Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Quái tượng, bát quái khí và văn hóa bốc phệ tiên Tần

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202614 phút đọc2 lượt đọc
Quái tượng, bát quái khí và văn hóa bốc phệ tiên Tần

Ba vạch liền thì là trời, sáu vạch đứt thì là đất, và từ hai đầu ấy mọi vật trong thiên hạ đều tìm được chỗ đứng. Chín cung đi hết một năm, gió đổi hướng theo từng cung, còn người thì đổi bệnh theo gió. Trước mỗi cuộc xuất quân, lại có một vị quan lặng lẽ nướng mai rùa mà chẳng ai kể tên ông...


Quái tượng: tám quẻ làm nên hình tượng của muôn vật

Ba vạch liền thì là trời, sáu vạch đứt thì là đất, và giữa hai đầu ấy mọi vật đều tìm được chỗ đứng.

Tác giả định nghĩa quái tượng như sau: quái và hào hình thành tượng của vạn vật. Chu Dịch bản nghĩa viết rằng tượng là hai tượng trên dưới của quẻ cùng sáu hào của hai tượng ấy. Quái tượng chính là những sự vật mà tám quẻ và sáu mươi bốn quẻ tượng trưng. Tám sự vật được tượng trưng ở tám quẻ, và các sự vật khác nhau được tượng trưng ở sáu mươi bốn quẻ, thật là muôn hình vạn tượng.

Bản chất của quẻ gồm hai loại là quẻ âm và quẻ dương, nên sự vật cũng chia thành hai nhóm âm và dương. Tiêu chuẩn phân biệt là số chẵn lẻ ở số hào được thể hiện. Các quẻ Càn, Chấn, Cấn hình thành từ các hào số lẻ nên gọi là quẻ dương, tượng trưng cho sự vật có thuộc tính cứng. Các quẻ Khôn, Tốn, Ly, Đoài gồm các hào số chẵn nên gọi là quẻ âm, tượng trưng cho sự vật có thuộc tính mềm. Trong thiên Quái tượng của sách Dịch tượng số lý phân giải có đoạn nói rõ tượng của từng quẻ.

Kiền tam kỳ viên tượng thiên. Khôn lục ngẫu đoạn tượng địa. Chấn nhất dương phát động tượng lôi. Tốn nhất âm thiện nhập tượng phong. Khảm nội dương ngoại âm tượng thủy. Ly ngoại dương nội âm tượng hỏa. Cấn nhất dương phụ ư nhị âm chi thượng tượng sơn. Đoài nhất âm khuyết ư nhị cương hào chi thượng tượng trạch.

Càn có ba nét lẻ tròn nên tượng cho trời, Khôn gồm sáu nét chẵn đứt nên tượng cho đất. Chấn có một dương phát động nên tượng cho sấm, Tốn có một âm khéo len vào nên tượng cho gió. Khảm trong dương ngoài âm nên tượng cho nước, Ly ngoài dương trong âm nên tượng cho lửa. Cấn một dương gánh trên hai âm nên tượng cho núi, Đoài một âm khuyết trên hai hào cứng nên tượng cho đầm ao. Trong đó hai quẻ Càn và Khôn là thủy tổ của vạn vật. Chu Dịch chính nghĩa nói Càn Khôn là cửa ngõ của biến dịch, các quẻ còn lại đều từ Càn Khôn mà ra. Càn thì cứng, Khôn thì mềm, cứng mềm tương khắc mà vạn vật xuất hiện, Càn là trời và Khôn là đất. Một cuốn sách khác ghi rằng trời tròn mà động, đất vuông mà tĩnh, tĩnh là gốc của động, động là cơ của tĩnh, cứng mềm đẩy nhau chính là động tĩnh của dịch.

Tượng của từng quẻ mở rộng ra muôn vật

Đặc điểm của quái tượng là lấy tám quẻ làm cơ sở để lần lượt tượng trưng cho tám loại sự vật lớn: Càn là trời, Khôn là đất, Chấn là sấm, Tốn là gió, Khảm là nước, Ly là lửa, Cấn là núi, Đoài là đầm. Từ đó các tượng căn cứ vào đặc tính của mình mà tượng trưng cho mọi vật thuộc nhiều loại khác nhau. Quẻ Càn do ba hào dương hợp thành, thuần dương, cứng, là trời, ngôi ở trên, nên mọi vật có dương tính, cứng và ở trên đều thuộc tượng Càn. Trong tự nhiên, đạo trời trong vũ trụ và các kim loại cứng rắn thuộc Càn. Trong xã hội, vì Càn thuộc trời mà vua ở ngôi cao nhất thiên hạ, nên Càn còn là áo khoác trên người quân vương, và vua với áo đều có tượng là Càn.

Quẻ Khôn do ba hào âm cấu tạo, thuần âm, mềm, là đất, ngôi ở dưới, nên mọi vật có thuộc tính âm, mềm và ở dưới đều là tượng Khôn. Trong tự nhiên là địa đạo và các chất âm. Trong xã hội, thần dân vì thuộc tầng dưới nên thuộc tượng Khôn. Càn và Khôn vì thế là hai tượng chung nhất của âm dương cứng mềm.

Quẻ Chấn là sấm, thuộc nhóm động và dương tính, nên tượng trưng cho sự vật có tính động, dương cứng. Quẻ Tốn là gió, thuộc âm, có tính động nhưng mềm, nên mọi vật âm mềm, trong nhu có cương, trong tĩnh có động đều thuộc tượng Tốn, như cái đẹp của đức tính con người và cái đẹp của hoa lá, vì vậy Tốn chủ yếu tượng cho những sự vật tốt đẹp, mềm dịu. Quẻ Khảm là nước, thuộc quẻ dương có tính chất âm cứng, nên nước, mưa, mây và quần chúng nhân dân đều có tượng là nước. Khảm còn là quẻ hiểm, mọi sự vật gập ghềnh hiểm trở đều thuộc tượng Khảm, như nước sông suối tạo nên hiểm trở.

Quẻ Ly là lửa, quẻ âm mềm, tượng cho ánh sáng và đức sáng, nên có câu Ly là mặt trời, nghĩa là ánh sáng rực rỡ của mặt trời, và là tượng tính của các sự vật trong dương và âm, trong nhu và cương. Quẻ Cấn là núi, quẻ dương đặc cứng, tượng cho các sự vật ở trên cao, cao quý và có đức cao, lại có câu Cấn là dừng, nên tượng cho sự vật bất động như núi. Quẻ Đoài là đầm, quẻ âm mềm, tượng cho những sự vật thấp ở phía dưới có tính âm mềm. Tác giả nói số chẵn lẻ được ký hiệu bằng các hào như trên là một khái quát nữa về tám quẻ.

Tám quẻ khí trong lịch pháp và y học Trung Hoa

Chín cung đi hết một năm, mỗi cung giữ ba tiết khí, và gió cũng đổi hướng theo từng cung ấy.

Về ứng dụng tám quẻ khí trong y học, tác giả nhắc đến thiên Cửu cung bát phong của sách Linh Khu. Thiên này hợp nhất cửu cung, bát quái và bát phong, phục vụ việc quan sát thiên tượng, khí tượng và ứng dụng vào lịch pháp. Các cung được sắp theo phương vị bát quái của Văn Vương, mỗi quẻ ứng với ba khí tiết. Khảm ở cung Diệp Trập, ứng đông chí, tiểu hàn, đại hàn. Cấn ở cung Thiên Lưu, ứng lập xuân, vũ thủy, kinh trập. Chấn ở cung Thương Môn, ứng xuân phân, thanh minh, cốc vũ. Tốn ở cung Âm Lạc, ứng lập hạ, tiểu mãn, mang chủng. Ly ở cung Thượng Thiên, ứng hạ chí, tiểu thử, đại thử. Khôn ở cung Huyền Ủy, ứng lập thu, xử thử, bạch lộ. Đoài ở cung Thương Quả, ứng thu phân, hàn lộ, sương giáng. Càn ở cung Tân Lạc, ứng lập đông, tiểu tuyết, đại tuyết.

Chín cung dịch chuyển trong năm, qua hai mươi bốn tiết, mỗi cung phụ trách ba tiết trong khoảng bốn mươi lăm ngày. Cung dịch chuyển nghĩa là mùa đổi, quái tượng đổi, gió và khí tượng cũng theo đó mà đổi. Đông chí là Khảm khí: khí này mạnh lên thì âm thịnh, hàn khí đến cực, dương khí bắt đầu sinh, gió lớn nổi lên. Lập xuân là Cấn khí: khí mạnh lên, hàn khí tiết xuân mát dần, dương khí còn yếu, gió lớn nổi lên. Xuân phân là Chấn khí: khí xuân ôn hòa ấm áp, dương khí mạnh dần, âm khí giảm dần, gió nhẹ xuất hiện. Lập hạ là Tốn khí: tiết hạ nóng nực, dương khí đã thịnh, âm khí tiêu tan, gió yếu đi. Hạ chí là Ly khí: trời rất nóng, dương khí đạt cực, âm khí bắt đầu sinh, gió lớn nhỏ xuất hiện. Lập thu là Khôn khí: trời chuyển mát, âm khí lớn dần, trời có gió nhẹ. Thu phân là Đoài khí: trời mát lạnh, dương khí giảm dần, âm khí đã thịnh, gió to nổi lên. Đó là tám quẻ tượng khí.

Tám quẻ khí ứng với khí tượng và bệnh tật

Cuốn Thông quái nghiệm trong Dịch vĩ cũng ghi chép về tám quẻ khí ứng với khí tượng và vật tượng cả năm. Sách nói rằng khí ở tám quẻ ứng với quy luật của nó, giữa âm dương và sáu khí điều hòa, lúc trời mưa gió đúng thì cốc vũ chín rộ, nhân dân vui vẻ, và lập quẻ, xem tượng thì biết rõ thực hư. Nếu tám quẻ lầm loạn thì kỷ cương hỏng, mặt trời mặt trăng và các vì sao mất trật tự vận hành, âm dương không điều hòa, thời tiết bất chính, tám quẻ khí không ứng nghiệm thì tai họa sinh ra.

Sách còn nói Càn ứng hướng Tây Bắc, nhằm tiết lập đông. Khi thấy khí trắng xuất hiện ở chính giữa là Càn khí chính. Nếu khí ấy lệch thì vạn vật chết một nửa hay bị tổn thương. Càn khí không chính và mạnh thì đến tiết lập hạ gặp lạnh thương, vạn vật chết nhiều, nhân dân gặp dịch bệnh. Càn khí gặp tiết đông chí mà dương khí hỏa thịnh lúc ẩn lúc hiện thì sâu bọ xuất hiện nhiều.

Cuốn sách ấy còn nêu ảnh hưởng của quái khí và phong khí thất thường đến bệnh tật con người. Lúc chính tiết mà khí không chính thì vạn vật khô cằn, đậu nành không lớn, người thì chân lạnh, mạch hư, phát lạnh. Chưa đến chính tiết mà khí đã chính thì người chân lạnh, mạch thịnh, rất dễ mắc bệnh nghẽn mạch tim khi tiết trời khô hanh. Tác giả coi đó là những ứng dụng quan trọng của tám quẻ trong y học Trung Hoa.

Chu Dịch, tác phẩm lớn tổng hợp văn hóa bốc phệ tiên Tần

Trước mỗi cuộc xuất quân hay lễ tế, một vị quan lặng lẽ nướng mai rùa và đếm que cỏ thi.

Sang thời kỳ đầu của tượng số, tác giả nói thời tiên Tần là thời trước nhà Tần, từ cổ đại xa xưa đến năm 221 trước Công nguyên, khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, gồm các triều Hạ, Thương, Chu, Xuân Thu, Chiến Quốc. Suốt khoảng ba nghìn năm ấy là thời kỳ lấy văn hóa bốc phệ và văn hóa ký hiệu làm đại diện. Chiêm phệ chia làm hai giai đoạn là quy bốc, bói mai rùa, và thi phệ, bói cỏ thi. Hạ, Thương là thời quy bốc phát triển mạnh, gọi gọn là bốc. Nhà Chu bắt đầu thay phương pháp cũ bằng phép chiêm trắc bằng cỏ thi, gọi gọn là phệ. Sử ký, Tả truyện và Quốc ngữ đều ghi các phép bói bốc phệ của thời này.

Quy, tượng dã, phệ, số dã.

Tả truyện, năm thứ mười lăm đời Hy Công, dẫn lời Hàn Giản: mai rùa là phép xem tượng, cỏ thi là phép xem số. Đặc điểm chủ yếu của văn hóa tiên Tần là văn hóa bốc phệ. Thời đó vương quốc nào trước việc trọng đại cũng phải xem chiêm bốc. Quyển 24 của Chu Lễ chú sơ, phần Xuân quan, ghi rằng phàm nước có đại chinh, bốc lập quân, bốc đại quái thì phải làm lễ cáo rồi xem mai rùa. Cùng sách còn nói xem tam Dịch và tam mộng để biết cát hung của vận nước.

Phàm quốc chi đại sự, tiên phệ hậu bốc.

Việc lớn của nước thì trước hết xem cỏ thi, rồi sau xem mai rùa. Điều đó cho thấy bốc phệ là hiện tượng văn hóa quan trọng của thời tiên Tần. Sự hưng thịnh ấy được chứng thực ở hai căn cứ là tư liệu văn hiến cổ và tư liệu khảo cổ.

Tư liệu văn hiến: chuyện Tấn Hiến Công và Ly Cơ

Tả truyện, năm thứ tư đời Hy Công, kể rằng lúc đầu Tấn Hiến Công muốn lập Ly Cơ làm phu nhân, xem bốc thì không lành, xem phệ thì lành. Vua nói theo phệ. Người làm bốc nói phép phệ ngắn, phép bốc dài, vậy nên theo cái dài. Theo tác giả, tư liệu này chứng minh quy bốc và thi phệ được dùng song song thời ấy, và quy bốc vẫn có vai trò quyết định. Chu Lễ viết rằng phàm tế tự thì phải xem bốc để chọn ngày trước. Sử ký, thiên Quy sách liệt truyện, ghi rằng khi bậc vương quyết định việc lớn thì dùng phệ để tham khảo và dùng quy để đoán, là quy định bất di bất dịch, nên Chu Công xem ba lần mai rùa mà Vũ Vương được Liêu.

Tư liệu khảo cổ: giáp cốt, thẻ tre và sách lụa

Về khảo cổ, thứ nhất là văn tự giáp cốt thời Thương Chu. Trong đó trên chín mươi phần trăm là bốc từ. Ngoài việc dùng can chi để ghi giờ và ghi cống nạp, xã hội lúc ấy hầu như đa số dùng hình thức chiêm bốc để ghi chép, nên giáp cốt là bằng chứng chắc chắn của văn hóa bốc phệ tiên Tần.

Thứ hai là những tư liệu sơ khai của Chu Dịch viết trên thẻ tre đầu đời Hán, tìm thấy khi khai quật mộ cổ đời Hán ở gò Song Cổ, Phụ Dương, ghi quái tượng, quái từ, hào từ và bốc từ. Có hơn ba trăm thẻ tre rời rạc, gồm hơn sáu mươi quẻ trong sáu mươi bốn quẻ của Kinh Dịch, trong đó có chín thẻ viết về quái họa và quái từ, hơn sáu mươi thẻ viết hào từ. Giữa các hào từ có một chấm tròn để ngăn cách, và sau từ lại có các từ để xét đoán sự việc qua phép chiêm bốc. Trong Lục nghệ lược của Hán chí có mười hai thiên Kinh Dịch. Phần Số thuật lược có ba mươi tám quyển thuộc Chu Dịch, hai mươi ba quyển Ư linh khâm Dịch cát hung và ba mươi quyển Đại thứ tạp Dịch, đều thuộc Dịch của các nhà phệ quy. Các thẻ tre Phụ Dương thuộc loại này. Các từ xét đoán qua bốc có kiểu cách cố định, chỉ ra tốt xấu của thiên tượng và nhân sự như trời nắng, trời mưa, đi săn, bắt cá, chinh chiến, việc của quân vương, cầu quan tiến chức, du hành, lưu vong, cưới xin và bệnh tật. Một đoạn viết rằng xem bốc người có tội mà kết quả xấu thì đi đánh sẽ gặp địch mạnh khó thắng.

Thứ ba là sách lụa Chu Dịch ở mộ cổ đời Hán tại gò Mã Vương, khai quật năm 1973. Quái họa, quái từ, hào từ trong đó hoàn toàn giống Chu Dịch các bản ghi hiện nay, nhưng thứ tự các quẻ lại không giống. Tác giả cho rằng đó là nguyên nhân của việc thay đổi thứ tự quẻ, có lẽ do nhu cầu chiêm phệ, vì nếu không có lý do vô cùng đặc biệt thì người ta không mạnh dạn đổi thứ tự các quẻ. Những tư liệu ấy chứng thực thời tiên Tần là thời kỳ đặc trưng của văn hóa bốc phệ.

Liên Sơn, Quy Tàng, Chu Dịch và phép đại diễn

Các tác phẩm Liên Sơn, Quy Tàng và Chu Dịch là sự tổng kết của phép chiêm phệ tiên Tần. Phần Tông Bá, Xuân quan, trong Chu Lễ viết rằng phải nắm phép của tam Dịch, thứ nhất là Liên Sơn, thứ hai là Quy Tàng, thứ ba là Chu Dịch. Dịch này có tám quẻ kinh, rồi chia thành sáu mươi bốn quẻ. Liên Sơn và Quy Tàng nay đã mất, chỉ còn Chu Dịch. Đặc điểm của phép phệ trong Chu Dịch là đại diễn chi số, tức diễn các quẻ bằng con số.

Đại diễn chi số ngũ thập, kỳ dụng tứ thập hữu cửu.

Số đại diễn là năm mươi, trong đó dùng bốn mươi chín, chia đôi ra để tượng hai nghi. Để riêng một cái để tượng tam tài. Đếm từng bốn cái một để tượng bốn mùa. Số dư ra tượng tháng nhuận, năm năm có hai lần nhuận, nên lặp lại với phần chưa đếm. Cần bốn thao tác để có một biến, mười tám biến để thành một quẻ. Bát quái lập thì thành một tiểu thành, suy rộng ra, thêm vào mỗi tình huống tất cả các giai đoạn chuyển tiếp thì gồm hết cả việc thiên hạ. Tác giả nói những phép chiêm phệ của Chu Dịch nêu trên đã tổng kết được các đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của các phép chiêm bói tiên Tần.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện