Bài tổng quan
Sa nước đẹp xấu và những huyệt bị gọi nhầm là giả
Nước ôm tròn thành Kim Thành, nước vuông vức thành Thổ Thành thì giữ được sinh khí; nước chạy xéo thành Hỏa Thành, nước xộc thẳng thành Mộc Thành thì như mũi tên bắn vào huyệt. Người ta còn nói có rồng giả, huyệt giả, nhưng họ Từ đã viết điều ngược lại. Cái giả nằm ở núi nước, hay ở con mắt người xem?
Mục lục · 6 phần
- 01Luận về sa: hai cánh tay của ngọn núi
- 02Luận về nước: nước là máu và sữa nuôi ngọn núi
- 03Long đẹp và long xấu: quý long, phú long, bần tiện long
- 04Huyệt đẹp và huyệt xấu: có trên có dưới, có đón có thu
- 05Sa đẹp và sa xấu, nước đẹp và nước xấu
- 06Rồng và huyệt chỉ có thật, cái "giả" chỉ là sự nhầm lẫn của người xem
Một ngọn núi lấy nước làm thức ăn: hai tay Long Hổ nào ngược chiều nước chảy tới thì có cái ăn, còn xuôi theo chiều nước thì chết đói. Cùng một tấm lòng ôm lấy huyệt, có sa là cánh tay quý, có sa lại chỉ là tay cụt đầu ngoẹo. Và có những huyệt người đời gọi là giả, nhưng thật ra nó chưa bao giờ giả. Vậy cái giả nằm ở chỗ nào?
Luận về sa: hai cánh tay của ngọn núi
Sa là những sơn phong có thể nhìn thấy từ trong huyệt, dùng làm hộ vệ cho huyệt. Người xưa gọi sa bằng nhiều tên như hộ sơn, tòng sơn, triều sơn, tiếp sơn, ngụ ý hấp thụ sự lưu luyến quấn quít của các sơn phong, sự hộ vệ, hộ tòng đặc sắc, giống như Thanh Long và Bạch Hổ. Long Hổ có loại từ bản thân huyệt vị sinh ra, có loại từ sơn mạch bên ngoài kéo đến vây bọc. Có khi bên tả có một, bên hữu có hai, hoặc ngược lại. Có khi Long Hổ ở hai bên song song không tụ lại; có khi cùng ôm lấy huyệt vị rồi tụ liền với nhau; có khi một bên dài một bên ngắn; có khi một bên mạnh một bên yếu. Nhưng tình huống nào cũng vậy, hễ ôm ấp, có tình với huyệt thì mới được coi là trợ thủ đắc lực. Núi có sa phong giống như người phải có hai tay.
Núi lấy nước làm thức ăn của mình, nên hai ngọn Long Hổ phải ngược với hướng nước chảy từ bên ngoài tới thì mới có thức ăn; còn nếu cùng hướng thì chết đói. Nếu nước chảy từ mé trái tới thì sa phong ở mé phải cần dài hơn một chút; nếu nước chảy từ mé phải tới thì sa phong ở mé trái cần dài hơn một chút. Nếu huyệt ở bên tả thì lấy núi mé bên tả, chờ khi nước từ mé hữu chảy qua trước mặt thì ngăn chặn lại, như thế gọi là "âm tỏa dương quan". Nếu huyệt ở bên hữu thì lấy núi ở mé bên hữu mà ngăn chặn nước sau khi nó chảy qua trước mặt, gọi là "dương tỏa âm quan". Chỉ có triều sơn, triều thủy từ xa lại thì không cần ngăn chặn, cứ để thuận quan thuận tỏa. Nhưng khi nước lão hoành chảy qua minh đường thì tất phải nghịch quan nghịch tỏa mới là hoàn mỹ.
Có loại trực huyệt có nước ở hai bên kèm đến tận cùng mà bản thân không có Long sơn và Hổ sơn; khi ấy có thể dùng núi bị ngăn cách bởi nước ở hai bên mà kiềm chế nước trong huyệt, không cho chảy đi; lúc đó núi ở hai bên sẽ thành Long sơn và Hổ sơn. Lại có sa tả hữu đơn đề, nghĩa là ở chính huyệt chỉ hé ra một chút, rồi lại ôm ấp lấy ngay phía trước huyệt.
Luận về nước: nước là máu và sữa nuôi ngọn núi
Núi không có nước thì như người không có huyết dịch; nước không có núi thì chỉ là nước chảy qua.
Đặc tính quan trọng nhất của nước là khi long mạch đã đạt được rồi thì nước mới thành tựu. Nước do trong lòng núi sinh ra mà phối hợp với núi. Nước làm chân khí trong lòng núi giống như người có tinh, huyết, dịch; nước làm chân khí bên ngoài núi thì giống như người có bầu rượu, đồ ăn và bầu sữa.
Có loại đại thủy theo long mạch từ tổ sơn chảy đi, khi ra khỏi hiệp cốc thì phân lưu, bám sát chỗ dài ngắn của long mạch mà chảy. Loại nước này có khi giao hội trước huyệt vị, có khi tụ hợp ở hai bên tả hữu huyệt vị, có khi tụ hợp ở xa hoặc ở gần huyệt. Nước có khi từ trong núi phân giới huyệt vị chảy ra; có khi từ Thiếu tổ sơn phân lưu ra hai bên, chảy đến bên ngoài Long sơn và Hổ sơn thì tụ hợp lại, gọi là tiểu thủy. Có khi tụ hợp ở bên trong Long sơn và Hổ sơn, có khi tụ hợp ở phía trước huyệt như hình chữ Bát. Nước giao hội có các kiểu râu tôm, mắt giải, cá vàng, nguyên thần, đều từ bên ngoài chảy tới, phần trên hoàn chỉnh mà phần dưới thu lại.
Nước có loại tương nghịch mà tương phối với long mạch, có loại tương nghịch mà tương phối với sa tả hữu, có loại tương nghịch mà tương phối với huyệt vị; như vậy gọi là đắc thủy. Cho nên mới có câu "trương sơn, thực thủy": hoàn toàn không phải hễ có nước là có thể nói đắc thủy. Nơi nước đến không dễ thấy ngọn nguồn, nơi nước đi cũng không dễ biết hướng chảy tới đâu. Nơi nước chảy đến nên có cửa vào, nơi nước chảy đi nên có chỗ tiếp. Nước chảy đến nên ngoằn ngoèo uốn lượn, nước chảy đi nên lưu luyến có tình. Nước chảy xiết thì phải tạo thành sóng nhiều lớp, nước chảy chậm thì dòng chảy phải dài và đến từ xa.
Nếu hai dòng nước kẹp hai bên mà chảy, một bên lớn một bên nhỏ, cũng cần một đoạn sáng một đoạn tối. Nếu hai dòng nước hợp lại rồi chảy xuống thì cửa ra của nước không thể ở trước hoặc ở chính giữa huyệt. Nếu nước phân giới theo long mạch một bên xa một bên gần thì huyệt vị nhất định phải có hai cánh tay dài mà gần mặt huyệt.
Long đẹp và long xấu: quý long, phú long, bần tiện long
Loại đại long kết ra địa mạch, khi sắp phân câu, sẽ có ngũ tinh hội tụ; núi trên câu hiện ra chín tòa sa trướng phù dung; trên tổ tông sơn có thể nhìn thấy cao lâu bạch ngọc và điện đường hoàng kim đối xứng nhau, có tướng phú quý như phượng hoàng đi cùng long sa. Long mạch xuất hiện từ trung tâm là Quý Long. Long mạch xuất hiện từ bên cạnh là Phú Long. Long mạch xuất hiện từ nơi tán loạn, không rõ nơi đến nơi dừng, là Bần Tiện Long.
Hai bên long mạch trông như hai mái chèo đối xứng, dài bằng nhau, gọi là Ngô Đồng Chi, là cách đẹp nhất của chi. Hai mái chèo ấy một ở đằng trước, một ở đằng sau, dài ngắn không đều, gọi là Thược Dược Chi, thuộc cách đẹp thứ nhì. Hai mái chèo hai bên nửa có nửa không gọi là Khởi Liễu Chi; một bên có một bên không gọi là Dương Liễu Chi, là hạ cách của chi. Còn một kiểu một bên không có mái chèo, còn mái chèo bên kia mọc ngang ra tua tủa các mấu thì gọi là Quyển Liêm Điện Chi, thuộc loại long mạch tối phú quý.
Phần trên của long mạch có địa mạo giống như mũ miện, thẻ ngà dùng vào triều kiến thì là tượng đại phú đại quý của võ tướng. Tiểu long mạch có địa mạo hình thương khố, kho lương thực là triệu chứng của phú long; có hình cái mõ của hòa thượng hoặc y phục rách rưới là triệu chứng của bần long. Trên long mạch xuất hiện tinh phong, hình dạng vuông vức đoan chính, đầy đặn, ngay ngắn, điềm tĩnh, tú mỹ là triệu chứng hội tụ giàu sang cát lợi; còn nếu nham nhở, vẹo vọ, nhọn hoắt, thô lậu là triệu chứng hung ác.
Khí thế hành tiến của long mạch hoạt bát, nhấp nhô dồn dập là cát lợi; nếu có sát tướng, cương nhọn thì là hung ác. Thân thể và chân tay của long mạch nếu phân bố ngay ngắn, quy củ là cát lợi; còn chệch choạc, rắm rối là hung ác. Trước sau và hai bên tả hữu long mạch nếu nghênh tống bảo vệ nhau là cát lợi, cô đơn khuyết hãm là hung ác. Long mạch thấp mà có nhiều tiết mục gọi là Sinh; bôn ba tẩu động, khí thế hùng mạnh gọi là Cường; mở to mắt hiên ngang gọi là Thuận; tiết sau lần lượt cao hơn tiết trước gọi là Tiến; dày rậm gọi là Vượng. Các thứ ấy đều gọi là phẩm cách hoàn mỹ của long mạch. Còn long mạch mềm yếu, không nhấp nhô gọi là Tử; gầy gò, lộ xương thịt gọi là Nhược; có tay ngoặt ra đằng sau gọi là Nghịch; thân thể tiêu điều gãy khúc gọi là Thoái; trơ trụi nham nhở gọi là Bệnh. Mấy thứ này đều thuộc loại long mạch hiểm ác.
Huyệt đẹp và huyệt xấu: có trên có dưới, có đón có thu
Một chỗ ngồi tốt phải có bình phong sau lưng và chăn đệm dưới thân; một huyệt tốt cũng vậy.
Huyệt vị ở chỗ sắp nhập thủ phải có trên có dưới, cửa ra phải có đón, có thu. Nói có trên có dưới là ngụ ý giống như người ngồi thì phải có bình phong, hoa cái, bảo cái, quan cái. Nói có đón có thu là ngụ ý giống như người ngồi thì phải có giường, có chăn, gối, đệm. Có những thứ ấy mới gọi là quý huyệt; không có thì tuy kết thúc rất hay cũng không được coi là phú quý.
Huyệt vị khi sắp khởi đỉnh sẽ có hình dạng như cây lau, như chữ Vương, như chữ Công; ba loại này biểu hiện mạch huyệt hoàn mỹ. Phần đầu nhất định phải kết não bộ, phần giữa nhất định phải kết râu ria, phần dưới nhất định phải mở minh đường; hai bên phải có bao bọc, tám phía phân minh, phò tá rõ ràng, mới được coi là chân huyệt. Phía trước huyệt vị ắt phải có quan, phía sau có quỷ, hai bên phải có diệu sơn, triều sơn, án sơn đoan chính vuông vức, sa nước bao bọc dày đặc, mới được coi là quý huyệt.
Nơi lập huyệt phải giống như quả đậu lột vỏ, như hoa nở trên đài hoa, như quả cây tựa bàn ngọc, rõ ràng như múi miệng. Hình tượng ấy phải giống như lòng bàn tay khi bàn tay ngửa lên, giống hồ khẩu khi bàn tay úp xuống, tựa trâu mang ách nặng, ngựa bị buộc cương, giống như mang cá, lại tựa mu rùa, như tai voi rủ xuống, như cánh chim vươn lên, như bầu vú cầm thú đang nằm, như bướu lạc đà, như gà đang chọi, như gọng kềm của bọ cạp, sáng sủa như cầu vồng, như mặt trăng. Những nơi này đều tự nhiên thụ huyệt. Không nên bằng phẳng như mặt gương, không nên tán loạn như lá cây, không nên rực rỡ như hoa, không nên vừa thẳng vừa nhọn như trúc, không nên cô lập như mũi trâu, không nên phình ra như bụng hồ lô. Nơi đóng huyệt tốt nhất là nơi thoáng đãng mà sáng sủa, kỵ nơi ẩm thấp mà u ám. Đáng sợ nhất là nơi gió thổi qua trước ngực, lùa qua tai, nước phạm vào chân huyệt, đầu huyệt nước đọng.
Huyệt thật hay giả đa số phải tùy vào tinh thần trên long mạch. Long mạch hiện ở sao Tham Lang mà không biến hóa thì kết huyệt Nhũ; hiện ở sao Cự Môn mà không thay đổi thì kết thành huyệt Ngân; hiện ở sao Vũ Khúc thì kết huyệt Oa; hiện ở sao Lộc Tồn, Liêm Trinh thì kết thành huyệt Sơ xỉ, hình răng lược; hiện từ sao Văn Khúc thì kết thành huyệt Bình Ba, Ngưỡng Chưởng; hiện từ sao Hữu Bật thì kết thành huyệt Bao Đột; hiện từ sao Phá Quân thì kết thành huyệt Qua Nha; hiện từ sao Tả Phủ thì kết thành huyệt Yến Sào, tổ yến, hoặc Kê Sào, ổ gà. Vì vậy một thầy giỏi về địa lý, thấy long mạch thì có thể biết huyệt vị.
Sa đẹp và sa xấu, nước đẹp và nước xấu
Sa thông thường lấy ngay ngắn, uốn lượn vòng vèo làm cát lợi; xiêu vẹo, thẳng đuột là hung hiểm. Vì vậy Thanh Long tất phải uyển chuyển khúc chiết, Bạch Hổ tất phải thuần phục. Nhưng mé tả không nên quá nhược, mé hữu không nên quá cường. Thuận dòng nước mà xuống gọi là Thoái thần, nghịch dòng nước mà lên gọi là Tiến thần. Nếu không có Thanh Long thì tất nước phải từ bên tả chảy đến; nếu không có Bạch Hổ thì tất nước phải từ bên hữu chảy đến.
Sa phong ở bên trong giống như cánh cung, như dây lưng, như thẻ ngà, như cây bút, như ngọn roi, như ấn ngọc, như kim ngư, như nha đao. Sa phong ở bên ngoài giống như giá bút, bảng hiệu, mành treo, quyển sách mở, lá cờ bay, như ngũ não, song tồn. Những loại ấy thuộc phẩm cách quý trọng. Nếu hình dáng như thương khố, bình trà, chuông đồng, búa ngọc, như đụn lúa, như rương hòm thì đều là loại phú túc, giàu có. Còn nếu hình dạng như mũi giáo, như tay cụt, đầu ngoẹo, và có hình dạng bát sát, tức tám cái sát hại là hẹp, nhọn, lõm, thẳng, xung, phá, chếch, bay, thì đều hung ác, phải né tránh.
Sa phong trên đất bằng nếu ngay ngắn, chỉnh tề, mỹ lệ như hoa lau, như tiền vàng, như ngà voi, như tấm đệm trải rộng, lồi lõm nhấp nhô đều đặn như trăng lưỡi liềm, như cánh cung giương, như ấn ngọc, đấu vàng, như chữ nhất, như tam tinh, ngũ mai, thất tinh, thì đều là sa phong đại phú đại quý. Còn giống như mắt ngựa, vây cá, thước gấp, chữ đao thì thuộc loại sa phong bần tiện.
Nước thì lấy dạng giao tỏa, uốn lượn tụ hội làm cát lợi; chảy xuyên thẳng như mũi tên, chếch xéo là hung hiểm. Nếu nước ở trong huyệt thì nước bốn phía phải chảy vào trong, chứ không thể để nước bốn phía chảy ra ngoài. Nếu nước ở trong minh đường cũng mong sao nước bốn phía chảy dồn vào, chứ không thể để nước chảy loạn đi. Thế nước bao tròn hướng nội là địa mạo Kim Thành. Thế nước hình vuông mà hướng nội là địa mạo Thổ Thành. Thế nước uốn khúc vòng vèo mà chảy vào trong huyệt là địa mạo Thủy Thành. Cả ba đều cát lợi. Thế nước chảy xéo ra ngoài là địa mạo Hỏa Thành. Thế nước chạy xộc thẳng vào trong huyệt là Mộc Thành. Hai loại địa mạo sau là thế nước hung hiểm, bần tiện.
Có loại thế nước hướng về phía Chu Tước, ôm lấy Huyền Vũ, Thanh Long và Bạch Hổ, thành các cách dưỡng âm, đáo đường, thượng nhai, củng bối, nhân hoài, giác loan, giao tụ, đều là thủy tượng cát lợi. Còn loại thế nước xối thẳng vào tim, vào sườn, vào lưng, khoằm lại như răng hổ, thành các cách chém đầu, phạt giác, phản cung, đuôi én, hoặc thành hình chữ Bát, chữ Xuyên, chữ Thất, đều là thủy tượng hung hiểm. Phàm có núi có nước thì núi với nước phải tương xứng, đặc biệt nước không thể thắng núi. Huyệt vị có thế núi hùng hậu mà có nước mênh mang từ xa tràn dâng đến phần đầu huyệt thì là huyệt cát lợi; huyệt vị có thế núi yếu ớt mà nước mênh mông tràn thẳng tới chính diện thì là huyệt hung ác.
Rồng và huyệt chỉ có thật, cái "giả" chỉ là sự nhầm lẫn của người xem
Vàng không có vàng giả; chỉ có người đem đồng nhầm là vàng.
Long và huyệt vốn chỉ có chân, không có ngụy; nhưng vì người ta không biết phân biệt long mạch và huyệt vị, nên mới nói long, huyệt có chân có ngụy. Giống như vàng và ngọc trắng chỉ có thật, không có giả, nhưng người không am hiểu dễ nhầm lẫn với đồng và đá, nên mới có cách nói vàng giả, ngọc giả.
Long mạch chân chính xuất hiện thì nhất định có hợp lũng, tức ôm ấp, có khai bích, tức mở vòng tay, có khởi phục, tức lên xuống, có hộ tống. Từ xa đến thì có đại thủy bám sát long mạch; từ gần đến thì có tiểu thủy phân giới long mạch; khi kết cục thì có hoành thủy ngăn giữ long mạch. Những thứ ấy đều tương đối dễ nhận. Long mạch mọc nhánh tua tủa dưới chân, hai bên có cánh như cánh ve, có nước ẩn nấp vì cành lá che lấp; mấy loại này cũng tương đối dễ nhận.
Nay có những thầy phong thủy chưa biết quan hệ chính phụ, chưa biết phân biệt thân mình với chân tay, đâu là hộ tòng hay quỷ kiếp, đâu là nguyên đầu hay đuôi nước; vừa thấy một ngọn núi, bất luận có phân giới và bảo hộ hay không, đã bảo đó là long. Họ chưa hiểu rõ mạch lạc, huyệt tình, đâu là thốn dịch hay tiền hiếp, đâu là thoát sát hay quan diệu; vừa nhìn thấy mỏm đất nhô cao, hai bên có sa trướng thoai thoải, chẳng nghĩ xem có biến hóa âm dương hay không, đã bảo đó là huyệt. Cho nên ngụy long, ngụy huyệt toàn là do người ta vì mơ hồ mà nghĩ ra, chứ không phải trời đất cố ý tạo ra để mê hoặc con người. Có người thấy nói ngày xưa có giả long, giả sa, liên tưởng rằng trời sinh ra long huyệt chân ngụy để người đời phải biết phân biệt.
Họ Từ viết: giả long cũng có tổ tông, khai trướng; cũng có tinh phong tú mỹ; cũng có hộ tống, khởi phục; cũng có quá hiệp thúc mạch; cũng có hình dáng uốn lượn khả ái; khí nhập thủ cũng có hạ thủ, cũng có minh đường, Long Hổ, cũng có kỳ phong la liệt, khiến nhiều vị không thấu hiểu mà đem mai táng người chết ở đó.
Kỳ thực họ không biết long mạch đẹp có đạo lý kết huyệt của nó. Huyệt vị cát lợi là bí mật của trời đất, chỉ dành cho người có phúc. Như vậy, long không có chân giả, chỉ có chính phụ, đúng sai, đẹp xấu. Chỉ có chính long và phụ long, phụ không thể biến thành chính. Dù ở giữa có chỗ kết huyệt, lực lượng cũng không thể so với chủ huyệt. Thấy chỗ chân tay tách ra, có người tưởng lầm là long, là huyệt, đều là nhầm lẫn. Chỉ có long huyệt đẹp và xấu mà thôi.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.
