Bài tổng quan
Tư trị thông giám, mười chín năm viết bộ sử làm gương
Một viên quan bất đồng với người cầm quyền đã xin về Lạc Dương, rồi lặng lẽ viết suốt mười chín năm để dâng cho nhà vua một tấm gương. Ông gom chuyện hưng và vong của hơn một nghìn ba trăm năm, mong người đời nay nhìn vào đó mà thấy cái được và cái mất của chính mình. Điều đáng chú ý là ông dám viết cả những bài học thất bại.
Mục lục · 8 phần
- 01Bộ sử biên niên dài nhất, trải mười sáu triều đại
- 02Tư Mã Quang: người học sử từ bảy tuổi, từ quan về Lạc Dương để viết
- 03Mười sáu “ký” và hai trăm hai mươi hai loại tư liệu
- 04Lời bình khách quan: thiện đáng noi, ác đáng răn
- 05Giá trị học thuật: tin cậy, ít truyền thuyết, khảo dị nhiều chiều
- 06Mở tiền lệ và để lại nhiều bộ nối tiếp
- 07Đặt cạnh Sử ký: hai người, hai thân phận, hai cách nhìn
- 08Mười ba đoạn đặc sắc: từ chỉ hươu thành ngựa đến nỗi khổ làm vua
Bộ sử biên niên dài nhất, trải mười sáu triều đại
Tư trị thông giám là một bộ sử chịu ảnh hưởng sâu của các nhà chính trị, nhà quân sự và nhà sử học, đồng thời kèm theo những lời bình về chính trị. Bộ sử chép từ năm 403 trước Công nguyên, năm thứ hai mươi ba đời Chu Uy Liệt vương, đến năm 959 đời Hậu Chu, tổng cộng một nghìn ba trăm sáu mươi ba năm, qua mười sáu triều đại.
Tác giả là Tư Mã Quang, nhà sử học triều Bắc Tống. Ông viết xong vào năm 1084 (năm thứ bảy niên hiệu Nguyên Phong của Tống Thần Tông), mất mười chín năm. Tống Thần Tông đã ban thưởng cho bộ sử này.
Đây là bộ thông sử thuộc loại biên niên, gồm hai trăm chín mươi bốn quyển, ngoài ra có ba mươi quyển “Mục lục” và ba mươi quyển “Khảo dị”. Chữ “Tư trị” là giúp nhà vua cai trị đất nước, chữ “Thông giám” là lấy thông sử làm tấm gương. Đây là bộ sử biên niên dài nhất trong sử học Trung Hoa. Đề tài chủ yếu là lịch sử chính trị hưng suy của các triều đại, phản ánh chính trị, quân sự, lịch sử, kinh tế và văn hóa của thời kỳ giữa của xã hội phong kiến Trung Hoa, một di sản văn hóa quý báu để đời sau noi theo. Về sau có rất nhiều người nghiên cứu bộ sử này, hình thành hẳn một ngành gọi là “thông giám học”.
Tư Mã Quang: người học sử từ bảy tuổi, từ quan về Lạc Dương để viết
Có những bộ sử chỉ có thể viết nên khi người viết rời khỏi sân khấu chính trị. Bộ sử này là một trong số đó.
Tư Mã Quang, tự Quân Thực (1019 – 1086), là đại thần và nhà sử học triều Bắc Tống, quê ở xã Thúc Thủy, huyện Hạ, Thiểm Châu (nay thuộc tỉnh Sơn Tây). Cha ông là Tư Mã Trì, làm tri huyện huyện Quang Sơn ở Quang Châu (tỉnh Hà Nam).
Ông thông minh nhanh nhẹn, bảy tuổi theo cha học sử, lớn lên thông thuộc thi, thư, sử tịch, rất thích đọc Xuân Thu và Sử ký. Hai mươi tuổi ông đỗ tiến sĩ. Cuối đời Nhân Tông, ông giữ những chức vụ gần vua, trong đó có việc giảng giải cho nhà vua. Từ đó ông vừa làm quan vừa bắt tay vào biên soạn lịch sử. Đến thời Tống Anh Tông, ông đã biên soạn xong tám quyển “Thông chí”, tiền thân của Tư trị thông giám, trình lên vua xem. Nội dung “Thông chí” bắt đầu từ năm thứ hai mươi ba đời Chu Uy Liệt vương (năm 403 trước Công nguyên). Tống Anh Tông xem xong rất coi trọng, sau đó ra lệnh tiếp tục biên soạn bộ “Lịch đại quân thần sự tích”. Khi Tống Thần Tông kế vị, nhà vua ban thưởng và đặt tên là “Tư trị thông giám”.
Sau đó công việc tiếp tục, Tư Mã Quang có hai trợ thủ là Lưu Thứ và Lưu Ban cùng hợp sức, quyết tâm hoàn thành toàn bộ công trình đồ sộ này. Trước hết họ thu thập và chỉnh lý tư liệu lịch sử, liệt kê mục lục, rồi khảo sát, hiệu chỉnh, sau đó mới bắt tay viết. Tư Mã Quang chịu trách nhiệm chỉnh lý cuối cùng và viết lời bình. Mười chín năm sau, bộ sách hoàn thành.
Thời Tống Thần Tông, Tư Mã Quang được bổ nhiệm làm phó sứ Khu mật, nhưng chính kiến của ông không hợp với Vương An Thạch, nên ông từ quan, chuyển đến Lạc Dương và âm thầm biên soạn. Sau khi Thần Tông mất, Tống Triết Tông kế vị, Cao Thái hoàng thái hậu phản đối cải cách của Vương An Thạch, ông được triệu về cung, giữ chức thượng thư tả bộc xạ kiêm môn hạ thị lang. Tám tháng sau ông ốm mất, được vua truy phong Ôn quốc công.
Trong lịch sử, Tư Mã Quang nổi tiếng như Tư Mã Thiên, một người có Sử ký, một người có Tư trị thông giám, và cả hai đều có cống hiến to lớn cho lịch sử Trung Hoa.
Mười sáu “ký” và hai trăm hai mươi hai loại tư liệu
Tư trị thông giám là bộ sử tinh túy và sâu sắc, tổng cộng gồm mười sáu “ký”, từ đầu thời Chiến Quốc đến thời Ngũ đại, trải qua một nghìn ba trăm sáu mươi ba năm: Chu ký năm quyển, Tần ký ba quyển, Hán ký sáu mươi quyển, Ngụy ký mười quyển, Tấn ký bốn mươi quyển, Tống ký sáu quyển, Tề ký mười quyển, Lương ký hai mươi hai quyển, Trần ký mười quyển, Tùy ký tám quyển, Đường ký tám mươi mốt quyển, rồi Hậu Lương ký sáu quyển, Hậu Đường ký tám quyển, Hậu Tấn ký sáu quyển, Hậu Hán ký bốn quyển và Hậu Chu ký năm quyển.
Các “ký” đều dùng hình thức biên niên, hoặc thể truyện ký, để ghi lại lịch sử và nhân vật nổi tiếng của từng triều đại. Để người đọc dễ nghiên cứu, Tư Mã Quang còn biên soạn phần phụ lục chú giải khá khoa học, tạo thuận lợi cho đời sau tra cứu. Ông tham khảo rất nhiều tài liệu: ngoài mười bảy bộ sử, ông còn dẫn chứng từ hai trăm hai mươi hai loại khác như tạp sử, dã sử, truyện trạng, phổ lục, thi ca.
Lời bình khách quan: thiện đáng noi, ác đáng răn
Tư Mã Quang rất chú trọng các sự kiện lịch sử, và sau khi chép xong, ông thường bình luận. Ông nói rằng bất kể nước lớn hay nhỏ, mọi sự kiện dẹp loạn chấn hưng đất nước đều vĩ đại cả. Nội dung lời bình chủ yếu là đánh giá đúng sai, sáng tối, thiện ác. Ông ngẫm lại lịch sử, kết hợp với hiện thực để giải quyết mâu thuẫn xã hội. Ông từng nói: nhìn vào cảnh hưng thịnh hay suy vong của người trước để khảo xét cái được và cái mất của hiện tại, phân biệt thiện ác, vui buồn. Từ đó ông răn dạy đời sau: điều thiện có thể làm phép tắc, điều ác có thể làm điều răn. Lời bình của ông có tính chính trị rất mạnh. Tống Thần Tông đánh giá đó là lời khuyên can có ý nghĩa sâu sắc. Tổng số các bài bình luận của ông trong bộ sử lên tới hơn hai trăm bài, phản ánh ý kiến của ông và có giá trị tham khảo quan trọng.
Ông viết Tư trị thông giám là để nhà vua và các quan đại thần xem, mong quân thần lấy lịch sử làm gương, rút bài học từ chuyện hưng suy để trị nước an bang. Ông là người kỳ tài trong lịch sử, bộ thông giám của ông hình thành từ “thông tài” và thông sử mà ra. Ông lại là một nhân sĩ chính giới, từng giữ chức thượng thư tả bộc xạ kiêm môn hạ thị lang, thường bàn chính sự với vua, nên càng thuận lợi cho việc viết thông sử. Lời bình của ông xoay quanh chủ đề chính là hưng suy lịch sử, còn mất của quốc gia, mục đích là lấy xưa làm gương để chấn hưng đất nước, lấy người làm gương để tìm đường sáng.
Trong bộ sử còn đăng một lượng lớn các bản tấu can gián của đại thần, bàn về phép trị nước, dùng người, dùng binh.
Giá trị học thuật: tin cậy, ít truyền thuyết, khảo dị nhiều chiều
Tư trị thông giám là bộ sử được biên soạn cẩn thận, bố cục chặt chẽ, mục lục khoa học, chú giải tỉ mỉ, tư liệu tin cậy. Đó là ưu điểm và cũng là giá trị lớn nhất cho người nghiên cứu đời sau. Bộ sử ít nhắc đến truyền thuyết, chú trọng từng chi tiết nhỏ, thường lấy phương châm “ba bốn nguồn trùng khớp mới cho là thực”. Nó rất chú ý tính trung thực của lịch sử, mắt thấy tai nghe, khảo dị nhiều chiều. Với tinh thần trách nhiệm, Tư Mã Quang biên soạn thêm ba mươi quyển “Khảo dị”, kèm lời giải thích nguồn gốc tư liệu, nên tư liệu được giữ lại không bị thất lạc.
Trong kho sử Trung Hoa có hai loại lớn: loại biên niên tiêu biểu là Tả truyện, loại truyện ký tiêu biểu là Sử ký. Tư Mã Quang đã kết hợp nhuần nhuyễn hai thể loại trong bộ sử bất hủ của ông. Ông không dùng riêng rẽ từng thể loại mà đan xen cả biên niên lẫn truyện ký, biên soạn xen kẽ nhân vật lịch sử với câu chuyện và sự kiện lịch sử. Nói cách khác, ông lấy “bản ký” trong chính sử làm đề cương, lấy “truyện” làm mục lục, kết hợp đề cương với mục lục để viết thành sách.
Ưu điểm của cách kết hợp này là làm cho quan hệ giữa nhân vật và sự kiện lịch sử gắn bó hơn, độ tin cậy của lịch sử cao hơn, câu chuyện mang tính lịch sử hơn, người đọc dễ hiểu hơn và tiện tra cứu nghiên cứu hơn. Một ưu điểm lớn nữa là tránh được việc lặp đi lặp lại nhân vật và sự kiện.
Phần lớn sách sử Trung Hoa đều có giá trị cả sử lẫn văn, từ Tả truyện, Sử ký đến sử Minh, sử Thanh. Trong Tư trị thông giám, Tư Mã Quang có bút pháp điêu luyện như Xuân Thu, văn chương sinh động như Sử ký, có không ít đoạn văn bay bổng.
Mở tiền lệ và để lại nhiều bộ nối tiếp
Sách sử Trung Hoa, vì xã hội phong kiến còn nhiều hạn chế, nhìn chung phần lớn vừa “sử” vừa “giám”, chỉ một số ít là “sử” mà không “giám”. Với bút pháp sắc sảo của mình, Tư Mã Quang phá tan cái “bóng đen” của Xuân Thu. Ông không những tổng kết kinh nghiệm thành công mà còn mạnh dạn viết cả bài học thất bại để làm gương, mục đích là phân biệt rõ mặt tốt với mặt xấu, trong sáng với đen tối. Dù còn bị hạn chế bởi điều kiện lịch sử và địa vị đương thời, nên với một số sự kiện trong chính quyền phong kiến tối cao ông không dám phê phán trực diện, nhưng Tư trị thông giám vẫn không mất ý nghĩa là tấm gương soi cho đời sau.
Bộ sử mở tiền lệ cho đời sau biên soạn lịch sử theo lối kết hợp nhuần nhuyễn thể biên niên và thể truyện ký. Nhiều bộ lớn lần lượt ra đời như “Tục tư trị thông giám”, “Tống Nguyên tư trị thông giám”, “Tư trị thông giám hậu biên”, “Minh thông giám”, “Tục kim tư trị thông giám”, đều dựa theo khuôn mẫu của nó, kế thừa phương pháp dẫn truyện và kết cấu trần thuật của Tư Mã Quang.
Trung Hoa là một quốc gia rất coi trọng sử giám, hầu như bộ sử nào cũng mang nội dung sử giám. Tư Mã Quang đặc biệt coi trọng điều này. Bộ sử ghi một lượng khá lớn bản tấu sớ và bài bình luận, nhằm giúp người đọc hiểu đạo lý lấy hưng suy lịch sử, còn mất quốc gia làm gương trị nước an bang. Sử giám trong bộ sách gồm: gương cho quân vương, can gián của đại thần, chiến sự của binh gia, điển chương lập pháp, chọn hiền tài, người giỏi việc nông. Mỗi mục đều có lời bình, ví dụ cơn giận của kẻ thất phu dẫn đến mất nước, Thương Ưởng chết thảm, Triệu Cao lấy hươu đo lòng người, chính biến Huyền Vũ Môn, bàn về cảnh trị và loạn của Đường Huyền Tông, Tào Tháo và thiên hạ chia ba, cái hại của bè đảng. Các lời bình ấy có ý nghĩa tham khảo rất lớn với bậc quân vương, nhà chính trị và nhà quân sự.
Đặt cạnh Sử ký: hai người, hai thân phận, hai cách nhìn
Sử ký và Tư trị thông giám là hai tác phẩm đặc sắc trong kho sử Trung Hoa. Sử ký là thông sử thuộc thể truyện ký, còn Tư trị thông giám là thông sử thuộc thể biên niên. Sử ký chép từ thời thượng cổ, qua tiên Tần đến triều Hán. Tư trị thông giám chép từ Đông Chu đến Ngũ đại. Cả hai bộ đều cách thời nay hơn nghìn năm.
Địa vị và tâm tính của Tư Mã Thiên và Tư Mã Quang khác nhau. Tư Mã Thiên chịu nỗi khổ của hình phạt cung, còn Tư Mã Quang địa vị cao, đứng hàng quan lớn. Vì thân phận và hoàn cảnh khác, góc nhìn bình sử của họ cũng khác. Tư Mã Thiên nói nhiều về cái xấu, Tư Mã Quang nói nhiều về cái tốt. Hai cách nhìn lịch sử khác nhau, nên khi đọc phải phân biệt rạch ròi, không được vơ đũa cả nắm.
Tư trị thông giám khéo kết hợp thể biên niên của Tả truyện với thể truyện ký của Sử ký, rất thuận tiện cho việc tra cứu theo mục lục và khảo dị, nên hoàn thiện hơn. Ngoài lời bình của chính tác giả, bộ sử còn trích đăng bài bình luận của nhiều người khác, nên càng mang ý nghĩa sử giám. Tư Mã Quang có địa vị xã hội cao, tư tưởng bảo thủ, khen nhiều chê ít. Còn Tư Mã Thiên chỉ là một viên quan hoạn, luôn sống trong thân phận thấp bé, nên sẵn sàng đả phá người bất đồng chính kiến, phân minh thiện ác, dám vạch trần mưu đồ đen tối của các thế lực trong triều. Nếu so sánh hai tác phẩm một cách khách quan thì khó nói cái nào hơn cái nào.
Mười ba đoạn đặc sắc: từ chỉ hươu thành ngựa đến nỗi khổ làm vua
Có những đoạn chỉ vài dòng nhưng gói cả một bài học trị nước. Dưới đây là những đoạn như thế.
Triệu Cao mượn hươu để đo lòng người. Thừa tướng Triệu Cao tham quyền trong triều Tần, sợ quần thần không phục, bèn dùng cách thử lòng. Ông dâng một con hươu cho vua Tần Nhị Thế rồi chỉ vào đó nói “ngựa đây”. Hoàng thượng cười: thừa tướng nhầm rồi, nói hươu là ngựa sao? Quay sang hỏi tả hữu, ai cũng im lặng, không ai dám nói là ngựa mà cũng chẳng ai dám bảo là hươu. Ai bảo là hươu thì Cao sẽ trị tội. Quần thần ai cũng sợ Cao nên không ai dám trái lời. (Tần ký.) Đó là chuyện chỉ hươu thành ngựa nổi tiếng.
Tào Tháo và thiên hạ chia ba. Ích Châu mục Lưu Chương nghe tin Tào Tháo tiến công Kinh Châu, sai Trương Tùng đến gặp Tào Tháo. Tùng là người nhỏ bé, tính phóng đãng, nhưng đi sứ rất khéo. Tào Tháo lấy được Kinh Châu, đuổi được Lưu Bị, quay sang lạnh nhạt với Tùng. Dương Tu khuyên Tháo không nghe. Tùng tức giận bỏ về, khuyên Lưu Chương đừng liên kết với Tháo mà liên minh với Lưu Bị, Chương nghe theo. Tư Mã Quang bình luận: sau khi lấy Kinh Châu, Tào Tháo lên mặt coi thường tất cả, bỏ lỡ cơ hội liên minh với Lưu Chương, nên dẫn tới thiên hạ chia ba, và mười năm mưu đồ thống nhất Nam Bắc của Tào Tháo bỗng chốc tan thành mây khói. (Hán ký.)
Cái hại của kéo bè kéo cánh. Tư Mã Quang viết: quân tử khác tiểu nhân như vàng mười khác vàng thau. Quân tử đắc vị thì tất loại tiểu nhân, tiểu nhân đắc thế thì tất gạt quân tử, đó là lẽ đương nhiên. Quân tử luôn chiêu nạp người hiền, hết lòng vì việc công, sống trung thực. Tiểu nhân khen người rồi lại hại người, toan tính lợi ích riêng, sống thủ đoạn. Người công tâm, trung thực thì thẳng thắn, kẻ ích kỷ, thủ đoạn thì kết bè kéo cánh. Vua anh minh, đức độ, thưởng phạt phân minh thì gian thần không lay nổi, nịnh thần không chuyển được. Hôn quân thì ngược lại. (Đường ký.)
Đắm chìm trong tửu sắc, quan trường tê liệt. Có người nói với Đinh Công Trước rằng nghe tin dân đồn quan trường suốt ngày chìm trong yến tiệc múa hát, chắc đất nước yên bình, cuộc sống no đủ. Công Trước đáp: như thế đâu phải hay, e đó là nỗi lo của hoàng thượng. Người hỏi: tại sao? Trước đáp: từ thời Thiên Bảo đến nay, công khanh cửu tước dự yến tiệc thâu đêm suốt sáng, làm khổ đàn bà con gái, hổ thẹn trước dân tình, như thế không được, làm hỏng quan trường, một mình bệ hạ làm sao thấu được. Mong sớm cấm chỉ, cho dân được nhờ. (Đường ký.)
Mất nước bởi cơn giận của kẻ thất phu. Tư Mã Quang bình: thái tử Đan nước Yên sai Kinh Kha giết Tần vương, nước Yên vì thế phải họa vong quốc.
Thương Ưởng chết thảm. Biến pháp Thương Ưởng thi hành được mười năm, làm quốc gia cường thịnh, nhưng ông đắc tội với thái tử nên bị lật đổ, chết thảm.
Giả Nghị bàn về sự tất vong của nhà Tần. Tư Mã Quang dẫn lời Giả Nghị trong bài bàn về những sai lầm của Tần: nhà Tần sẽ diệt vong dưới tay nông dân (chỉ cuộc khởi nghĩa của Trần Thắng). Nguyên nhân là “nhân nghĩa không được thi hành”, tức không đem chính sách nhân đức ra áp dụng.
Bàn về trị và loạn của Đường Huyền Tông. Phân ranh rạch ròi giữa cảnh trị và cảnh loạn: Huyền Tông bãi miễn tướng giỏi Trương Cửu Linh, bổ nhiệm tướng gian Lý Lâm Phủ.
Dương Quảng và ngôi thái tử. Trước mặt phụ hoàng, Dương Quảng luôn tỏ ra là con ngoan, “không háo sắc”. Đó là cả một quá trình lừa dối để được lên ngôi thái tử.
“Đại trí nhược ngu” của An Lộc Sơn. An Lộc Sơn là người đề xuất ý “an sử chỉ loạn”. Tư Mã Quang dùng hình tượng “ngoài ngu trong gian” (bề ngoài vờ ngờ nghệch, bên trong gian giảo) để vạch bộ mặt gian hùng của An Lộc Sơn.
Cái họa của băng đảng. Đây là một bài bình sâu sắc nhất của Tư Mã Quang. Qua sự tàn khốc nơi cung đình, ông chỉ rõ cái hại của băng đảng: quân tử và tiểu nhân không thể dùng chung, như nước không đựng được trong thùng giấy. Nếu quân tử đắc vị tất loại tiểu nhân, tiểu nhân đắc thế tất bài xích quân tử.
Vua xử án phải phân rõ đúng sai. Đó là lời khuyên của Tư Mã Quang: vua một nước xử án phải nghiêm minh, luận rõ phải trái, thưởng phạt phân minh, trắng đen rõ ràng.
Nỗi khổ của Đường Thái Tông. Sau hơn mười năm xưng đế, Thái Tông than: làm vua một nước sao mà khó thế! Vì bộ mặt thật của con người muôn hình vạn trạng, khó nắm bắt thật giả. Nếu dùng người sai thì ắt rơi xuống vực sâu, mà do dự quá thì lỡ cơ hội giành thiên hạ.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
