Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Sáu bài học giữ nước rút ra từ bốn thời thịnh trị của Trung Hoa

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202610 phút đọc0 lượt đọc
Sáu bài học giữ nước rút ra từ bốn thời thịnh trị của Trung Hoa

Dựng nước đã khó, giữ nước còn khó hơn. Bốn thời thịnh trị để lại sáu điều được nhắc lại nhiều nhất, trong đó có điều vua nào cũng biết mà ít vua giữ nổi đến cuối đời…


Lấy lịch sử làm gương soi

Những nhà chính trị lớn đều hiểu rằng sáng nghiệp dễ, giữ nghiệp khó. Người giỏi giữ nghiệp thì đất nước hưng thịnh, người không giỏi giữ nghiệp thì thiên hạ suy vong. Và bảo bối của người giỏi giữ nghiệp chính là lấy lịch sử làm gương.

"Lấy đồng làm gương thì chỉnh được mũ áo; lấy xưa làm gương thì biết được hưng suy; lấy người làm gương thì rõ được hơn thiệt."

Đường Thái Tông thốt lời than ấy trong buổi truy điệu Ngụy Trưng. Lời than nhắc rằng phải hiểu chuyện đã qua thì mới khỏi dẫm vào vết xe đổ. Ông đặc biệt chú ý rút bài học từ nguyên nhân khiến nhà Tùy mất. Trong quan hệ vua tôi, ông không làm như Tùy Dạng Đế, lạnh nhạt với quần thần, không nghe lời can gián, mà dựng quan hệ vua tôi như cá với nước. Lý Thế Dân chú trọng chiêu hiền nạp sĩ, trọng dụng người tài như Ngụy Trưng, Phòng Huyền Linh, chăm chú lắng nghe lời khuyên can, vua tôi chụm đầu bàn bạc phân tích đúng sai, kịp thời ngăn những sai lầm lớn.

Nhà Thanh cũng đi theo lẽ ấy. Vị nhiếp chính vương nổi tiếng của triều Thanh hiểu rõ nhà Nguyên mất vì mâu thuẫn dân tộc, nên ra sức đẩy mạnh sự hòa đồng Mãn Hán, chặn tình trạng nhìn đầu cạo tóc để phân biệt người thuận kẻ nghịch, thi hành theo luật pháp của người Hán, hợp phong tục tập quán của người Hán, làm dịu lòng dân. Sự hòa hợp giữa hai tộc là một trong những nguyên nhân quan trọng bảo đảm cho nhà Thanh đứng vững ở Trung Nguyên. Những chuyện ấy cho thấy lấy lịch sử làm gương là nguyên nhân chủ yếu để đất nước thái bình.

Đổi mới là gốc của giữ nước

Chiếc gương chỉ cho thấy vết xe cũ; muốn đi tiếp còn phải dám xoay hướng bánh xe.

Giữ nước khó, mà khó thì phải tìm ra cái mới. Biện pháp giữ nước hữu hiệu chính là sáng tạo cái mới. Nhìn lại lịch sử, triều đại nào thái bình lâu dài thì triều đại ấy tích cực cách tân.

Đầu Tây Chu, để ổn định thế cuộc chính trị, sau khi theo chính sách của Chu Công là không giết dân Thương, đổi cách phong đất cho chư hầu và chia đất cho nông dân, tiềm lực quốc gia dần mạnh lên, rồi đạt tới cảnh thiên hạ thái bình hơn bốn mươi năm không phải dùng tới tử hình, như Sử ký chép. Tây Hán sau khi thi hành cải cách của Tang Hoằng Dương, tài chính quốc gia tăng lên, cứu được nguy cơ ngân khố rỗng tuếch, thâm hụt nặng, đồng thời khích lệ trung và tiểu thương, kinh tế phồn thịnh nhanh chóng. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương tăng cường quyền trung ương đồng thời ban hàng loạt chính sách cải cách kinh tế, khôi phục nhanh nền kinh tế sau chiến tranh.

Các sử gia còn ca ngợi Đường Thái Tông "công đức gồm đủ" vì ngay sau khi lên ngôi ông bắt tay cải cách chính trị, đề ra hàng loạt chính sách: cần kiệm, gọn bộ máy chính phủ, giảm biên chế một loạt quan chức thừa, chiêu nạp hiền tài, lắng nghe ý kiến thần dân, ngăn quan lại hủ bại tham ô hối lộ, đồng thời giảm thuế và phu dịch, cổ vũ khai khẩn đất hoang, mở rộng diện tích trồng trọt, mở trường học, tổ chức khoa thi. Chu Nguyên Chương còn củng cố quyền trung ương bằng cách bỏ chế độ tể tướng truyền thống, lập sáu bộ trung ương trực thuộc hoàng đế gồm Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công, có tác dụng lớn trong việc tăng cường tập quyền của triều Minh. Hàng loạt chính sách tích cực ấy đẩy kinh tế đi lên nhanh và làm đất nước giàu mạnh.

Có làm mới có thịnh, ngồi yên thì chẳng nên

Chủ trương hay mà không ai bắt tay làm thì cũng chỉ là chữ trên giấy.

Trong lịch sử, hễ vua tôi hành động, không ngồi chơi xơi nước, thì tạo được đất nước thái bình. Nói cách khác, thời thịnh trị là do vua tôi chịu làm. Các hoàng đế năng động phải kể tới Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương, Chu Công, Hán Vũ Đế, Đường Thái Tông, Đường Huyền Tông, Khang Hy, Càn Long. Họ đều có hoài bão lớn lao, giỏi chiêu nạp hiền tài, dám cải cách chính trị và kinh tế, đồng thời quyết loại bỏ các hủ tục lạc hậu và quy định không còn hợp, làm cho đất nước giàu mạnh, đẩy lịch sử tiến lên, xứng đáng là những bậc quân chủ kiệt xuất.

Khang Hy sau khi cầm quyền hành động ngay, trong đầu luôn thường trực ý nghĩ làm ba việc lớn cho đất nước: một là dẹp Tam Phiên, hai là chấn hưng tu bổ thủy lợi, ba là chế ngự lũ lụt. Ông thường "sớm tối ghi nhớ", thư tịch treo đầy cột trong cung. Ông còn không sợ gian khổ nguy hiểm đến tính mạng, mấy lần thân chinh dẫn quân chống giặc ngoại xâm nơi biên ải, giữ vững ổn định và phồn thịnh của Đại Thanh, xứng đáng là một trong những hoàng đế kiệt xuất nhất của chế độ phong kiến.

Nữ hoàng Võ Tắc Thiên trong thời cầm quyền thi hành khuyến nông, dùng người hiền, coi trọng cải cách chính trị, kinh tế phát triển, tạo tiền đề cho thời Đường Huyền Tông thái bình. Ung Chính nhà Thanh sau khi đăng quang tích cực củng cố chính quyền, thúc đẩy mạnh việc chấn chỉnh quan lại, đồng thời coi trọng lấy dân sinh làm gốc, xã hội phát triển nhanh, tạo tiền đề cho thời Khang Càn thịnh vượng.

Ngược lại, cầu yên kiểu "vô vi", vua tôi không có hoài bão lớn, trở nên tiêu cực, không nghe lời can, không dùng kế sách hay của trung thần, tự mãn với hiện tại, thì dù triều đại ấy vẫn tồn tại và có đổi thay chút ít, làm sao nó đẩy lịch sử đi tới được.

Thuận theo lẽ phát triển của dân thì thịnh, ngược lại tất vong

Làm nhiều mà ngược lòng dân thì chẳng khác nào chèo thuyền ngược nước.

Đầu đời Hán, sau chiến tranh, nhân dân đều mong có đời sống yên ổn. Hán Cao Tổ Lưu Bang làm theo ý nguyện của lòng dân, ban chính sách "cho dân xả hơi", giảm thuế và phu dịch, được dân hoan nghênh, sản xuất hồi phục nhanh, kinh tế phát triển. Đường Thái Tông rút bài học từ Tùy Dạng Đế ăn chơi xa xỉ, hao tổn ngân khố, ngang tàng bạo ngược, nên vì sự sống còn của trăm họ mà cắt giảm các khoản chi không cần thiết, giảm thuế, nên rất được lòng dân.

Nhà Tần qua mấy thế hệ phấn đấu gian khổ, hy sinh mới thắng sáu nước, thống nhất Trung Hoa, hạ quyết tâm củng cố chính quyền trung ương, ban hành chế độ quận huyện thay chế độ phong đất cũ. Việc ấy hợp quy luật phát triển của lịch sử nên được coi là tiến bộ, bởi từ cảnh phân chia do lịch sử để lại tiến tới thống nhất, nếu lại tiếp tục chia nữa thì đi ngược quy luật, kéo lùi lịch sử. Hán Vũ Đế cắt bớt đất đai của vương hầu quý tộc chia cho nông dân cũng vì để tăng thống nhất, củng cố tập quyền trung ương, và việc làm này hợp quy luật lịch sử. Xã hội Tây Hán phồn thịnh hay không, thái bình hay không, phụ thuộc rất nhiều vào chỗ triều Tây Hán có thi hành sách lược tăng cường thống nhất, ổn định cục diện chính trị hay không.

Ngược lại, nước Tây Tấn được dựng lên sau bao năm chiến tranh loạn lạc triền miên, đất nước chia năm xẻ bảy. Giả sử Tư Mã Viêm học theo chính sách của Tây Hán, theo nguyện vọng của dân mà "cho dân nghỉ ngơi", khuyến khích sản xuất, tăng thống nhất, thì Tây Tấn cũng đã thịnh vượng như Tây Hán. Nhưng Tư Mã Viêm đi ngược quy luật lịch sử, không lo sản xuất, không chăm dân sinh, chỉ lo hưởng lạc ăn chơi, nhất là tiến hành phong đất, ngầm sinh loạn tám vương.

Đầu Bắc Tống, Triệu Khuông Dận giành ngôi báu bằng binh biến Trần Kiều, "hoàng bào khoác thân", bước kế tiếp cắt bớt quyền của cấm quân, tập trung quyền về trung ương, chính quyền thống nhất của Bắc Tống nhờ đó được củng cố. Nhưng vì đánh quá mạnh vào võ tướng nên sức chống ngoại xâm giảm mạnh, thêm chính phủ hủ bại, quan lại tham nhũng ức hiếp dân tàn bạo, dẫn tới giun xéo lắm cũng quằn, các cuộc nổi dậy của nông dân liên tục nổ ra làm lung lay chính quyền trung ương. Kinh nghiệm lịch sử cho hay thuận ý dân thì được lòng dân, được lòng dân thì được thiên hạ. Ngược lại, đi ngược ý nguyện của dân, quay lưng với lịch sử thì tất bị diệt vong nhanh chóng.

Liêm chính là gốc của triều đại hưng thịnh

Được lòng dân là một việc, giữ được lòng mình đến cuối đời lại là một việc khác.

Trong lịch sử, triều đại nào cần kiệm liêm chính xây dựng đất nước thì triều đại ấy làm nên nghiệp lớn. Như Văn Vương, Vũ Vương, Thành Vương nhà Tây Chu; Cao Tổ, Văn Đế, Cảnh Đế, Vũ Đế nhà Tây Hán; thời đầu nhà Đường có Thái Tông, Huyền Tông; thời Khang Hy, Ung Chính, Càn Long. Những bậc ấy đều xây dựng xã hội phồn thịnh từ đống tro tàn.

Đáng tiếc là các triều đại ấy về cuối đời thường chuyển từ liêm chính sang hủ bại. Hán Vũ Đế về sau, Đường Huyền Tông về sau, Càn Long những năm cuối, thời trai trẻ cả ba vị đều cần kiệm trị nước, đều có công đưa đất nước thái bình hưng thịnh. Đến tuổi xế bóng, vì nhiều công lao nên sinh kiêu ngạo, tham lam hưởng lạc. Có người chìm trong tửu sắc, bỏ bê triều chính. Có người rong chơi khắp nơi quấy nhiễu dân. Có người biển thủ công quỹ, tiêu hao ngân khố. Tóm lại, các bậc ấy không chịu ngồi yên, tĩnh tâm suy nghĩ để giữ trong sạch tuổi già, nên hại tới danh tiếng quốc gia lẫn danh thơm của mình, không để lại tấm gương trọn vẹn cho hậu thế noi theo.

Kinh tế phồn thịnh kéo theo văn hóa phát triển

Bữa ăn đã đủ, người ta mới nghĩ đến cái đẹp và cái hay.

Một đất nước phồn thịnh chân chính phải là một đất nước phồn thịnh toàn diện, tức là phồn thịnh cả kinh tế lẫn văn hóa. Bốn triều đại phồn thịnh đều xuất phát từ phồn thịnh kinh tế, dẫn tới phồn thịnh văn hóa. Văn hóa phát triển lại tác động ngược trở lại thúc đẩy kinh tế, hai mặt hỗ trợ lẫn nhau. Lịch sử đã chứng minh rằng người ta căn cứ vào trình độ văn hóa để đánh giá một xã hội đang ở thời đại văn minh nào.

Tóm lại, đất nước thái bình phồn thịnh hay loạn lạc điêu tàn đều có chung một nguyên nhân cơ bản là có hợp với xu thế phát triển và trào lưu của lịch sử hay không. Bốn triều đại thịnh trị kia là minh chứng hùng hồn cho điều đó.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện