Bài tổng quan
Trình Di: tính tức là đạo, trị nước bằng đức và Y Xuyên dịch truyện
Người ta sinh ra vốn thiện, vậy vì sao lớn lên kẻ hiền người dữ? Trình Di trả lời bằng hai chữ khí chất, rồi kéo cả chuyện trị nước, chuyện đọc Dịch về cùng một gốc. Gốc ấy, theo ông, nằm ở chỗ con người chịu bớt đi những gì che mất lẽ trời…
Mục lục · 7 phần
- 01Đạo lý lớn của thiên hạ: trung, tín và cái tâm công
- 02Giữ đạo trời, bớt dần ham muốn riêng
- 03Tính tức là đạo: bản tính vốn thiện, người khác nhau do khí chất
- 04Trị nước bằng đức: vua hiền, tôi chính, lễ nhạc được dựng lại
- 05Y Xuyên dịch truyện: đưa Chu Dịch về với nghĩa lý
- 06Tứ thư ngang hàng Lục kinh và chỗ đứng của hai anh em trong Nho học
- 07Khổng Tử tái thế: một nền triết học đứng trên mảnh đất vừa qua chia cắt
Đạo lý lớn của thiên hạ: trung, tín và cái tâm công
Trình Di không chỉ nói về lý trong cõi vũ trụ mà còn đem nó xuống đời sống con người. Ông cho rằng trung, nghĩa, lễ, tín đều là lẽ chung, là đạo lý rộng lớn nhất, bất cứ ai trong xã hội cũng phải theo. Ông viết rằng trung thành là đạo lớn của thiên hạ, rằng con người lấy trung tín làm gốc. Và để làm được điều đó, theo ông, phải biết dụng tâm:
Người nhân khởi niệm từ cái tâm công. Công thì gắn với nhân hơn cả. Người bị cuốn theo dục vọng thì không phải người trung; người biết theo lẽ công mới là trung thành. Lấy lẽ công mà đối đãi với người khác thì đó là đức thứ vậy.
"Công" ở đây đứng đối với cái riêng tư của từng cá nhân. Ông nhấn mạnh phải dụng tâm vì việc chung thì mới hành đạo được. Ba giềng năm hằng trong mắt ông thuộc về lẽ công ấy: không chỉ là đạo trời, mà còn không xoay chuyển theo ý muốn của người này người nọ, mỗi nhà, mỗi người đứng ở vị trí vua, tôi, cha, con đều phải theo.
Gia đình, với ông, là tế bào của xã hội. Vì vậy ông vừa nói chuyện trị nước, vừa nói chuyện tề gia, và có câu: nhà yên thì nước cũng yên. Dùng ba giềng năm hằng để sửa nhà, ông muốn giữ cho mắt xích nhỏ nhất của xã hội được vững. Cũng chính chỗ này về sau bị người đời trách nhiều nhất: những quy tắc ba giềng khi đẩy tới cực đoan đã đè nặng lên cuộc đời của không ít người phụ nữ.
Giữ đạo trời, bớt dần ham muốn riêng
Nếu thiên lý sáng như thế, vì sao con người vẫn lạc lối? Câu trả lời của Trình Di nằm ở chuyện dục vọng.
Đây là một trong những điểm cốt lõi trong tư tưởng đạo đức của ông. Ông cho rằng đạo trời và ham muốn riêng của con người đối nghịch nhau. Cách nhìn này có gốc từ Khổng Tử và Mạnh Tử, những người trọng nghĩa khinh lợi: quân tử hiểu về nghĩa, tiểu nhân hiểu về lợi; Mạnh Tử nói thà chết cho trọn điều nghĩa. Từ nền ấy, ông nói rằng lòng người vì tư dục nên bất an, thiên lý nằm ở nơi tâm đạo nên huyền diệu; trừ bỏ dục vọng thì thiên lý tỏa sáng.
Ông không phủ nhận rằng ham ăn ham sắc là bản tính con người. Nho gia từ trước đến nay cũng chưa bao giờ nói thế. Nhưng khi đặt vào câu chuyện luân lý, điều lớn nhất vẫn là tiết nghĩa, và ông nói đến mức dứt khoát nhất:
Chết đói là chuyện cực nhỏ, để mất khí tiết là chuyện cực lớn.
Trong câu nói ấy có dấu vết của nhiều dòng tư tưởng: ông tiếp thu cái "vô dục" của Lão Tử và cái ý rũ bỏ bụi trần của Phật giáo. Tóm lại, theo ông, thiên lý là thứ bản năng ai cũng có sẵn; chỉ vì những ham muốn riêng che mất nên đạo trời không tỏa sáng được. Vậy nên cần dẹp bớt những ham muốn ấy, có như thế mới giữ được thiên lý.
Tính tức là đạo: bản tính vốn thiện, người khác nhau do khí chất
Đạo, tính và mệnh nối với nhau thế nào, Chu Dịch đã nói từ lâu: cùng lý, tận tính để đạt tới mệnh. Chu Dịch xếp đạo đức luân lý của con người ngang với triết lý âm dương của đạo trời, nên có thể thấy từ xưa đã rất coi trọng luân lý và nhân tính.
Bàn về nhân tính, Khổng Tử nói tính thì gần nhau, tập thì xa nhau, nghĩa là bản tính ai cũng na ná, chỉ vì ảnh hưởng về sau mà người này người kia khác biệt. Chuyện mẹ Mạnh Tử ba lần dọn nhà để con ở gần chỗ tốt cho thấy cách nghĩ ấy. Mạnh Tử và Tuân Tử thì nghiêng về hai hướng đối nhau: một người cho rằng tính vốn thiện, người kia cho rằng tính vốn ác.
Trình Di dựa trên nền Nho học trong Chu Dịch mà nâng bản tính con người lên tầm đạo. Về bản thể, ông nói "tính tức là đạo", và viết một câu đáng nhớ:
Ở trời gọi là mệnh, ở nghĩa gọi là lý, ở người gọi là tính.
Nghĩa là nhân tính chính là thiên đạo. Thiên đạo chỉ có thiện, không có ác; nhân tính là biểu hiện của thiên đạo nên cũng chỉ có thiện. Dựa vào ý của Trương Tái, ông cho rằng bản tính trời cho của ai cũng thiện, còn việc lớn lên có kẻ thiện người ác là do "tính khí chất" khác nhau. Ông còn nói đạo, tính, mệnh là một. Vì bản tính là cái gốc sẵn có của mỗi người, mục đích của việc tìm lý là để hiểu thấu tính của mình và làm cho thiên tính ấy được thực hiện trọn vẹn.
Làm trọn thiên tính thì hòa hợp được với đạo của trời. Từ đây ông kế thừa ý của Mạnh Tử rằng ai cũng có thể trở thành vua Nghiêu, vua Thuấn, và đưa ra quan điểm rằng người ta có thể trở thành thánh nhân. Trung, hiếu, nhân, nghĩa vì thế được đặt vào vị trí cao nhất.
Trị nước bằng đức: vua hiền, tôi chính, lễ nhạc được dựng lại
Từ gốc lý, gốc tính, Trình Di nhìn ra chuyện cai trị: một nước muốn yên phải yên từ tâm người đứng đầu.
Tư tưởng chính trị của ông nối ba mảng làm một: chính trị, triết học và luân lý xã hội. Ông đề cao ngôi vua vì ông cho rằng đạo của vua chính là đạo của trời; trung với vua tức là trung với thiên đạo. Cũng vì thế, con hiếu với cha, vợ trọn với chồng đều được ông xem là thiên đạo. Việc đặt ba giềng năm hằng vào vị trí của thiên đạo là cách ông làm cho trật tự ấy có chỗ dựa vững.
Tuy vậy, ông cũng dặn rất kỹ về phía người cầm quyền. Vua phải là bậc thánh hiền biết lấy nhân đức cai trị thiên hạ; có như vậy vua dân mới một lòng và nước mới yên. Ông nhắc lại ý của Khổng Tử về chuyện nén mình, trở về lễ, rồi chủ trương: vua hiền minh thì không quý chuyện xét đoán, bề tôi thì quý chữ chính chứ không quý quyền. Ông kêu gọi dựng lại lễ nhạc, chấn chỉnh giềng mối, biết trọng dụng và tin cẩn người hiền, và giữ vững con đường tu thân, tề gia, bình thiên hạ.
Những ý ấy được chép rải rác trong các thiên bàn về chính sự, về bậc thánh hiền, về bề tôi, về tâm tính, về nhân vật. Cái nền của chúng là đạo trời lấy từ thuyết Thiên mệnh của Khổng Tử và thuyết thiên nhân cảm ứng của Đổng Trọng Thư; đặc điểm chung là nâng luân lý lên vị trí kinh thường của trời, nghĩa thường của đất, và đưa lễ trị, đức trị của Nho gia xuống từng nhà, từng người.
Y Xuyên dịch truyện: đưa Chu Dịch về với nghĩa lý
Với Dịch học, Trình Di rất say mê và rất uyên thâm. Bộ "Y Xuyên dịch truyện" của ông và bộ "Chu dịch bản nghĩa" của Chu Hi từng được lấy làm chuẩn cho kỳ thi thời Minh. Điểm riêng của "Y Xuyên dịch truyện" là ông vừa chú giải vừa phát triển Dịch sâu hơn, đồng thời đưa vào đó quan điểm triết học của lý học một cách có hệ thống. Các đóng góp chính của bộ này có thể kể thành năm điều.
Thứ nhất, ông gạt bỏ những tư tưởng huyền học của thời Ngụy Tấn, trả Dịch về nội dung vốn có và chú giải theo đúng giáo lý của Dịch. Thứ hai, ông dùng quan điểm lý học để làm sáng nghĩa và tượng của Dịch, nhờ vậy đặt cơ sở lý luận cho lý học Tống Minh; ông mượn việc chú giải Dịch để phát triển ý riêng, nên bộ chú giải ấy vừa là tài liệu cần thiết vừa là chuẩn mực để người sau tham khảo. Thứ ba, ông đẩy cao nguyên tắc "cùng lý tận tính" của Chu Dịch, dùng nó để rèn luyện luân lý, góp phần lớn cho sự phát triển của Nho học đời Tống.
Thứ tư, trên cơ sở các bản chú giải Chu Dịch có trước, ông làm sáng rõ thêm về Dịch theo hướng nghĩa lý, không đi theo hướng số tượng của Chu Đôn Di và Thiệu Ung. Công của ông là đưa lý của Dịch lên trước số của Dịch, chuyển Dịch học đời Tống từ chỗ chuộng nghiên cứu số tượng sang chỗ chuộng đạo nghĩa. Thứ năm, ông lấy quan hệ thể và dụng giữa nghĩa lý và tượng để làm rõ mối liên hệ mẫu mực giữa đạo trời và vạn vật trong vũ trụ, từ đó cho trật tự luân lý một chỗ dựa vững trong chính Kinh Dịch.
Gộp lại, trên nền Dịch học đời Hán, Đường, ông đã gạn bỏ huyền học Ngụy Tấn, đưa quan điểm lý học vào. Cùng với sự lớn mạnh của lý học, địa vị của Dịch đời Tống ngày một cao, và Dịch trở thành cơ sở lý luận cùng căn cứ kinh điển của lý học Tống Minh.
Tứ thư ngang hàng Lục kinh và chỗ đứng của hai anh em trong Nho học
Một nền học muốn đứng vững qua nhiều đời phải trả lời được câu hỏi lớn của thời mình. Hai anh em họ Trình đã gặp đúng một thời như thế.
Công của hai anh em với Nho học là làm cho Nho học thêm tầng triết lý và nâng bậc của nó lên. Họ đưa luân lý Nho gia lên tầm bản thể, nên những giá trị vốn đã gắn chặt với đời sống nay lại càng có chỗ đứng chắc chắn. Bối cảnh lúc ấy cũng đòi hỏi như vậy. Đầu đời Tống, đất nước vừa thoát khỏi cảnh chia cắt, quyền tập trung mới bắt đầu dựng lại, người ta cần một hệ tư tưởng thống nhất. Dưới thời Ngụy Tấn, huyền học nở rộ nhưng mỗi người một ý, không thống nhất được. Phật giáo và Đạo giáo cũng phát triển mạnh; trước những lối nghĩ như không vua, không cha, không làm, không muốn, luân lý Nho gia trở nên lạnh nhạt.
Triết học của hai anh em đã khôi phục luân lý Nho gia, nâng ba giềng năm hằng lên vị trí thiên đạo và lập lại vị thế của Nho. Nhờ việc triết lý hóa cao độ phần luân lý, Nho học giữ được vị trí chủ đạo trong lĩnh vực tư tưởng của Trung Hoa suốt hơn hai nghìn năm.
Trình Di cũng không chỉ coi trọng Chu Dịch. Ông tôn kính các kinh điển khác của Nho gia như Luận Ngữ, Mạnh Tử, Đại học, Trung dung, xem bốn bộ ấy là Tứ thư và đặt ngang với Lục kinh. Từ đó giá trị của Tứ thư và Ngũ kinh trong kho tàng kinh điển ngày càng cao, và công việc chuẩn bị về lý luận của Nho học cũng đầy đủ hơn.
Khổng Tử tái thế: một nền triết học đứng trên mảnh đất vừa qua chia cắt
Sau thời Đường, Trung Hoa rơi vào cảnh ngũ đại thập quốc, hỗn loạn nhiều năm, đến đời Tống mới thống nhất trở lại. Lúc ấy cương thường lỏng lẻo, luân lý không còn nghiêm, lại thêm những tư tưởng của Phật giáo đứng ngoài vua tôi, ngoài đạo người khiến luân lý Nho gia mấy phen suýt mất. Hai anh em họ Trình nâng luân lý lên tầm bản thể, hợp nhất chính trị, luân lý và triết lý, tạo thành đỉnh cao của thiên đạo và nhân tính, giữ cho đạo đức Nho gia khỏi rơi vào chỗ diệt vong.
Đời Tống là thời mà nền kinh tế còn là cảnh tiểu nông, nên việc hai ông chấn hưng đạo đức luân lý rất hợp với đời sống lúc bấy giờ, và có tác dụng giúp nước Tống dựng lại sau một thời gian dài bị chia cắt. Cũng vì thế Trình Di được người đời gọi là Khổng Tử tái thế, và lý học của ông được xem là triết học chính thống. Tư tưởng của ông cùng Chu Hi hợp lại thành tư tưởng Trình Chu, chi phối đời sống tinh thần Trung Hoa suốt bảy tám trăm năm, một kỳ quan trong lịch sử triết học nước này.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
