Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Triệu Cao, Lý Diên Anh và Lữ Hậu: quyền lực trong cung cấm

Đạo Học - Khuyên Thiện30/09/202613 phút đọc3 lượt đọc
Triệu Cao, Lý Diên Anh và Lữ Hậu: quyền lực trong cung cấm

Một bức thư bị đánh tráo trên đường về kinh, một cậu bé tám tuổi tự chịu hình phạt để được vào cung, và một người vợ kết tóc bắt kẻ tình địch nằm trong nhà tiêu. Những chuyện ấy đều bắt đầu từ chỗ đứng rất gần ngai vàng, gần đến mức tiếng nói của triều đình không còn lọt tới tai người cầm quyền...


Triệu Cao: kẻ hoạn quan chôn cả nhà Tần

Một bức thư bị đánh tráo trên đường về kinh đủ khiến một triều đại mà Tần Thủy Hoàng dựng bằng bao năm chinh chiến sụp đổ chỉ sau vài năm.

Từ tủi hận đến tham vọng

Triệu Cao sinh ra trong cảnh cha mẹ làm nô lệ, anh em bị thiến, bản thân bị người khác sai khiến. Nhưng y không giống một hoạn quan bình thường. Sống lâu trong cung, hầu cận bên vua, y chứng kiến nhiều cách người ta dùng quyền, và dần dần trong y lớn lên một khát vọng quyền lực điên cuồng. Những năm tháng bị ép làm kẻ hầu hạ đã tích thành oán hận, và oán hận ấy biến thành ngọn lửa muốn thiêu cả sơn hà của Tần Thủy Hoàng. Sách coi đây vừa là lời tố cáo chế độ hoạn quan, vừa là quả báo cho những người cầm quyền ở một xã hội tàn ác.

Ba nước cờ

Nước cờ thứ nhất là đánh tráo chiếu ở Sa Khâu. Mùa hè năm 210 trước Công nguyên, Thủy Hoàng chết giữa chuyến đi tuần, trước đó dặn Triệu Cao viết thư gọi công tử Phù Tô về lo tang. Phù Tô cương trực, là con trưởng nên sẽ nối ngôi, và y biết mình sẽ thất thế nếu Phù Tô lên vì trước kia bị Mông Điềm định tội. Trong khi đó, Hồ Hợi là người y đã dạy dỗ, gắn bó với y như một bậc thang. Y dùng ngôi vua làm mồi nhử Hồ Hợi, còn với Lý Tư thì dọa rằng Phù Tô lên ngôi sẽ đưa Mông Điềm làm thừa tướng, khiến ông ta mất chức. Lý Tư do dự rồi nghiêng theo lợi riêng. Họ giả chiếu, buộc Phù Tô phải chết, bắt giam Mông Điềm, và để giấu mùi thi thể khi trời nóng, họ cho chở theo một xe cá muối.

Nước cờ thứ hai là quét sạch chướng ngại. Y xúi Nhị Thế giết đại thần và các công tử, sáu công tử bị giết ở đất Đỗ. Rồi mũi nhọn chĩa vào Lý Tư, người có công lớn trong việc thống nhất sáu nước. Y không cho Nhị Thế gặp các quan, canh chừng vua từng bước, thậm chí cố ý dẫn Lý Tư đến lúc vua đang vui chơi với cung nữ để khiến ông phải quay về. Rồi y vu cho Lý Tư tội mưu phản. Không được gặp vua, mọi biểu tấu đều bị chặn, Lý Tư cuối cùng chịu hình phạt chặt ngang lưng.

Nước cờ thứ ba là chỉ hươu bảo ngựa. Lên thừa tướng, y là hoạn quan đầu tiên đạt tới vị trí ấy nhưng vẫn chưa thỏa, y muốn thử xem quần thần nghe theo mình đến mức nào. Y dâng Nhị Thế một con hươu và bảo đó là ngựa, ai nói thật là hươu thì sau bị y tìm cớ trị tội, khiến cả triều sợ y. Sau đó y bảo rể là Diêm Nhạc dẫn quân vào cung Vọng Di ép Nhị Thế tự sát, rồi lập cháu vua là Tử Anh. Tử Anh biết mình chỉ là con rối, đã dùng mưu giết Triệu Cao, nhưng nhà Tần thì đã bị phá hoại tới mức chẳng bao lâu sau bị Lưu Bang đánh sập.

Cao Lực Sĩ: sự trung thành che mắt trước cái họa

Có kẻ hoạn quan không tham tàn như Triệu Cao, nhưng chính lòng trung của y cũng góp tay đẩy triều đại xuống dốc.

Cao Lực Sĩ bị thiến từ nhỏ nhưng xuất thân từ dòng dõi cao quý, nên không cam sống đời nô lệ. Y nhìn ra tiền đồ của thái tử Lý Long Cơ, theo sát từ sớm, rồi giúp Long Cơ, tức Đường Huyền Tông, dẹp cuộc phản loạn của Thái Bình công chúa. Y được vua tin dùng nhờ vừa cẩn trọng vừa trung thành: trong lúc hiểm nguy, y sẵn sàng đưa thân ra bảo vệ vua, nhất là trong loạn An Sử, khi y bảo vệ vua chạy vào Tứ Xuyên và khuyên vua xử Dương Quý phi tại gò Mã Ngôi để tránh quân sĩ nổi giận.

Nhưng đó chỉ là một nửa con người y. Nửa kia là việc y đem Dương Ngọc Hoàn, vốn là vợ của con trai vua, dâng cho Huyền Tông, đẩy nhà vua chìm trong hoan lạc bỏ bê triều chính. Cả họ Dương được phong quan, anh của quý phi là Dương Quốc Trung làm đến thừa tướng, chính sự mục nát, dân oán than, và người ta truyền hai câu thơ về thịt rượu ứ thối trong cửa son còn ngoài đường có xác người chết cóng. An Lộc Sơn, người tự nhận quý phi làm mẹ nuôi và hối lộ nhiều, đã khởi loạn từ chính những kẽ hở đó, và cuộc loạn kéo dài bảy năm gây tổn thất rất lớn. Ở cấp độ chủ quan y không muốn hại nước, nhưng trên thực tế y đã góp phần làm nhà Đường suy bại.

Y cũng gièm pha đối thủ như Vương Mao Trọng, nhắc vua đề phòng Lý Lâm Phủ và An Lộc Sơn vì sợ quyền lực họ quá lớn. Cuối cùng y bị một hoạn quan khác là Lý Phụ Quốc hãm hại, bị đày đi Vu Châu. Sách kết luận đây là mẫu người có hai mặt điển hình: vừa ham giàu sang, vừa chưa mất hẳn lương tâm, không độc ác như nhiều kẻ khác nhưng vẫn không thoát khỏi giới hạn của tầng lớp hoạn quan.

Lý Diên Anh: từ cái lược đến bàn cờ chính trị

Một cậu bé tám tuổi tự nguyện chịu hình phạt đau đớn để được vào cung, nhiều năm sau trở thành người ngồi cạnh Từ Hy suốt mấy chục năm.

Khởi nghiệp từ mái tóc

Lý Diên Anh người Sơn Đông, nhà nghèo gặp đói kém phải dắt nhau đến Bắc Kinh. Y từng làm thợ sửa giày, buôn nhỏ, rồi tám tuổi tự chịu cung hình. Y ở trong cung năm mươi mốt năm, phục vụ bốn đời vua. Từ Hy Thái hậu rất chú ý mái tóc và thường mắng thái giám chải đầu, Lý Diên Anh học riêng một lối vấn tóc để tự tiến cử và làm bà vừa lòng, nhờ đó được thăng lên chức tổng quản. Y lại tìm mười mấy phụ nữ mới sinh đầu lòng vào cung để bà uống sữa giữ tuổi xuân, và xây Di Hòa Viên bằng tiền lấy từ quân phí hải quân.

Ba chiêu để đứng vững

Chiêu đầu là liều mình làm vừa lòng thái hậu, nhưng chưa đủ, y phải trở thành tâm phúc về chính trị, và tấm gương của y là An Đức Hải. Chiêu thứ hai là gièm pha và mật báo: y nghe lén, xem trộm tấu biểu, rồi báo lại cho Từ Hy, đồng thời khuấy các mối quan hệ giữa bà với hoàng đế, cung phi và các thân vương. Y hiến kế khiến Trân Phi bị đẩy xuống giếng, còn mình thì tránh sang một bên, và góp phần hại Văn Đình Thức, Ông Đồng Hòa, những người ủng hộ Quang Tự duy tân, làm cuộc cải cách thất bại. Chiêu thứ ba là như thỏ khôn ba hang: với Túc Thuận thì thề trung thành, với Quang Tự thì giả bề ngoài tốt rồi đẩy nhà vua vào bế tắc khi bị giam lỏng, và sau lưng Từ Hy thì ngầm lấy lòng Long Dụ Thái hậu, nên khi Từ Hy chết y vẫn không bị trừng phạt. Với các trọng thần như Lý Hồng Chương, Vinh Lộc, Viên Thế Khải, y đều có cách đối phó riêng, khi ngọt ngào, khi trao đổi tin tức, khi nhận hối lộ.

Sách kết luận rằng Lý Diên Anh, An Đức Hải, Tiểu Đức Trương đều thành công bằng những câu kết và thủ đoạn hèn hạ, và việc ba kẻ này lớn lên ngay trong hoàng cung cho thấy sự mục ruỗng của vương triều.

Vì sao hoạn quan dễ thao túng quyền lực

Bảy điều kiện chung giúp những kẻ này trèo cao.

Trước hết, hoạn quan là một loại nô lệ đặc biệt: đàn ông bị thiến để hầu vua và cung phi, xuất thân hèn kém, sống trong hệ thống đẳng cấp nghiêm ngặt, và sự bị nô dịch lâu ngày sinh ra tâm lý muốn trả thù. Một khi nắm quyền lớn họ có thể giết vua hại dân với sức phá hoại rất cao.

Về mưu lược, sách chỉ ra bảy điểm. Họ ở gần vua nên đánh hơi được hướng gió triều chính. Cảnh ngộ chung giúp họ dễ kết thành phe cánh, như nhóm Bắc Ty thời Đường từng giết bốn hoàng đế. Không có con cháu nối dõi nên khi cấp bách họ dám liều một mất một còn. Ngày đêm bên vua nên họ biết rõ tính tình, sở thích, cách đón ý và dễ được sủng tín. Công việc bị xem là thấp hèn nên ít ai để ý, họ ra vào tự do và dựng được mạng lưới tình báo. Họ là cầu nối "thông thiên" cho các quan và ngoại thích đút lót cầu cạnh. Cuối cùng, họ hầu hết ăn nói giỏi và khéo léo.

Chế độ hoạn quan đã kết thúc cùng xã hội phong kiến, nhưng bài học vẫn còn nguyên: đề phòng người giỏi đón ý a dua, cảnh giác kẻ ngoài miệng ngon ngọt mà bụng đầy gươm, và cắt đứt với kẻ có thể làm mọi thứ để đạt mục đích. Sách cũng nhắc không phải vua nào ở Trung Quốc cũng bị hoạn quan thao túng, có không ít vị hoàng đế ghét bọn này.

Lữ Hậu: người đàn bà nắm triều chính mười sáu năm

Không phải mọi âm mưu trong cung đều đến từ hoạn quan; có khi nó đến từ chính người vợ kết tóc của đấng khai quốc.

Người vợ cùng vào sinh ra tử

Lữ Hậu tên Trĩ, người Sơn Dương, được cha là Lữ Văn, một người biết xem tướng, gả cho chàng Lưu Bang nghèo khó vì nhìn ra dáng phi phàm. Bà theo chồng hàng chục năm chinh chiến, từng bị bắt giam cùng hai con khi Lưu Bang khởi nghĩa ở huyện Bái, và từng bị Hạng Vũ bắt làm con tin. Những năm tháng ấy rèn cho bà cái cứng rắn, cả cái tàn nhẫn của một người đàn ông. Tư Mã Thiên nhận xét bà quyết đoán, giúp Cao Tổ định thiên hạ, và phần lớn công thần bị giết đều có sức bà. Ông xếp bà vào phần bản kỷ, như một sự thừa nhận vị trí thực sự của bà. Bà giúp trừ Hàn Tín, Bành Việt, những kẻ có thể cát cứ, góp phần giữ thống nhất nhà Hán, nhưng cũng gieo mầm cho sự lật đổ họ Lưu về sau.

Ba bước giữ quyền

Bước đầu là bảo vệ thái tử. Bà biết nhan sắc mình đã tàn nên không thể trông vào sự sủng ái, chỉ có thể dựa vào con. Lúc Lưu Bang muốn phế Lưu Doanh để lập Triệu Vương Như Ý, con của Thích phu nhân, bà mở rộng vây cánh và nhờ Trương Lương bày kế mời bốn vị học giả nổi danh về làm thầy thái tử, khiến vua không thể phế. Khi Lưu Bang mất, Huệ đế lên ngôi, bà cho đầu độc Triệu Vương, chặt tay chân Thích phu nhân, móc mắt, đốt tai, cho uống thuốc câm và nhốt vào nhà tiêu, gọi là "người lợn". Huệ đế nhìn thấy khóc rống, còn bà trách con không giống mình.

Bước hai là lập hoàng tử giả. Huệ đế không có con, nên bà bắt hoàng hậu giả có mang, lấy con một cung nữ làm con, lập làm thái tử rồi giết mẹ đứa bé để bịt đầu mối. Khi tân đế lớn, biết mình không phải con hoàng hậu và mẹ ruột chết oan, nói rằng khi lớn sẽ đổi khác, bà lo sợ nên phế rồi giết, lập người khác. Khi sắp mất, bà còn dặn Lữ Sản, Lữ Lộc giữ quân đề phòng đại thần nổi loạn.

Bước ba là phong cho họ Lữ làm vương, dù thừa tướng Vương Lăng phản đối vì trái lời ước của Lưu Bang là ai không họ Lưu mà làm vua thì thiên hạ cùng đánh. Cuối cùng các đại thần đành đồng ý. Sau khi bà mất, Chu Bột và Trần Bình cùng những người họ Lưu bị gạt bỏ đã lật đổ thế lực họ Lữ. Sách coi đây chỉ là cuộc tranh quyền nội bộ giữa vương triều và ngoại thích, không có ý nghĩa tiến bộ hay lạc hậu. Họ Lữ khi có quyền cũng làm được vài điều có ích như khuyến khích sản xuất, an dân, nhưng sự tàn nhẫn và tham vọng quyền lực của Lữ Hậu thì ghi mãi trong sử sách.

Cách nhận ra những kẻ gian thần

Bên cạnh hoạn quan còn có những gian tướng nắm binh quyền hay chính quyền.

Sách nêu ba đặc điểm. Thứ nhất, họ rất giỏi ngụy trang, nhưng cái đuôi cáo vẫn lộ ở những chỗ không bình thường: một người học rộng bỗng ít khi bày tỏ kiến thức, một người con nhà quyền quý bỗng thanh liêm khác thường, hoặc kẻ cố ý làm ầm lên về một việc để che cho việc khác, như các trường hợp Vương Mãng, Kỳ Anh. Thứ hai, họ hành xử thâm hiểm, luồn cúi bề trên, kết bè nhưng nghi kỵ nhau. Thứ ba, họ chờ thời cơ, thường là lúc thế loạn, như Ung Chính, Đổng Trác hay An Lộc Sơn, và lúc chờ còn giả làm người thanh quân trắc để loại người chống mình.

Phép thử đơn giản nhất mà sách chỉ ra là xem hành động ấy có hợp với nguyện vọng của dân hay không: giữ thống nhất, ổn định, đoàn kết và giúp xã hội phát triển. Cái mầm ác thường mọc lên từ mảnh đất chính trị thối nát, nên nếu người cầm quyền liêm chính và tỉnh táo thì kẻ ngụy trang tinh vi đến đâu cũng khó qua mắt.

Đặt các nhân vật cạnh nhau, người ta thấy một điểm chung: quyền lực mà họ nắm không đến từ tài trị nước mà từ sự gần gũi với người đứng đầu. Triệu Cao có ấn ngọc và lòng tin của Hồ Hợi, Cao Lực Sĩ có sự sủng tín của Huyền Tông, Lý Diên Anh có mái tóc và những lời thì thầm bên tai Từ Hy, Lữ Hậu có danh phận vợ và mẹ vua. Khi cửa vào tai người cầm quyền hẹp lại thì tiếng nói của triều đình bị chặn, và một triều đại dễ đổ chỉ vì vài người biết cách đứng gần ngai vàng hơn những kẻ khác.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện