Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Chữ Hán đi từ nút thắt dây đến nét khắc trên gốm

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Chữ Hán đi từ nút thắt dây đến nét khắc trên gốm

Dưới đáy một chiếc bát gốm của thời nhà Hạ, người ta tìm thấy những nét vạch được khắc trước khi đem nung. Chúng chưa hẳn là hoa văn, mà cũng chưa hẳn là chữ. Vậy ai đã dạy con người biến một nét vạch thành lời?


Một thứ chữ năm sáu nghìn năm tuổi vẫn còn sống

Trên thế giới có hơn một trăm quốc gia và hơn ba nghìn loại chữ viết, nhưng nhìn từ xa chỉ có hai dòng lớn. Một dòng là chữ tượng hình của phương Đông, dòng kia là hệ chữ La-tinh. Trong dòng tượng hình từng có chữ thánh của Ai Cập, chữ hình chêm của người vùng Lưỡng Hà, chữ của người Ma-ya ở Trung Mỹ; phần lớn đã thành di vật, riêng chữ Hán vẫn còn sống, còn sống và còn được viết.

Chữ Hán đã in dấu rất sâu lên Nhật Bản, Triều Tiên, Singapore, và việc hình thành chữ viết của nhiều nước Đông Nam Á cũng dính líu mật thiết đến nó. Người xưa thích nói chữ vuông chứa cái lý “trong vuông có tròn, trong tròn có vuông”, một hình ảnh của sự hòa hợp và gắn bó. Muốn hiểu tính cách và khí chất của các dân tộc phương Đông, trước hết phải hiểu thứ chữ họ dùng, mà muốn hiểu thứ chữ ấy thì phải đi ngược về tận chỗ nó bắt đầu.

Chỗ bắt đầu ấy không nằm ở một ngày tháng cụ thể. Chữ Hán là một dòng sông có nhiều nhánh đổ về, và việc đầu tiên cần làm là nhìn xem những nhánh ấy nhỏ nhất là những gì.

Ba chặng đường dài và bốn lần thay áo

Chữ không rơi từ trời xuống, nó được người ta mài giũa qua nhiều chặng, và mỗi chặng để lại một lớp vết tích.

Đường đi của chữ Hán có ba chặng lớn. Chặng thứ nhất là thắt nút dây để nhớ việc. Chặng thứ hai là vạch, khắc những ký hiệu và hình vẽ đơn giản. Chặng thứ ba mới là chữ viết đúng nghĩa. Trên con đường ấy, lối ghi chép cũng đổi dần: từ vẽ lại hình của vật, sang chỗ mượn hình để gợi ý nghĩa, rồi sang chỗ ghi lại âm đọc. Chữ vẽ hình là gốc rễ, chữ gợi ý là bước tiến của nó, còn chữ ghi âm là chặng sau cùng.

Người xưa gom cách tạo chữ Hán vào sáu loại: tượng hình, là vẽ ra dáng vật; chỉ sự, là dùng nét để nói điều trừu tượng; hội ý, là ghép nhiều hình lại để sinh nghĩa mới; hình thanh, là một nửa gợi nghĩa một nửa gợi âm; giả tá, là mượn một chữ cùng âm để dùng cho việc khác; và chuyển chú, là các chữ có thể giải thích lẫn nhau.

Còn dáng chữ thì đã bốn lần thay áo. Từ chữ khắc trên mai rùa và xương thú, người ta đi sang chữ đúc, khắc trên đồ đồng, rồi sang chữ triện, sang chữ lệ, và cuối cùng là chữ khải mà ngày nay vẫn dùng, cùng các kiểu chữ in dựng theo nó. Chữ khắc trên mai rùa gắn với thời Thương Chu. Chữ trên chuông, đỉnh bằng đồng nở rộ vào đời Chu. Chữ triện dài và mảnh, có đại triện thịnh vào cuối Tây Chu, còn tiểu triện do Lý Tư đặt sau khi nhà Tần gồm thâu sáu nước. Chữ lệ là lối viết nhanh hóa từ chữ triện, và chữ khải định hình từ đời Hán.

Mảnh mai rùa năm 1899 và cuộc đời một người giữ nước

Năm 1899, một vị quan đời Thanh tên Vương Ý Vinh nhận ra chữ khắc trên mai rùa và xương thú của triều Ân Thương. Từ phát hiện ấy, ngành khảo cổ của Trung Hoa mở ra, và một đoạn lịch sử vốn khuyết nhiều tư liệu bỗng có thêm những dòng chữ nguyên bản của chính người thời ấy.

Vương Ý Vinh còn để lại tiếng thơm ở một chỗ khác. Khi quân ngoại bang tràn vào Bắc Kinh, Từ Hy thái hậu dắt vua Quang Tự chạy về phía tây; ông là quan văn nhưng cầm thanh bảo kiếm của Thích Kế Quang để lại, dẫn quân mở đường máu. Sau đó cả nhà ông gieo mình xuống giếng tuẫn tiết. Người đời sau nhớ ông vì hai việc: tìm ra chữ cổ, và giữ trọn khí tiết với nước.

Sau ông, việc nghiên cứu nối nhau không dứt. Năm 1903 Lưu Ngạc cho ra tập chuyên đề đầu tiên về chữ khắc trên mai rùa. Tiếp đó là La Chấn Ngọc, Bạch Đoan Hoa, Minh Nghĩa Sĩ, Quách Mạt Nhược, Trần Mộng Gia, mỗi người một bộ sách dày. Đến nay số mảnh đã khai quật vượt một trăm năm mươi nghìn, và khoảng một trăm hai mươi bảy nghìn mảnh còn được bảo tồn. Chữ trên đó phần nhiều còn là chữ vẽ hình, dáng chữ chưa ổn định, nghĩa là người ta đang viết trong lúc chữ vẫn còn đang thành hình.

Chữ đúc trên đồ đồng, gọi là kim văn, thuộc thời Chu. Vì chữ thường khắc trên chuông, đỉnh nên còn gọi là chữ chuông đỉnh. Đồng giữ được rất lâu, nên những việc quan trọng như lễ khánh quốc, việc chinh phạt, việc tế lễ đều được đúc vào đồng. Đến nay đã gom được hơn ba nghìn chữ và đây là nguồn sử liệu quý.

Chữ viết của nhà Hạ và những nét vạch dưới đáy bát gốm

Trước khi có mai rùa, đã có gì? Câu hỏi ấy được trả lời bằng những chiếc bát gốm. Ở Đăng Phong, Hà Nam, tại khu di chỉ Vương Thành Cương thuộc văn hóa Long Sơn, tương đương buổi đầu của nhà Hạ, người ta tìm thấy bát, đĩa và đồ gốm có chữ khắc ở dưới đáy hoặc trên thành. Chữ được khắc trước rồi mới đem nung, nên không thể là vết vạch vô tình. Ở Thành Tử Nhai gần Tế Nam, Sơn Đông, cũng có di chỉ có chữ viết, mà các nhà khảo cổ định vào khoảng hơn hai nghìn năm trước Công nguyên.

Những chữ ấy đã tiến thêm một bước so với chữ vẽ hình thuần túy: hình thể gọn hơn và bắt đầu gợi ý nghĩa. Có thể xem đó là chặng quá độ nối những vết khắc ở Ngưỡng Thiều với chữ trên mai rùa thời Thương Chu. Dù vậy, cho đến hôm nay vẫn không ai chỉ chắc được ngày chữ Trung Hoa ra đời. Từ nhà Hạ cho tới cuối Chiến Quốc là hai nghìn năm, thời gian chữ biến đổi mạnh nhất, và chữ viết đi vào đời sống đủ sớm để nhà Thương, nhà Chu có một hệ chữ khá chín muồi.

Từ những phát hiện này, có thể nói chắc rằng bốn nghìn năm trước người Trung Hoa đã có chữ. Nếu tính cả thời kỳ vạch khắc, thắt nút, e rằng con số phải tính bằng hàng vạn năm.

Thương Hiệt có thật là người đã tạo ra chữ?

Mỗi dân tộc đều thích gán một cái tên cho khoảnh khắc chữ xuất hiện; Trung Hoa chọn tên Thương Hiệt.

Tương truyền Thương Hiệt là quan chép sử của Hoàng Đế, và ông là người làm ra chữ. Sách Tuân Tử viết rằng người học chữ thì nhiều mà người truyền chữ chỉ có mình Thương Hiệt; Lã Thị Xuân Thu cũng chép rằng Thương Hiệt làm ra chữ viết.

Nhưng chữ là kết quả của việc lao động và sinh sống hàng chục nghìn năm, không thể một triều đại hay một đôi bàn tay làm xong. Cách hiểu hợp lý hơn cả là Thương Hiệt đã thu nhặt, sắp đặt và chỉnh lý các chữ có sẵn trong dân gian, giống như về sau Lý Tư thống nhất chữ viết cho nhà Tần. Ngay cả Lý Tư khi đặt ra chữ tiểu triện cũng soạn một cuốn chữ mang tên Thương Hiệt, như một lời nhắc đến người khai sáng cũ. Như thế, công của Thương Hiệt là công của người chỉnh lý và định chuẩn, chứ không phải của người bịa ra chữ từ hư không.

Bát quái có phải là cha đẻ của chữ Hán?

Một nguồn gốc khác được nhắc đến nhiều là bát quái. Trong Dịch – Hệ từ có đoạn kể rằng thuở xưa Bao Hy thị làm vua thiên hạ, ngẩng lên xem hình tượng trên trời, cúi xuống xét phép tắc dưới đất, nhìn dáng vẻ của chim muông và đất đai, gần thì lấy từ thân mình, xa thì lấy từ vạn vật, rồi mới làm ra bát quái, để thông với đức của thần minh và để phân loại tình trạng của vạn vật.

Đoạn văn ấy gần như là bản tường thuật về nguồn gốc của chữ tượng hình: quan sát trời, đất, chim muông và chính thân người, rồi nắm lấy hình mà gợi ý. Lấy hình vật để biểu đạt ý nghĩa, tức là Dịch tượng, vốn là điểm đặc biệt của chữ Hán. Có người như Trịnh Tiều cho rằng nguồn gốc trực tiếp của chữ viết là bát quái, và chữ nào cũng có thể tìm về các hình khảm, ly, khôn, đoài. Phạm Văn Lan thì nghĩ bát quái là những ký hiệu số hoặc hình vẽ do nút thắt dây mà thành, nên có khả năng liên hệ với chữ Hán buổi đầu.

Vậy bát quái là cha hay chỉ là một người họ hàng? Muốn trả lời, phải lần theo lịch sử ra đời của chữ viết cổ, qua hai thời kỳ.

Thời nút thắt dây và thời khắc ký hiệu

Thời kỳ thứ nhất là thời thắt nút dây. Chữ Hán sớm nhất cách ngày nay ít nhất tám nghìn năm, ở vùng lưu vực sông Vị, đất đai phì nhiêu, khí hậu ấm áp, nơi nảy nở nền văn hóa Ngưỡng Thiều mà Lão Quan Đài là đại diện. Trước Ngưỡng Thiều là xã hội thị tộc sơ khai, với lối ghi chép bằng dây thắt nút. Dịch – Hệ từ nhắc đến thời Bao Hy và việc thắt nút dây để ghi việc. Văn hóa thắt nút là văn hóa của trí nhớ, tức là giai đoạn thai nghén trước khi có chữ. Việc văn hóa Lão Quan Đài còn xưa hơn Ngưỡng Thiều cho thấy chữ viết ở Trung Hoa ra đời sớm đến mức nào.

Thời kỳ thứ hai là thời khắc ký hiệu. Khi sức sản xuất tăng, ký hiệu khắc dần xuất hiện. Ở huyện An Dương, Hà Nam, các lớp đất cho thấy ba tầng văn hóa chồng lên nhau: Tiểu Đồn của nhà Ân Thương ở trên, Long Sơn của nhà Hạ ở giữa, Ngưỡng Thiều ở dưới cùng, nghĩa là Ngưỡng Thiều là nền văn hóa sớm nhất. Đo bằng các-bon 14, di chỉ Ngưỡng Thiều thuộc khoảng 4515 đến 2460 trước Công nguyên, và sau khi hiệu chỉnh theo vòng cây là 5150 đến 2960 trước Công nguyên. Điều này chứng tỏ xã hội cổ xưa có trình độ cao hơn nhiều so với những gì thư tịch còn ghi.

Dịch – Hệ từ gọi giai đoạn này là thời Thần Nông. Sau khi Bao Hy thị mất, Thần Nông thị đẽo gỗ làm lưỡi cày, uốn gỗ làm cán, rồi dạy dân biết cái lợi của nghề nông. Các nhà nghiên cứu khí hậu cho biết hai nghìn năm đầu trong năm nghìn năm gần đây, từ Ngưỡng Thiều tới Ân khư An Dương, nhiệt độ trung bình cao hơn bây giờ khoảng hai độ, tháng giêng ấm hơn từ ba đến năm độ. Trời ấm, mưa thuận, nghề nông phát triển, và chữ viết có điều kiện để nảy nở.

Năm tháng trôi, những ký hiệu khắc trên gốm màu Ngưỡng Thiều ở Bán Ba, Tây An trở thành những nét có thể đọc như số một, hai, ba cho đến bảy, tám của chữ sau này, rất gần với các chữ trong giáp cốt. Dịch – Hệ từ nói tiếp về thời Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn: khoét gỗ làm thuyền, đẽo gỗ làm chèo, thuyền chèo giúp đi xa. Dân biết dệt vải, đóng thuyền, chợ búa trao đổi hàng hóa mở ra, ký hiệu càng cần chính xác hơn. Quách Mạt Nhược nhận xét rằng những nét khắc đơn giản trên gốm Bán Ba giống chữ viết, khác hẳn hoa văn trang trí. Dù ta chưa đọc được, chúng mang bản chất của chữ. Trải qua hơn nghìn năm, ký hiệu càng hoàn chỉnh và cuối cùng thành chữ vẽ hình.

Một người họ hàng gần chứ chưa hẳn là cha

Hình vẽ và ký hiệu là tổ tiên của chữ, còn bát quái là một ký hiệu mẫu mực trong số các tổ tiên ấy.

Từ chuỗi chứng cứ này, kết luận cẩn trọng nhất là không thể nói chữ Hán sinh ra từ bát quái, mà chỉ có thể nói chặng đường hình thành của chữ ít nhiều có dính líu đến nó. Bát quái không phải một hình riêng lẻ mà là một nhóm hình phức tạp, được nối với nhau theo một trật tự nhất định. Cả nhóm hình ấy có thể dùng để ghi việc, ghi lịch, báo tin chiến tranh, săn bắn, tế lễ; nói gọn là dùng để lưu giữ và truyền đi tin tức. Chính vai trò ấy khiến bát quái trở thành một trong những nguồn của chữ vẽ hình.

Điều đáng nhớ là chữ không ra đời ở một nơi, trong một ngày, cũng không do một bậc thánh nhân. Nó là kết tinh của việc ghi nhớ, vạch khắc, ký hiệu, rồi dần dần thành hình chữ. Thương Hiệt, Bao Hy, Thần Nông đều là những cái tên người sau gắn lên để tưởng nhớ một công trình vốn là của tập thể nhiều thế hệ.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện