Bài tổng quan
Lời khuyên học trong Luận Ngữ và cánh cửa mở sang Lão Tử
Khổng Tử xin trời cho thêm ít năm nữa để đến năm mươi tuổi học Dịch, mong khỏi phạm lỗi lớn. Một người thầy đã dạy ba nghìn học trò mà vẫn xin thêm năm tháng để học. Và ngay cạnh ngài, có một bộ sách nói một giọng hoàn toàn khác…
Mục lục · 7 phần
- 01Người quân tử, nhà nho quân tử và nỗi hổ thẹn khi lời vượt quá việc
- 02Chín điều quân tử phải nghĩ tới
- 03Những câu nhắc việc học, từ tuổi năm mươi học Dịch tới chuyện ba người cùng đi
- 04Cách ngôn giáo dục: dạy không phân loại và bốn khoa học
- 05Từ đạo người sang đạo trời: Lão Tử mở ra một hướng khác
- 06Đạo là cái thấp thoáng, có hình mà không hình
- 07Từ Lão Tử đến Trang Tử: con chim bằng cũng còn phải chờ gió
Theo tác giả, Khổng Tử chú trọng việc giữ gìn phẩm đức đến mức Luận Ngữ quả là một bộ sách tu dưỡng phẩm chất đạo đức. Sách để lại ấn tượng sâu sắc, góp phần tạo dựng phẩm chất luân lý của dân tộc Trung Hoa. Ông kêu gọi mọi người phải lo cho nước, lo cho dân, và theo tác giả đó chính là nguyên nhân khiến học thuyết của Khổng Tử vượt lên trên bách gia chư tử.
Người quân tử, nhà nho quân tử và nỗi hổ thẹn khi lời vượt quá việc
Tác giả tiếp tục dẫn một loạt câu trong các thiên khác nhau, nói về cách một người tự giữ mình. Thiên Ung dã chép Khổng Tử bảo Tử Hạ rằng: ngươi hãy làm nhà nho quân tử, đừng làm nhà nho tiểu nhân. Thiên Thái Bá chép một lời dặn lớn hơn:
Đốc tín hiếu học, thủ tử thiện đạo. Nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư. Thiên hạ hữu đạo tắc kiến, vô đạo tắc ẩn. Bang hữu đạo, bần thả tiện yên, sỉ dã; bang vô đạo, phú thả quý yên, sỉ dã.
Khổng Tử nói: một lòng tin chắc, ham học, thà chết để giữ trọn đạo; nước nguy thì chớ vào, nước loạn thì chớ ở. Thiên hạ có đạo thì ra làm, vô đạo thì ẩn. Nước có đạo mà mình nghèo hèn là điều đáng hổ thẹn; nước vô đạo mà mình giàu sang cũng là điều đáng hổ thẹn.
Thiên Tử Hãn có lời của học trò nói về thầy: thầy tuần tự khéo léo dẫn dắt người, dùng văn mở mang trí ta, dùng lễ ước thúc ta, dẫu muốn bỏ cũng không bỏ được, ta đã dốc hết tài lực. Thiên Tử Lộ: quân tử khoan thai mà không kiêu, tiểu nhân kiêu mà không khoan thai. Thiên Hiến vấn: quân tử lấy làm hổ thẹn vì lời nói vượt quá việc làm; đừng lo người ta không biết mình, chỉ lo mình không có khả năng.
Chín điều quân tử phải nghĩ tới
Có một danh sách gom những điều quân tử phải nghĩ tới, nằm ở thiên Quý Thị.
Thiên Quý Thị chép lời Khổng Tử về chín điều quân tử phải nghĩ:
Quân tử hữu cửu tư: thị tư minh, thính tư thông, sắc tư ôn, mạo tư cung, ngôn tư trung, sự tư kính, nghi tư vấn, phẫn tư nạn, kiến đắc tư nghĩa.
Bậc quân tử có chín điều phải nghĩ tới: nhìn thì nghĩ làm sao nhìn cho rõ; nghe thì nghĩ làm sao nghe cho thông; sắc mặt thì nghĩ làm sao giữ ôn hòa; dáng vẻ thì nghĩ làm sao giữ khiêm cung; lời nói thì nghĩ làm sao giữ chữ trung; làm việc thì nghĩ làm sao giữ kính cẩn; có điều ngờ thì nghĩ phải hỏi; khi giận thì nghĩ tới hoạn nạn có thể theo sau; khi thấy lợi thì nghĩ tới nghĩa.
Sau đó là vài câu nghiêm khắc ở thiên Dương hóa: những kẻ nghe chuyện ngoài đường rồi nói lại thì bỏ mất cái đức của mình; những kẻ bề ngoài oai vệ mà bên trong nhu nhược, đem so với tiểu nhân thì chẳng khác gì kẻ trộm đào ngách trèo tường.
Những câu nhắc việc học, từ tuổi năm mươi học Dịch tới chuyện ba người cùng đi
Từ chuyện giữ mình, mạch dẫn của Luận Ngữ lại quay về chuyện học, vốn là chỗ ông tự thấy mình thiếu nhất.
Thiên Thuật nhi chép một câu mà tác giả đặc biệt chú ý:
Gia ngã số niên, ngũ thập dĩ học Dịch, khả dĩ vô đại quá hĩ.
Nếu trời cho ta thêm ít năm nữa để đến năm mươi tuổi học Dịch, thì ta có thể không phạm lỗi lớn. Tác giả cho câu này thể hiện tinh thần học tập không mệt mỏi của Khổng Tử, đồng thời phản ánh đóng góp của ông đối với Kinh Dịch. Ông dẫn Sử ký, Khổng Tử thế gia: Khổng Tử về già thích Dịch, soạn các phần Thoán, Hệ, Tượng, Thuyết quái, Văn ngôn; đọc Dịch đến mức dây buộc thẻ tre đứt ba lần. Lòng tin sùng Kinh Dịch của ông còn thể hiện ở chỗ ông biên soạn Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân Thu thành lục kinh, rồi sau này được liệt vào Tứ thư, Ngũ kinh, là kinh điển cần thiết của Nho học. Tác giả nói Kinh Dịch không phải của riêng một người, cũng không phải tác phẩm riêng của Khổng Tử, nhưng Dịch truyện là do bảy mươi hai đệ tử, chí ít cũng là do các nho sinh chọn lọc, tất nhiên tập trung tư tưởng của Khổng Tử. Vì vậy Khổng Tử có đóng góp bất hủ với Kinh Dịch.
Thiên Thuật nhi chép tiếp:
Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư yên; trạch kỳ thiện giả nhi tòng chi, kỳ bất thiện giả nhi cải chi.
Ba người cùng đi, tất có người là thầy ta; chọn điều hay mà theo, điều chưa hay thì sửa. Thiên Công Dã Tràng có câu: cần mẫn mà ham học, không ngại hỏi người dưới. Tác giả giải: ý nói trong nhiều người luôn có một người để mình học; ưu điểm của họ nên phát huy, khuyết điểm nên đem sửa cho bản thân. Đó là tinh thần nghiên cứu khiêm nhường của Khổng Tử, vẫn được người đời ca ngợi là lời khuyến học đẹp.
Ba câu khác, tác giả gọi là những câu nổi tiếng khuyến học: học không biết chán, dạy người không biết mỏi (Thuật nhi); ôn cũ mà biết mới thì có thể làm thầy (Vi chính); học mà không nghĩ thì mờ mịt, nghĩ mà không học thì nguy hiểm (Vi chính). Còn câu ở thiên Học nhi, học rồi luôn luyện tập, há chẳng vui sao, tác giả coi là lời hay quý việc học. Khổng Tử cho rằng việc tìm tòi hiểu biết là việc hay nhất, như đời sau nói "vui ở sự học".
Thiên Học nhi có đoạn Tử Cống dẫn Kinh Thi: như cắt như giũa, như đẽo như mài, hợp với ý thầy chăng. Tác giả nhận xét câu này giống câu "ngọc không mài không sáng" trong Lễ ký, đều là lời hay về việc học. Ông dẫn thêm: phải gắng học như sợ không kịp, chỉ lo mình bị bỏ rơi; người xưa học để cho mình, người nay học để cho người (Hiến vấn). Rồi nhắc lại sáu mối hại của việc thích mà không học: thích nhân mà không học thì ngu, thích trí mà không học thì phóng đãng, thích tín mà không học thì hại người hại mình, thích ngay thẳng mà không học thì gắt gao, thích dũng mà không học thì loạn, thích cương mà không học thì cuồng (Dương hóa). Tử Hạ nói học phải sâu rộng mà theo một chí hướng, hỏi han cần thiết mà nghĩ sát thân. Tử Hạ còn nói kẻ sĩ lo phận sự xong thì học thêm, người học xong rồi thì ra làm quan (Tử Trương).
Tác giả nhận định những câu ấy, từ phương pháp ham học đến tìm tòi học tập, đều phản ánh nhu cầu tìm hiểu và phong cách học của Khổng Tử. Ông khuyên mọi người học hành, không ít lời răn đã thành lời răn nghìn đời, đời đời cổ vũ quyết tâm của dân tộc Trung Hoa.
Cách ngôn giáo dục: dạy không phân loại và bốn khoa học
Lời dạy việc học dẫn thẳng tới những lời nói về chính việc dạy, và đó là phần cuối của chuỗi cách ngôn này.
Câu đầu là "hữu giáo vô loại" (Vệ Linh Công): dạy người không phân biệt đẳng cấp. Tác giả coi đây là danh ngôn bình đẳng giáo dục do Khổng Tử đề xướng: người được dạy không phân cao thấp, giàu nghèo, ai cũng có thể được giáo dục. Đó là một nội dung vĩ đại nhất của tư tưởng giáo dục của ông, một câu danh ngôn thế kỷ bất hủ.
Câu thứ hai là câu ở thiên Lý nhân: xóm có nhân hậu là xóm tốt, chọn nơi ở mà không chọn chỗ nhân hậu thì sao gọi là có trí. Tác giả giải: câu này chỉ ảnh hưởng rất lớn của hoàn cảnh xã hội tới một người, nên cần chọn nơi nhân lễ mà ở. Mẹ Mạnh Tử từng chọn nơi ở nhân hậu để dạy con, ba lần chuyển nhà, đã nói rõ ảnh hưởng của hoàn cảnh với cá nhân. Đời sau có câu gần mực thì đen, gần đèn thì rạng, là sự phát huy câu này.
Câu thứ ba là ở thiên Thuật nhi: Khổng Tử dạy học trò bốn khoa, văn, hạnh, trung, tín, tức văn chương, đức hạnh, trung trực, tín thật. Tác giả chú: Khổng Tử chỉ ra bốn ý chính của giáo dục là tri thức văn hóa, thực tiễn xã hội, trung và tín.
Kết lại, tác giả viết rằng tư tưởng giáo dục của Luận Ngữ là ánh sáng, và một đời ông nỗ lực dạy học cũng chỉ vì chủ trương giáo dục bình đẳng, mọi người đều được dạy. Ông bồi dưỡng hơn ba nghìn học trò, trong đó có bảy mươi hai hiền đệ và bốn người kiệt xuất. Ông lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm nội dung học tập chủ yếu của Nho học, nhất là tôn sùng Kinh Dịch. Khổng Tử một đời lên xuống nhưng có đóng góp vô tư cho việc tạo nên tố chất văn hóa của dân tộc Trung Hoa.
Từ đạo người sang đạo trời: Lão Tử mở ra một hướng khác
Từ đạo người sang đạo trời, giọng nói đổi hẳn.
Theo tác giả, Lão Tử là kinh điển của Đạo gia, tư tưởng học thuật trong sách ảnh hưởng sâu rộng tới triết học, tôn giáo và văn hóa truyền thống Trung Quốc. Tác phẩm này tuyệt nhiên không giống Luận Ngữ: Luận Ngữ là bộ sách lớn nói về đạo người, còn Lão Tử là bộ sách nói về đạo trời. Quan điểm xuất thế tiêu cực của Lão Tử thì không dễ khiến người ta tiếp nhận, nhưng trong đó có nhiều cách ngôn về tư tưởng, nhiều lời dạy luân lý và mệnh đề triết lý không bị mai một theo thời gian, ảnh hưởng sâu sắc, ở nhiều mức độ khác nhau, tới việc tạo nên phẩm cách dân tộc Trung Hoa.
Toàn văn Lão Tử gồm năm nghìn chữ, là kinh điển chủ yếu của Đạo gia và có ảnh hưởng quan trọng đến xã hội, tư tưởng, văn hóa Trung Quốc. Sách chia hai phần: quyển thượng là Đạo kinh, quyển hạ là Đức kinh, nên gọi chung là Đạo đức kinh, và được in thành sách vào giữa thời Chiến Quốc. Tác giả không nhất định là chính Lão Tử, mà chủ yếu phản ánh tư tưởng của ông, được đánh giá là sáng tác của người theo đuổi Lão Tử. Lão Tử là người mở đầu và sáng lập Đạo gia, tương truyền là Lý Đam thời Xuân Thu. Sử ký, phần Lão Tử Hàn Phi liệt truyện ghi rằng Lão Tử họ Lý, tên Nhĩ, tự Bá Dương, thụy là Đam. Cho tới nay vẫn chưa xác định được ông là Lão Lai Tử, Lão Đam hay Thái sử Đam trong Sử ký, nhưng nói chung Đạo gia tôn Lão Tử là Lão Đam.
Bản Lão Tử đào được năm 1973 ở mộ Mã Vương Đôi gồm hai bản giáp và ất, quyển thượng là Đức thiên, quyển hạ là Đạo thiên, có giá trị quan trọng để nghiên cứu sách. Sách nghiên cứu Lão Tử rất nhiều. Bản chú sớm nhất là Giải lão, Dụ lão của Hàn Phi thời Chiến Quốc; trong Chính thống đạo tạng đã có hơn năm mươi bản. Các bản lưu hành nhiều hiện nay chủ yếu là Lão Tử chú của Hà Thượng Công thời Hán, Lão Tử Tưởng Nhĩ chú của tác giả không rõ tên, Lão Tử chú của Vương Bật thời Ngụy, Đạo đức kinh cổ bản thiên của Phó Dịch thời Đường, Lão Tử bản nghĩa của Ngụy Nguyên thời Thanh. Cận đại thường dùng bản Lão Tử tân dịch của Nhậm Kế Dũ.
Đạo là cái thấp thoáng, có hình mà không hình
Về nhân sinh quan và bản thể luận về đạo, phải bắt đầu từ bối cảnh thời đại. Vì Lão Tử dùng thái độ trốn tránh chính trị và xã hội, nên tôn chỉ cả cuốn sách khác hẳn Luận Ngữ: đó là người tránh xã hội mà dồn sức vào quan hệ giữa người với tự nhiên, nên trước hết chú tâm nghiên cứu bản thể luận của vũ trụ. Thời đại sinh ra Lão Tử đúng lúc chế độ nô lệ tan vỡ lớn, chế độ phong kiến đang hình thành biến đổi lớn. Do bất mãn với chế độ phong kiến vừa hình thành mà ông có cái nhìn vũ trụ theo chủ nghĩa hư vô. Từ nhân sinh quan hư vô ấy dẫn tới việc phủ nhận sự vật khách quan, nên Lão Tử cho rằng bản thể của vũ trụ là đạo. Đạo là cái thấp thoáng: có hình mà không có dạng, có bóng mà không có vật thể, có thể biết mà không nhìn thấy, có thể nghe mà không nghe thấy; quy về gốc rễ là hư vô. Từ đó ông nêu quan điểm then chốt về bản thể luận của đạo là "hữu sinh ư vô" (chương 40), có sinh ra từ không. Chương 14 viết:
Kỳ thượng bất kiểu, kỳ hạ bất muội, thằng thằng bất khả danh, phục quy ư vô vật. Thị vị vô trạng chi trạng, vô vật chi tượng.
Phía trên không sáng, phía dưới không tối, mờ mịt không thể đặt tên, rồi lại trở về cõi không vật. Đó gọi là hình trạng của cái không có hình trạng, hình tượng của cái không có vật.
Về tính hai mặt của đạo, tác giả chỉ ra rằng sách bàn về đạo chủ yếu ở các chương 1, 14, 21, 25, và theo ông nhận thức của Lão Tử về đạo, xét tổng thể, thuộc phạm trù chủ nghĩa duy tâm khách quan. Chương 25 viết:
Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh. Tịch hề, liêu hề, độc lập nhi bất cải, chu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên địa mẫu.
Có một vật hỗn độn mà thành, sinh trước cả trời đất. Nó yên lặng, trống không, đứng một mình mà không đổi, vận hành khắp nơi không ngừng, có thể coi là mẹ của trời đất. Tác giả giải: "sinh trước trời đất", "đứng một mình không đổi" nói rõ đạo của Lão Tử sinh trước muôn vật, độc lập mà không thay đổi; đó là thực thể tinh thần phát sinh vạn vật, cũng là nền tảng của tự nhiên và có tính tiên nghiệm. Lại thêm câu "có hình mà không hình, có tượng mà không vật" ở chương 14 và quan điểm "có sinh ra từ không", nên đạo chủ yếu là huyền diệu, thiên về duy tâm. Nhưng tác giả cũng thấy trong đạo của Lão Tử có một phần duy vật, như chương 21:
Đạo chi vi vật, duy hoảng duy hốt. Hốt hề hoảng hề, kỳ trung hữu tượng; hoảng hề hốt hề, kỳ trung hữu vật. Yểu hề minh hề, kỳ trung hữu tinh; kỳ tinh thậm chân, kỳ trung hữu tín.
Đạo là cái gì mập mờ, thấp thoáng; trong cái mập mờ ấy có hình tượng, trong cái thấp thoáng ấy có vật; sâu xa, tối tăm mà bên trong có cái tinh túy, cái tinh túy ấy rất xác thực, rất đáng tin. Tác giả nói đạo của Lão Tử tuy có hai thành phần, nhưng do ảnh hưởng của thế giới quan hư vô nên phần duy vật rất yếu, vì thế dễ bị Trang Tử dẫn dụ đi theo con đường duy tâm đến cùng.
Từ Lão Tử đến Trang Tử: con chim bằng cũng còn phải chờ gió
Từ chỗ đạo còn có cái "tin" bên trong, người kế tục đã đưa nó đi thêm một bước nữa.
Tác giả nói Trang Tử đã duy tâm hóa triệt để bản thể đạo của Lão Tử. Trang Tử có mối giao thân thiết với nhà danh gia Huệ Thi nên có chỗ hợp với quan điểm từ vật của ông, và chịu ảnh hưởng ấy mà phát triển cao độ chủ nghĩa tương đối, rồi tuyệt đối hóa nó, xóa tính quy định của sự vật. Từ đó, tư tưởng Lão Trang đi theo hướng sâu của chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa hư vô. Các thiên nổi tiếng Tiêu dao du, Tề vật luận, Đại tông sư của Trang Tử phản ánh tư tưởng tiêu dao không chờ đợi, không thấy mình, không bị câu thúc. Nếu nói Lão Tử tôn sùng người mẹ sinh ra vạn vật là đạo, thì cái đạo ấy ở Trang Tử rất hiếm. Trang Tử cho rằng chim bằng bay chín vạn dặm vẫn phải dựa vào sức gió, cá côn bơi ba nghìn dặm cũng phải chờ sức nước, nên chim bằng, cá côn đều không thể gọi là tiêu dao du, vì chúng "có chờ đợi, có thấy mình", tức còn ỷ lại vào điều kiện và sức mạnh bên ngoài. Chỉ khi "không chờ đợi, không thấy mình" thì mới bỏ được ranh giới giữa bản thân và vạn vật mà đạt đến tiêu dao thật.
Tác giả thêm rằng phủ nhận sự khác biệt của vạn vật đương nhiên cũng là xóa tính quy định về chất của sự việc; như cá và bản thân trong Tề vật luận là một. Nhấn mạnh bản thân và vạn vật đều như một thì xóa mất ranh giới giữa thế giới khách quan và chủ quan, rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa duy tâm chủ quan. Cho nên từ Lão Tử đến Trang Tử, triết học duy tâm cổ đại Trung Quốc đi từ duy tâm khách quan đến duy tâm chủ quan. Nói tóm lại, mấy chương bàn về đạo trong Lão Tử thể hiện vũ trụ quan của chủ nghĩa duy tâm khách quan, tạo cơ sở cho hình thái ý thức triết học siêu hình của Đạo gia.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
