Bài tổng quan
La kinh: từ chiếc kim nổi đến sáu mươi độ hung của vòm trời
Âm long chỉ đi với âm hướng, dương long chỉ đi với dương hướng; lẫn lộn hai thứ thì phúc hóa thành họa. Trong ba trăm sáu mươi lăm độ của vòm trời, người xưa đếm ra sáu mươi độ hung và một trăm tám mươi độ cát. Họ dựa vào đâu mà chia như vậy?
Mục lục · 19 phần
- 01La kinh: bao la vạn tượng, kinh luân trời đất
- 02Tầng thứ nhất: Thiên trì, nguyên thủy của Thái cực
- 03Tầng thứ hai: bát quái tiên thiên và hậu thiên
- 04Tầng thứ ba: mười hai địa chi, nơi hai đầu kim chỉ nam bắt đầu
- 05Tầng thứ tư: âm long và dương long trong hai mươi bốn phương vị
- 06Tầng thứ năm: chín sao, thiên tinh và viên cục
- 07Tầng thứ sáu và thứ bảy: hai mươi bốn sơn chính châm, bảy mươi hai xuyên sơn
- 08Tầng thứ tám và thứ chín: chính châm phân kim, hai mươi bốn tiết khí
- 09Tầng thứ mười đến mười hai: mặt trời đi qua các cung và phân dã của thiên hạ
- 10Tầng thứ mười ba: phùng châm ở vòng ngoài
- 11Thiên tinh tác hướng: tai, eo lưng và chân nhận sinh khí
- 12Phùng châm phân kim: một phép chỉ có từ đời Tống
- 13Độn giáp: chín cung theo tiết khí, đông chí đi thuận, hạ chí đi nghịch
- 14Thấu địa long: sáu mươi long mạch chia ra từ các sơn Nhâm, Tý
- 15Ngũ thân sa thủy, quý nhân và lộc mã
- 16Bát kỳ tứ cát: cách bố trí lục nghi và tam kỳ
- 17Bát môn: chín cung biến thành tám cửa, và tinh độ ngũ hành
- 18Chu thiên độ số: sáu mươi độ hung, một trăm tám mươi độ cát
- 19Hai mươi tám tú và cách chọn đất xây mộ
Một chiếc kim nổi trên mặt nước, xoay lệch đến đâu cũng tự quay về một hướng, và từ hướng ấy người ta kẻ ra hai mươi bốn phương vị để xem đất. Cái dụng cụ nhỏ bé đó chứa cả bát quái, can chi, tiết khí lẫn các vì sao. Vì sao một chiếc kim lại có thể làm gốc cho cả phép xem đất?
La kinh: bao la vạn tượng, kinh luân trời đất
Người xưa lập ra La Kinh dựa vào tinh hoa của trời đất. "La" là bao la vạn tượng, "Kinh" là ngụ ý kinh luân trời đất; gộp hai chữ thành La Kinh. Họ dùng quy và củ để vạch thành hình tròn và hình vuông, cân nhắc sự nặng nhẹ của vật thể. Người ta làm một dụng cụ gọi là Thiên trì, giống như chiếc la bàn, rồi đặt chiếc kim nổi vào trong đó. Phong thủy từ đây mà được triển khai.
Trước khi đặt kim nổi phải rửa sạch Thiên trì, rồi đổ nước sạch vào mà đặt kim. Kim bao giờ cũng chỉ về một hướng, dù ta xoay lệch đi nó vẫn trở lại hướng ấy. Lấy hướng ấy làm hướng Tý – Ngọ thì chuẩn xác. Sau đó dùng sợi dây tẩm mực mà đo sơn thủy, quan sát hai mươi bốn phương vị, âm dương xuyên sơn, thẩm định sự hưng phế của long mạch và huyệt vị, xem nước điểm huyệt, phối hợp với bát quái mà bàn cát hung, tọa độ phân kim, bát môn tam kỳ, ngũ phúc tứ cát. Những thứ ấy đều là khởi nguồn của lý pháp phong thủy. La bàn là khí cụ biểu thị rất rõ ràng, nhìn vào là biết ngay phương hướng.
Tầng thứ nhất: Thiên trì, nguyên thủy của Thái cực
Trong La Kinh, Thiên trì là nguyên thủy Thái cực. Nếu La Kinh không có Thiên trì thì không xác định được hướng Tý Ngọ, không phân được âm và dương; do đó cũng không có bát quái cửu cung, thì làm sao xuất hiện tứ tượng ngũ hành? Cũng không thể chọn thiên can địa chi, chẳng khảo sát được hướng đi của long mạch. Trong Thiên trì có chứa nước; nước động là dương, nước lặng là âm, từ đó định ra lưỡng nghi, tứ tượng, xác lập bát quái, sinh ra đại nghiệp. Vì thế mới nói một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật, vô cùng vô tận.
Tầng thứ hai: bát quái tiên thiên và hậu thiên
Cùng một vòng tám quẻ, đặt vào những phương khác nhau thì cho hai cách xem khác nhau.
Hai bậc thánh là Phục Hi và Chu Văn Vương đã định ra bát quái, chia thành bát quái tiên thiên và bát quái hậu thiên, đó là khởi đầu của lý pháp phong thủy. Hình dáng tám quẻ được nhớ bằng những hình tượng: Càn ba gạch liền, Khôn sáu đoạn, Chấn như cái chậu ngửa, Cấn như cái chén úp, Ly giữa rỗng, Khảm giữa đầy, Đoài trên khuyết, Tốn dưới đứt. Khảm là thủy, Ly là hỏa, Đoài là đầm, Tốn là gió; Càn và Đoài thuộc kim, Chấn và Tốn thuộc mộc, Cấn và Khôn thuộc thổ, Khảm thuộc thủy, Ly thuộc hỏa.
Trong bát quái tiên thiên, Càn ở hướng nam, Khôn ở hướng bắc, Ly ở hướng đông, Khảm ở hướng tây, Cấn ở tây bắc, Đoài ở đông nam, Chấn ở đông bắc, Tốn ở tây nam.
Kinh Dịch nói: trời đất định vị; núi và đầm thông khí; sấm và gió giúp nhau; nước và lửa không dung nhau. Kể điều đã qua là thuận, biết điều sắp đến là nghịch.
Trong bát quái hậu thiên cũng phân tám phương: Ly là phương nam, Khảm là phương bắc, Chấn là phương đông, Đoài là phương tây, Càn là phương tây bắc, Khôn là phương tây nam, Cấn là phương đông bắc, Tốn là phương đông nam.
Kinh Dịch nói: đấng đế vương sinh ra ở Chấn, thiên hạ thái bình ở Tốn, tể tướng xuất hiện ở Ly, người phục dịch cho nhân sinh ở Khôn, lời nói ở Đoài, chiến sự ở Càn; Khảm thì làm lụng cực nhọc, Cấn là người lập ngôn thành sự. Trưởng nam thay mặt gia đình làm mọi việc, trưởng nữ có thể thay chức quyền của mẹ.
Tầng thứ ba: mười hai địa chi, nơi hai đầu kim chỉ nam bắt đầu
Mười hai địa chi là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Đó là la bàn tiên thiên. Phân biệt phương hướng, xác định phương vị là khởi đầu của La Kinh; hai đầu của chiếc kim nổi cũng từ đây mà có. Xuyên sơn hổ, thấu địa long, gia giảm phối hợp, sai sót cũng từ đây mà ra. Sau đó cộng thêm tám can và bốn duy thì mới tấu thành phương vị.
Tầng thứ tư: âm long và dương long trong hai mươi bốn phương vị
Hai mươi bốn phương vị, mỗi phương vị đều phân biệt âm dương. Dương là phần sáng trắng, âm là phần đen sẫm, như trong hình vẽ con cá của bát quái. Âm dương đã phân khai thì có thể tự do sử dụng.
Âm long gồm Hợi, Sửu, Cấn, Mão, Tốn, Tỵ, Bính, Đinh, Mùi, Canh, Dậu, Tân. Dương long gồm Nhâm, Quý, Tý, Dần, Thân, Ất, Thìn, Ngọ, Khôn, Giáp, Tuất, Càn. Căn cứ cục của long mà phối hợp: âm long với dương long không được hỗn tạp. Âm long dùng âm hướng, dương long dùng dương hướng phối hợp thì mới cát lợi.
Tầng thứ năm: chín sao, thiên tinh và viên cục
Chín sao gồm Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phù, Hữu Bật. Cấn, Bính là sao Tham Lang, thuộc mộc. Tốn, Tân là sao Cự Môn, thuộc thổ. Càn, Giáp là sao Lộc Tồn, thuộc thổ. Khôn là sao Tả Phù. Ất là sao Hữu Bật. Khảm, Thìn, Thân, Quý là sao Phá Quân, thuộc kim. Đoài, Đinh, Tỵ, Sửu là sao Vũ Khúc, thuộc kim. Ly, Dần là sao Văn Khúc, thuộc thủy. Chấn, Canh, Hợi, Mùi là sao Liêm Trinh, thuộc hỏa.
Thiên tinh là các sao: Thiên Hoàng ở Hợi, Thiên Phủ ở Nhâm, Thiên Lũy ở Tý, Âm Quang ở Quý, Thiên Trù ở Sửu, Thiên Thị ở Cấn, Âm Cơ ở Giáp, Thiên Mệnh ở Mão, Thiên Quan ở Ất, Thiên Canh ở Thìn, Thái Ất ở Tốn, Thiên Bình ở Tỵ, Thái Vi ở Bính, Dương Quyền ở Ngọ, Giác Cực ở Đinh, Thiên Thường ở Mùi, Thiên Thành ở Khôn, Thiên Quan ở Thân, Thiên Hoằng ở Canh, Thiếu Vi ở Đoài, Thiên Ất ở Tân, Thiên Khôi ở Tuất, Thiên Cứu ở Càn. Hợi, Mão, Canh là Tam cát; Cấn, Bính, Tốn, Tân, Đoài, Đinh là Lục tú. Hợi là ngai của đế, phối hợp với Cấn và Bính, là viên cực để lập nước, dựng đô.
Tầng thứ sáu và thứ bảy: hai mươi bốn sơn chính châm, bảy mươi hai xuyên sơn
Hai mươi bốn sơn là con số trời đất tự nhiên sinh thành. Làm sao biết? Số trời là hai mươi lăm, bớt đi một, lấy làm căn bản; số đất là ba mươi, bớt đi sáu, lấy làm ứng dụng; còn số hai mươi bốn được lấy làm phương vị của La Kinh để phân biệt điềm hung cát.
Xuyên sơn hổ ngụ ý năm con hổ ẩn giấu dấu vết, hình bóng. Bảy mươi hai địa long thuộc về hai mươi bốn phương vị, mỗi phương vị ba địa long. Mười hai địa chi lại có tám giáp sở thuộc; tám can, bốn duy cộng với chính tự vừa hợp thành bảy mươi hai địa long, chiếu ứng với bảy mươi hai sao trên trời. Cách làm là an thuận theo hướng chuyển động của kim nổi. Nói hai mươi bốn hướng là nói hướng sơn có thể an từ đây mà phán định, và hướng sơn lại có thể từ phương vị mà đoán định.
Quyết ngữ nói: long đến, hướng đi của một dãy núi là gì? Là xem phương hướng đến và đi của dãy núi. Một dãy núi có nhiều nhánh, nhiều mạch nhỏ; trăm con trăm cháu đều lấy hướng đến, hướng đi làm hướng gốc, khí thế xung thiên, tinh khí hội tụ.
Tầng thứ tám và thứ chín: chính châm phân kim, hai mươi bốn tiết khí
Phân kim là danh xưng của nạp âm Giáp Tý thuộc kim. Sáu mươi nhân hai thành một trăm hai mươi, nên gọi là phân kim, chuyên dùng để định phương hướng và huyệt vị. Mỗi cung vị của phân kim có năm độ; chọn vượng tướng của Bính, Đinh, Canh, Tân làm đắc kim. Nhâm, Giáp là dương cô; Ất, Quý là âm hư; Mậu, Kỷ quy giáp là không vong; đều phải tránh. Vì thế mới nói Bính, Đinh, Canh, Tân tuy là vượng tướng đắc kim, cũng không nên gặp nhau mà phát sinh xung đột, thành họa hại, tuyệt đối không được hồ đồ. Kỵ nạp âm tương khắc, cũng kỵ vong mệnh mà không tránh.
Hai mươi bốn tiết khí phân bố bên dưới hai mươi bốn phương vị. Bắt đầu từ Cấn là Lập Xuân, kết thúc ở Sửu là Đại Hàn, để đoán ngũ vận kim mộc thủy hỏa thổ và định rõ lục khí. Lục khí là Quyết Âm, Thiếu Âm, Dương Minh, Thiếu Dương, Thái Dương, Thái Âm, dùng để bàn vị trí của Tam Diệu Thượng, Trung, Hạ.
Tầng thứ mười đến mười hai: mặt trời đi qua các cung và phân dã của thiên hạ
Cả bầu trời được cắt thành từng phần, và mỗi phần soi xuống một vùng đất riêng.
Toàn bộ bầu trời chia thành hai mươi tám tinh tú, chia nhau chiếm mười hai cung vị, nhiều ít không giống nhau. Thiên hạ được phân dã như sau: vị trí Tý là đất Thanh Châu của nước Tề; Sửu là đất Dương Châu của nước Ngô; Dần là đất U Châu của nước Yên; Mão là đất Dự Châu của nước Tống; Thìn là đất Duyện Châu của nước Trịnh; Tỵ là đất Kinh Châu của nước Sở; Ngọ là đất Tam Hà của nước Chu; Mùi là đất Ung Châu của nước Tần; Thân là đất Ích Châu của nước Tấn; Dậu là đất Ký Châu của nước Triệu; Tuất là đất Từ Châu của nước Lỗ; Hợi là đất của nước Vệ.
Còn có cách phân dã ngũ tinh như sau: Tý là sao Bảo Bình; Sửu là sao Ma Hạt; Dần là sao Nhân Mã hoặc Thiên Mã; Mão là sao Thiên Hạt; Thìn là sao Thiên Xứng; Tỵ là sao Xử Nữ hoặc Thất Nữ; Ngọ là sao Sư Tử; Mùi là sao Cự Giải; Thân là sao Song Tử; Dậu là sao Kim Ngưu; Tuất là sao Bạch Dương; Hợi là sao Song Ngư. Tất cả đều là biệt danh của sự phân dã ngũ tinh.
Tầng thứ mười ba: phùng châm ở vòng ngoài
Phùng châm do Hà Tiềm Trai đời Tống sáng chế, dùng để gia giảm. Trong Nhâm Tý và Bính Ngọ phân ra âm dương, đó là chỗ giáp ranh của chính châm. Chính châm là chủ, phùng châm là để phụ vào chỗ hư yếu, nguy hiểm của chính châm; nới rộng thêm ba độ thì nhất định chính châm trở nên rõ ràng.
Thiên tinh tác hướng: tai, eo lưng và chân nhận sinh khí
Thiên tinh là phép đặt huyệt trong phép thôi quan, bàn về việc phần tai, eo lưng và chân hấp thụ sinh khí mà không để khí bốc lên não một cách hỗn tạp. Vì vậy mới nói: dương sơn dương hướng, nước cũng chảy theo dương thì đại phú đại quý; âm sơn âm hướng, nước cũng chảy theo âm thì gia đình giàu có, vàng bạc đầy nhà.
Phùng châm phân kim: một phép chỉ có từ đời Tống
Trong thư tịch cổ không thấy nói gì đến phép phùng châm phân kim. Có thể nói Hà Tiềm Trai đời Tống là người đầu tiên dùng phùng châm để phân kim mà gia giảm thêm bớt, nên mới có hai mươi mốt hoặc mười sáu cách phân loại. Người dùng vòng nội bàn để thẩm tra long mạch, dùng vòng ngoại bàn để so sánh huyệt vị, thì đều sai lầm về phương pháp.
Độn giáp: chín cung theo tiết khí, đông chí đi thuận, hạ chí đi nghịch
Một chiếc la bàn không chỉ đo hướng, mà còn đếm thời gian của cả một năm.
Cửu cung độn giáp dựa theo tinh diệu mà khởi từ Giáp Tý: Đông chí đi thuận, Hạ chí đi nghịch. Dương độn bắt đầu từ tiết Đông chí và kết thúc ở Mang chủng; âm độn bắt đầu từ Hạ chí và kết thúc ở Đại tuyết. Mỗi tiết khí có ba cục là thượng, trung, hạ. Các ngày Giáp, Kỷ gặp Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì ở thượng cục; Giáp, Kỷ gặp Dần, Thân, Tỵ, Hợi thì ở trung cục; Giáp, Kỷ gặp Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì ở hạ cục. Giáp, Kỷ không có số riêng nên quy về Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Xuyên sơn quái từ đây mà ra; tám cửa, tứ cát, tam kỳ, tử phụ, tài quan của thấu địa quái, lộc cục quý nhân đều từ đây mà ra.
Cách tính như sau. Đông chí là một; đi thuận chiều kim đồng hồ, cộng sáu thành bảy là trung cục; bảy cộng thêm sáu thành mười ba, lại cộng thêm số Khảm là một, bớt đi mười, còn bốn là hạ cục. Vì thế nói Đông chí là một, bảy, bốn; các số còn lại theo cách đó mà ra. Hạ chí ở Ly chín là thượng cục; đi ngược chiều kim đồng hồ, bớt sáu còn ba là trung cục; ba cộng chín của Ly rồi trừ sáu, còn sáu là hạ cục. Độn âm dương được lập theo cách như vậy.
Thấu địa long: sáu mươi long mạch chia ra từ các sơn Nhâm, Tý
Thấu địa long Giáp, Bính, Mậu, Canh chia ra hai sơn Nhâm và Tý. Thấu địa long Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý chia ra hai sơn Sửu và Quý. Phương pháp này bắt đầu từ Nhâm và kết thúc ở Hợi. Hai sơn Nhâm và Hợi có vị trí ngang nhau so với vị Sửu, nên gọi là bình phân Giáp Tý. Các sơn Nhâm, Tý được lấy làm khuôn mẫu để phân biệt long mạch thật hay giả; muốn điểm huyệt, xét sơn, xem nước đều có thể dựa vào đó mà xác định.
Thấu địa quái bàn về huyệt, lấy tử phụ tài quan, quý nhân lộc mã, tứ cát tam kỳ, sa nước bát môn mà chia ra sáu mươi long mạch. Vào tiết Đông chí, long Canh Tý bắt đầu ở trung cục bảy, Giáp Tý đi thuận. Cung chín biến hóa, cung tám khép lại thành quẻ Lôi Thủy Giải, Mậu Thìn giữ thế; lấy Giáp Tý là Giác, Ất Sửu là Cang, Bính Dần là Đê, Đinh Mão là Phòng, Mậu Thìn là Thế, được Tâm, Nguyệt, Cô quản cục. Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm là tên các sao trong hai mươi tám tú.
Vào tiết Hạ chí, long Bính Ngọ bắt đầu ở hạ cục sáu, Giáp Tý đi nghịch. Long Bính Ngọ đi ngược chiều kim đồng hồ, ở cung chín thì lấy cung Ly, biến cung tám, dời Khôn đến vị trí cao; long Bính Ngọ thuộc cung Ly, phối thành quẻ Địa Hỏa Minh Di, Quý Sửu giữ thế, cùng số đến cung giữa. Cả hai độn thuận nghịch đều dựa vào cung Khôn. Những trường hợp còn lại cứ theo phương pháp ấy, Đông chí đếm thuận, Hạ chí đếm nghịch mà phân loại.
Ngũ thân sa thủy, quý nhân và lộc mã
Về ngũ thân của sa và nước: Đông chí, long Canh Tý khởi từ cung bảy, Giáp Tý đi thuận; Mậu Thìn thuộc thổ, là tài ở hai; Canh Tuất thuộc thổ ở tám; Canh Thân thuộc kim, là quan ở chín; Canh Ngọ thuộc hỏa, là tử ở bốn; Mậu Ngọ thuộc hỏa ở bảy, và không có phụ. Hạ chí, long Bính Ngọ khởi từ cung sáu, Giáp Tý đi nghịch, tử ở một, phụ ở sáu, không có tài. Mỗi quẻ đều phải thuộc nằm lòng, cứ theo cách ấy mà xác định.
Quý nhân của mỗi can được gắn với một con vật: Mậu, Canh với trâu; Ất với khỉ; Bính với gà; Đinh với heo; Nhâm với thỏ; Quý với rắn. Lục thân gặp hổ là dương; lục thân gặp ngựa là âm quý nhân. Về lộc: Giáp có lộc ở Dần, Ất ở Mão, Bính và Mậu ở Tỵ, Đinh và Kỷ ở Ngọ, Tân ở Dậu, Canh ở Thân, Nhâm ở Hợi, Quý ở Tý. Về mã: Hợi, Mão, Mùi thì mã ở Tỵ; Tỵ, Dậu, Sửu thì mã ở Hợi; Thân, Tý, Thìn thì mã ở Dần; Dần, Ngọ, Tuất thì mã ở Thân. Tất cả đều căn cứ vào long mạch mà nói.
Bát kỳ tứ cát: cách bố trí lục nghi và tam kỳ
Long Canh Tý khởi từ vị trí bảy; Giáp, Ất khởi từ sáu; Bính khởi từ năm; Đinh khởi từ bốn. Long Bính Ngọ khởi từ vị trí sáu; Giáp, Ất khởi từ bảy; Bính khởi từ tám; Đinh khởi từ chín. Đông chí thì phân bố lục nghi theo chiều thuận và đếm tam kỳ theo chiều nghịch; Hạ chí thì phân bố lục nghi theo chiều nghịch và đếm tam kỳ theo chiều thuận. Tứ cát là kim, thủy, nhật, nguyệt; mỗi tinh tú giữ một nghiệp riêng, phương pháp đoán là dùng bảy diệu và các sao cầm tinh để so sánh với nhau. Thổ tú thì theo sao Dực mà đoán, cũng bắt đầu tính từ cung chín, Đông chí đi thuận, Hạ chí đi nghịch.
Bát môn: chín cung biến thành tám cửa, và tinh độ ngũ hành
Bát môn là Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai: chín cung biến thành tám cửa. Ví dụ long Canh Tý ở cung bảy thì dời cửa Hưu từ Khảm vị sang Đoài vị, rồi đếm thuận các cửa Hưu, Sinh, Thương, Đỗ là được. Long Bính Tý ở cung chín thì dời cửa Tử từ Khôn sang vị tương ứng, rồi đếm thuận là được.
Tinh độ ngũ hành của sáu mươi thấu địa được chia đều từ ba trăm sáu mươi độ. Mỗi long vị được sáu độ, tạo thành hai mươi tám tinh tú hỗn thiên, chia ra mười hai vị trí kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, phân bố cho sáu mươi long vị.
Chu thiên độ số: sáu mươi độ hung, một trăm tám mươi độ cát
Vòm trời ba trăm sáu mươi lăm độ chia làm bốn phần, gọi là chu thiên độ số. Chu thiên độ số ngụ ý rất tinh thâm uyên bác, dùng nó để tìm huyệt vị và định phương hướng. Trong mười hai địa chi có một tuyến là Sai Thác; trong tám can bốn duy có một tuyến là Thiên Không; trong hai mươi bốn vị giới có một tuyến là Tiểu Không; trong sự tương hỗ của ngũ hành trực độ, tương khắc là quan hệ.
Trong số các độ ấy, tổng cộng sáu mươi độ đều thuộc tướng hung hiểm; một trăm tám mươi độ còn lại đều là cát tướng. Trong đó có bốn mươi tám độ là Sai Thác Thái Không, đối ứng với bốn mươi tám sát của Thiên Cơ; bảy mươi hai độ là quan hệ; sáu mươi độ hung hiểm gọi là độ khắc chiến; tướng cát lợi là một trăm tám mươi độ. Vòng đen là toàn khuyên, vòng trắng là cát lợi; đất không vong là nửa cát, nên cát và hung mỗi bên chiếm một nửa.
Hai mươi tám tú và cách chọn đất xây mộ
Hai mươi tám tú: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Ngang, Tất, Chủy, Sâm, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn; mỗi tú có số độ riêng, cộng lại tròn ba trăm sáu mươi lăm độ.
Phương pháp chọn đất để xây mộ được ghi bằng mấy câu như sau:
Khôn, Cấn, Dần, Thân khởi từ cung Tý; Giáp, Canh, Mão, Dậu ở Dần; Ất, Tân, Thìn, Tuất là đầu long; Tốn, Càn, Tỵ, Hợi tìm vị Ngọ; ở giữa phần long huyệt; Bính, Ngọ, Nhâm, Tý, Thân xây lên; từ Đinh đến Quý Sửu gặp lỗ hổng hẹp thì có mối chui vào quan tài.
Muốn giải trừ nguy nan thì phải trồng cây tử chi, một loại cây làm thuốc, thành bụi dày ở vị trí ấy. Nếu có gió thổi đến thì phải dùng gốc cây đắp đất bảo vệ ngay. Nếu muốn xây mộ ở Khôn sơn, cung Quý, hãy an thuận theo chiều kim đồng hồ mà tính.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.
