Bài tổng quan
Ếch đáy giếng, được cá quên nơm: những lời Trang Tử còn vang
Hai người đứng trên cầu xem cá bơi. Một người bảo cá vui lắm, người kia hỏi sao ông biết cá vui, và câu đáp lại đã đi hơn hai nghìn năm. Còn nhiều câu nữa của Trang Tử, từ con dao mổ bò mười chín năm không mòn đến chim thần chết vì được đãi quá hậu…
Trang Tử có rất nhiều câu hay, và nhiều câu đã trở thành thành ngữ hoặc điển tích trong tiếng nói của đời sau. Có câu mở ra cả một cách nhìn về sống chết, có câu là một chuyện ngụ ngôn nhỏ về học thức và về cách đối đãi, có câu hóa thành thành ngữ quen thuộc nhất. Lần lượt nghe từng câu cùng ý nghĩa mà đời sau gắn cho nó.
Phải và quấy, sống và chết, giấc mộng bướm
Câu đầu tiên là câu tiêu biểu cho Tề vật luận: nói sống rồi nói chết, nói chết rồi nói sống, nói được rồi nói không được, nhân cái phải mà có cái quấy, nhân cái quấy mà có cái phải. Nó phản ánh thuyết tương đối của Trang Tử: ông xóa khác biệt giữa sống và chết, giữa đúng và không đúng, phủ nhận tính quy định về chất của sự vật, bỏ qua điều kiện chuyển hóa giữa các mặt đối lập, rồi thiên lệch nhấn mạnh thuyết tuyệt đối – tương đối, như câu "trời đất là một ngón tay, vạn vật là một con ngựa".
Bất tri Châu chi mộng vi hồ điệp dư, hồ điệp chi mộng vi Châu dư.
Không biết Châu mộng làm bướm hay bướm mộng làm Châu. Câu thể hiện tư tưởng tề vật: Trang Tử không tách mình khỏi bướm, xóa ranh giới vật – ta, phản ánh tư tưởng duy tâm chủ quan và quan điểm "không đợi chờ, không có bản thân". Nó là cảnh giới cao nhất của "tiêu dao du", và ảnh hưởng sâu đến tư tưởng tu tiên của Đạo gia sau này.
Nhân chi sinh, khí chi tụ dã. Tụ tắc vi sinh, tán tắc vi tử.
Đời người là khí tụ lại; tụ thì sống, tan thì chết. Câu làm căn cứ lý luận cho cách nhìn sống – chết của Trang Tử. Trong thiên "Chí lạc" có chuyện vợ Trang Tử mất mà ông gõ bồn ca hát. Ông trả lời Huệ Tử rằng con người vốn vô hình, nay khí tụ thì sống, khí tan thì chết, cũng như tự nhiên đổi thay theo bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, không cần khóc lóc. Vì vậy câu này cũng là lời xem nhẹ hiện thực và sự sống, ảnh hưởng sâu đến nhân sinh quan lánh đời và việc tu luyện của Đạo gia.
Cổ bồn nhi ca.
Gõ bồn mà ca. Chuyện vợ Trang Tử mất mà ông không khóc, còn gõ bồn ca hát, phản ánh tư tưởng tề vật coi sống và chết ngang nhau. Việc đánh đồng sống chết của ông ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng thành tiên, coi nhẹ đời này mà xem nặng kiếp sau của Đạo gia.
Triêu tam nhi mộ tứ.
Sáng ba mà chiều bốn. Câu lấy từ chuyện ngụ ngôn Thư Công nuôi khỉ: người nuôi khỉ nói sáng cho ba hạt dẻ, chiều cho bốn, bầy khỉ nổi giận; ông bèn đổi thành sáng bốn, chiều ba, bầy khỉ liền mừng. Chuyện cho thấy danh nghĩa không đổi mà tâm lý hai bên khác nhau. Trang Tử dùng ngụ ngôn đơn giản này để nói quan điểm giải quyết việc theo ý chủ quan của mình. Đời sau dùng câu này để chỉ cách làm việc thiếu chính xác, hay đổi thay.
Học thức, ếch đáy giếng và con dao của Bào Đinh
Ngô sinh dã hữu nhai, nhi tri dã vô nhai. Dĩ hữu nhai tùy vô nhai, đãi dĩ.
Đời ta có bờ, mà sự hiểu biết thì không bờ; lấy cái có bờ đuổi theo cái không bờ thì nguy. Trang Tử cho rằng sinh mệnh người có hạn mà tri thức thì vô hạn, đem cái hữu hạn đuổi theo cái vô hạn là quá nguy hiểm. Câu này phản ánh quan điểm giáo hóa tiêu cực, thực chất là luận điệu cũ phản đối sự ham hiểu biết, rất tiêu cực. Nhưng cũng có thể dùng để đề cao giá trị vô hạn của một đời hữu hạn, nếu không chắc cũng gần như vậy.
Hãm tỉnh chi oa.
Ếch ngồi đáy giếng. Trong thiên "Thu thủy", Ngụy Mâu tả học thức của Công Tôn Long hẹp như ếch ngồi đáy giếng, ý khoe học vấn uyên thâm của Trang Tử. Đời sau gọi những người nông cạn, hẹp hòi về nhận thức là "ếch ngồi đáy giếng".
Tam niên chi hậu, vị thường kiến toàn ngưu dã.
Sau ba năm, chưa từng thấy nguyên con bò nữa. Câu chỉ chuyện Bào Đinh mổ bò, "không dùng mắt nhìn mà dùng thần để xem". Con dao của ông dùng mười chín năm, mổ đến mấy nghìn con bò mà lưỡi vẫn như mới mài. Nghĩa là việc cai trị xã hội tuy phức tạp, nhưng cũng giống như mổ bò: chỉ cần tách đúng gân cốt thì lách dao dễ dàng. Việc cai trị xã hội cũng thế, trị đúng chỗ thì trị được dễ dàng. Câu có ảnh hưởng khá lớn với đời sau và đã trở thành một danh từ lớn.
Đắc ngư nhi vong thuyên.
Được cá thì quên nơm. Nơm là đồ bắt cá. Câu này nói quan điểm "được ý quên lời" của Trang Tử, nghĩa là ý có thể không cần lời. Đó là biểu hiện thuyết tuyệt đối – tương đối trong nhận thức luận của ông: ông đánh đồng hình thức và nội dung, khái niệm và hiện tượng, xóa sự đối lập thống nhất giữa hai bên. Lời tuy không thể trọn ý, nhưng lời và ý vẫn tương đồng. "Lời" có tính tồn tại độc lập, nên đánh đồng hai thứ cũng bất lợi cho sự vật phát triển.
Câu này ảnh hưởng lớn đến đời sau. Vương Bật trong Chu Dịch lược lệ – Minh tượng đề xuất "được ý quên tượng" cũng chịu ảnh hưởng từ đó. Chủ trương của Thiền tông, "không lập văn tự, chỉ giữ lấy lòng người", cũng chịu ảnh hưởng của câu trên. Ý sâu xa của câu là phá sự ràng buộc giữa nội dung và hình thức, chú trọng phát triển nội dung, có giá trị quan trọng trong văn nghệ, văn học, mỹ thuật, hội họa, vũ đạo.
Cá có vui không, và thế nào là nghĩa giao
Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc?
Ông không phải cá, sao biết cá vui? Chuyện kể Trang Tử và Huệ Tử xem cá bơi trên cầu. Trang Tử nói những con cá ấy thật vui. Huệ Tử hỏi: "Ông không phải cá, sao biết cá vui?" Trang Tử đáp: "Ông không phải tôi, sao biết tôi không biết cái vui của cá?" Câu phản ánh tư tưởng tề vật tuyệt đối của Trang Tử, tức cho rằng cá và ta tuy khác nhau nhưng bản tính là một, cũng cho thấy rõ cái ngụy biện của danh gia cổ đại trong giới triết học.
Quân tử chi giao đạm nhược thủy, tiểu nhân chi giao cam nhược lễ.
Người quân tử giao thiệp nhạt như nước, kẻ tiểu nhân giao thiệp ngọt như rượu ngọt. Câu này đồng nghĩa với lời trong thiên "Biểu ký" của Đới Thánh đời Tây Hán: giao tiếp của quân tử nhạt như nước, của tiểu nhân ngọt như rượu ngọt; quân tử nhạt mà tốt, tiểu nhân ngọt mà xấu. Ngụ ý là giao tiếp giữa người với người không đến từ vật chất mà ở sự thành thật, và tình cảm chân thật với tình bạn rượu thịt không chung một tiếng nói.
Mạc nghịch ư tâm, toại tương dữ vi hữu.
Không thấy trái ý nhau trong lòng, nên làm bạn với nhau. Đời sau gọn lại thành ý "không giao với kẻ phản nghịch". Ý sâu của câu là: bậc tài giỏi chỉ cần thuận đạo trời thì mới làm bạn được, hợp đạo trời thì sống chết có nhau, trở về gốc là sự chất phác chân thật. Đời sau phát triển câu này thành tình bạn tâm đầu ý hợp.
Còn chuyện "cái rìu của người ấp Dĩnh": một người họ Dĩnh quét phòng, đầu mũi dính bụi vôi trắng, bèn nhờ người thợ họ Thạch dùng rìu hất đi. Người họ Dĩnh đối mặt lưỡi rìu sắc mà không sợ, người thợ vung rìu mà không làm bị thương người kia, bởi hai người phối hợp với nhau. Về sau Tống Nguyên Quân cũng muốn người thợ làm thử cho mình, nhưng người từng làm cho thợ đã chết lâu rồi. Trang Tử so với chuyện Huệ Thi chết, rằng ông còn có tri âm. Ý sâu xa của câu chuyện là sự thống nhất của các mặt đối lập tồn tại giữa các sự vật, và các mặt đối lập luôn là điều kiện quan trọng để sự vật tồn tại.
Thân phận, chim thần và nàng Đông Thi nhăn mặt
Nhân sinh thiên địa chi gian, nhược bạch câu chi quá khích.
Người sống trong trời đất cũng như ngựa bạch vượt qua khe hở. Ngựa bạch qua khe là tuấn mã vụt qua khe cửa, nghĩa là đời người trôi nhanh như thế.
Chuyện Vĩ Sinh ôm cột cầu: Vĩ Sinh hẹn với một cô gái dưới chân cầu mà cô không đến, đúng lúc nước triều dâng, ông vẫn giữ lời hẹn không rời, cuối cùng chết đuối. Trang Tử kể chuyện ấy để chế giễu trung, tín, nghĩa của Nho học. Đời sau mượn chuyện Vĩ Sinh ôm cột để so sánh với những bậc thánh hiền giữ tín nghĩa.
Thử dĩ kỷ dưỡng điểu dã, phi dĩ điểu dưỡng điểu dã.
Ấy là lấy cách nuôi mình mà nuôi chim, chứ không phải lấy cách nuôi chim mà nuôi chim. Đó là chuyện Lỗ hầu nuôi chim: một con chim lớn bay đến ngoại thành nước Lỗ, vua Lỗ cho là chim thần, bèn đón về miếu, mỗi ngày sai người tấu nhạc "Cửu Thiều" cao nhã, làm lễ thái lao với bò, dê, lợn để đãi. Chim không những không vui mà suốt ngày hoảng hốt, không ăn không uống, ba ngày thì chết. Trang Tử dùng ví dụ này để chỉ việc Lỗ hầu nuôi chim bằng cách nuôi mình, kết quả là chim chết; ý cũng nói không nên coi nặng vinh hoa, nếu không sẽ bị vinh hoa hại. Mục đích là nhắc lại tư tưởng Đạo gia: không ham muốn mà vui, lấy cái vui ấy chống nỗi buồn. Đời sau hiểu rằng đi ngược quy luật khách quan thì tất kết quả trái với ý muốn.
Ngư kiến chi thâm nhập, điểu kiến chi cao phi.
Cá thấy thì lặn sâu, chim thấy thì bay cao. Cả câu gốc là: Mao Tường, Lệ Cơ, người thấy cho là đẹp, nhưng cá thấy thì lặn sâu, chim thấy thì bay cao, hươu nai thấy thì chạy dài. Tức Trang Tử cho rằng hai nàng ấy đẹp, nhưng cá thấy thì lặn, chim thấy thì bay, qua đó nói sự thống nhất trong nhận thức về đẹp và xấu theo quan điểm tề vật. Đời sau dựa vào cơ sở này mà có câu "trăng khép lại khi nhìn hoa không đẹp" trong Mẫu đơn đình của Thang Hiển Tổ, để tả vẻ đẹp bên ngoài.
Bằng chi tỉ ư Nam Minh dã, thủy kích tam thiên lý, đoàn phù dao nhi thượng giả cửu vạn lý.
Chim bằng dời xuống biển Nam, cánh đập làm nước nổi lên ba nghìn dặm, nương gió xoáy mà bay lên chín vạn dặm. Đời sau nói gọn là "phù dao trực thượng". Trong bài của Lý Bạch có câu: đại bàng một ngày cùng gió bay lên, vút tận chín tầng mây. Ý sâu của Trang Tử là vượt lên khỏi vật – ta, nêu "tâm du" lìa khỏi bụi trần. Đời sau phát triển thành câu chỉ đường làm quan thuận lợi như mây xanh bay thẳng lên không.
Điển cố "Đông Thi nhăn mặt" cũng từ Trang Tử: nàng Tây Thi xinh đẹp vì có bệnh ở tim nên hay nhăn mặt cau mày, nàng Đông Thi ở bên hàng xóm thấy vậy cũng ôm ngực nhăn mặt, kết quả là mặt càng xấu đi. Ý chỉ người hay bắt chước, theo sau người khác mà không chú ý phát triển bản thân, thì kết quả chỉ làm hại chính mình.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tập 2, thuật lại có lược bớt.
