị một nước lớn cũng như việc nấu một món ăn tươi vậy.

Binh pháp Tôn Tử, cuốn kinh thư đầu tiên của nhân loại

Binh pháp Tôn Tử, tác giả là "thánh binh" Tôn Vũ, là cuốn kinh thư đồ sộ, kết tinh của tư tưởng biện chứng Trung Quốc cổ đại, được xem là cuốn sách cổ về binh pháp có giá trị nhất của Trung Quốc. Đã mấy ngàn năm qua, cuốn sách vẫn luôn được các nhà binh pháp, các nhà y học, cơ mưu, thương gia xem là vật báu. Văn bản cổ nhất còn lại tới nay là bản thẻ đào được năm 1972 trong một ngôi mộ cổ thời Tây Hán ở Ngân Tước Sơn, tỉnh Sơn Đông. Cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng - Nhật, Hàn, Anh, Pháp, Đức, Nga, Việt... - và được tôn vinh là "thiên hạ đệ nhất binh thư".

Sử ký, tác phẩm văn học toàn bích của nhà viết sử

Được Lỗ Tấn đánh giá là một "tập Ly Tao không vần", Sử ký - tác phẩm văn học toàn bích của sử gia Tư Mã Thiên - cùng với cuốn sử về chiến tranh Ba Tư của Hy Lạp cổ đại là hai viên ngọc chói sáng trong nền sử học thế giới. Sử ký là cuốn thông sử đầu tiên bao gồm mọi mặt của xã hội, lại cũng là một tác phẩm văn học ưu tú, đã trở thành mẫu mực cho nền văn học và sử học Trung Quốc.

Tứ đại phát minh, bó đuốc rực sáng của nền khoa học nhân loại

Tứ đại phát minh là chiếc rìu dời núi vĩ đại của văn minh nhân loại, có tác dụng thúc đẩy to lớn đối với sự phát triển của nền văn minh thế giới. Trong lịch sử khoa học Trung Quốc, tứ đại phát minh - bốn phát minh lớn - chính là: kỹ thuật làm giấy, kim chỉ nam, thuốc súng và kỹ thuật in ấn. Tứ đại phát minh có ý nghĩa rất quan trọng bởi đây là thành tựu có được từ sự tiếp thu ánh sáng văn hóa khoa học thế giới từ buổi bình minh.

Trung Quốc phát minh ra kim chỉ nam vào thời Chiến Quốc, đến cuối thế kỷ XII đầu thế kỷ XIII thì phát minh này truyền sang Ả Rập theo đường biển rồi từ đó truyền sang châu Âu, mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành hàng hải thế giới vào thế kỷ XIV. La bàn Trung Quốc cũng được truyền bá ở phương Tây sau khi nhà hàng hải người Ý Côlômbô vượt qua Đại Tây Dương và tìm ra châu lục mới là châu Mỹ dưới sự dẫn đường đắc lực của la bàn.

Thái Luân làm giấy, ánh bình minh của văn minh thế giới

Người Trung Quốc đã biết đến cách làm giấy từ thời Tây Hán vào thế kỷ I trước Công nguyên. Năm 105, Thái Luân - ông tổ của nghề làm giấy, người thời Đông Hán - đã có những cải tiến quan trọng trong kỹ thuật làm giấy khi làm ra được loại giấy tốt hơn, có chất lượng cao hơn trước đó rất nhiều. Đến thời kỳ Lưỡng Tấn thì kỹ thuật làm giấy đã được truyền sang Triều Tiên, Nhật Bản. Năm 751 được truyền sang phương Tây qua cuộc chiến tranh giữa nhà Đường với các nước Ả Rập lên bờ sông Nil và có ảnh hưởng rất lớn, rất thiết thực đối với phong trào phục hưng nghệ thuật ở châu Âu.

Thuốc nổ

Trung Quốc đã phát minh ra thuốc nổ vào khoảng thời Đông Hán, thế kỷ VI trước Công nguyên. Đến thế kỷ XII thì truyền sang Ả Rập, qua Ấn Độ. Thế kỷ XIV mới được truyền tới châu Âu. Sự ra đời của thuốc nổ có một ý nghĩa, giá trị lớn lao như tổng thống Mỹ Truman từng nói: "Thuốc nổ chính là tín hiệu quan trọng cho sự chuyển mình từ thời kỳ trung cổ sang thời kỳ hiện đại hóa của nhân loại". Nhưng một điều đáng tiếc là, những người ngoại quốc sau khi có được súng ống trong tay lại đem nó chĩa vào chính người Trung Quốc - người đã phát minh ra thuốc nổ, cũng như khi Nobel phát minh ra loại chất nổ có sức công phá khủng khiếp thì không những phát minh đó của ông không thể gìn giữ được hòa bình thế giới mà còn trở thành công cụ để tiến hành chiến tranh thế giới, điều này đã dẫn đến những khổ đau, dằn vặt đáng tiếc trong cả cuộc đời ông.

Tất Thăng phát minh ra kỹ thuật in chữ rời

Người Trung Quốc đã biết đến kỹ thuật in từ thời Trung Đường, đặc biệt đến thời Bắc Tống đầu thế kỷ X, một người tên là Tất Thăng - sau này được xem là ông tổ của nghề in - đã phát minh ra kỹ thuật in chữ rời (hoạt tự), mở ra kỷ nguyên mới cho kỹ thuật in ấn. Sau đó kỹ thuật này đã được lan truyền rất nhanh sang các nước phương Đông khác như Triều Tiên, Nhật Bản, sau nữa là Ba Tư và các nước phương Tây khác. Đến thế kỷ XIV, Gutenberg (Johannes Gengsfleich) người Đức đã dùng kỹ thuật in chữ rời của người Trung Quốc để in ra cuốn Kinh Thánh khiến cả châu Âu phải ngỡ ngàng. Từ đó kỹ thuật in ấn không ngừng được cải tiến, thể hiện sự sáng tạo không ngừng của trí tuệ nhân loại.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực).

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện