Bài tổng quan
Phí Trực lấy truyện giải kinh, mở đường cho Dịch cổ văn
Khi Mạnh Hỉ và Kinh Phòng đưa tượng số đi xa đến mức hóa thành tai biến, có một người lặng lẽ quay về lời Khổng Tử mà giải Dịch. Lối ấy không ồn ào nhưng bền, và về sau nuôi cả một dòng nghĩa lý. Cái giá của nó là gì?
Phí Trực, tự Trường Ông, người đất Đông Lai, nay thuộc Sơn Đông. Hậu Hán thư, phần chép về giới nho, ghi rằng ông có bộ Dịch truyện và đã truyền nó cho Lương Nha vương Hoành. Ông được xem là đại biểu của Dịch học cổ văn thời Hán. Điều làm nên tên tuổi ông là một cách giải Dịch: lấy truyện để giải kinh, chú trọng nghĩa lý, không chạy theo hình tượng.
Dịch cổ văn nổi lên giữa lúc tượng số đang thịnh
Khi nhà Hán mới lập quốc, người ta học Dịch theo lối kim văn, và Dịch của Phí Trực cũng bắt đầu hưng thịnh, trong khi kim văn Dịch của Kinh Phòng dần suy. Việc học Dịch cổ văn rất gò bó, nặng về khảo chứng, ít có phát hiện mới, mọi người phần nhiều phản đối thuyết quái khí và quái biến. Điều đó bất lợi cho sự phát triển của tượng số, nhưng lại đặt nền cho phái nghĩa lý Ngụy Tấn quật khởi.
Ông để lại ba bộ: Phí thị Dịch chú, Phí thị Dịch lâm và Phí thị phân dã. Cả ba đều thất tán. Đến đời Thanh, chúng được nhặt lại trong Ngọc hàm sơn phòng tập dật thư của Mã Quốc Hàn và trong bộ Dịch Hán do Hồ Vi Nguyên gom, trở thành tư liệu quý để tìm hiểu Dịch cổ văn.
Ba việc Phí Trực làm cho Dịch cổ văn
Muốn thấy ông đứng ở đâu, trước hết phải nhớ bầu không khí quanh ông: tượng số được dùng để đoán cả chuyện hưng suy của chính sự.
Mở ra một con đường mới
Thời Tây Hán, kinh học kim văn thịnh hành. Phái do Mạnh Hỉ và Kinh Phòng đại diện làm cho quái biến, phi phục nở rộ, thuyết phệ vĩ và âm dương tai biến lan rộng, tượng số được dùng để suy đoán nhân sự. Dưới sự ủng hộ của Hán Vũ Đế, kim văn Dịch dần trượt thành tai biến và mê tín. Thế rồi, ảnh hưởng của kinh học cổ văn mà Lưu Hâm là đại biểu khiến Dịch cổ văn cũng bắt đầu hưng khởi. Phí Trực là người đi trước: ông khôi phục cách giải kinh lời giản dị mà nghĩa sâu của truyền thống, không bàn phệ vĩ, tai biến nữa, mà mở đường quay lại lấy chính văn kinh để trị Dịch. Sau ông, các nhà kinh học như Mã Dung, Trịnh Huyền, Tuân Sảng nâng đỡ, khiến Dịch cổ văn đời Đông Hán thịnh lên.
Đặt nền cho nghĩa lý Ngụy Tấn
Điểm riêng của Phí Trực là dùng Dịch truyện của Khổng Tử để giải kinh. Chú quẻ Càn, ông dẫn thẳng lời truyện, như câu ca ngợi cái nguyên lớn lao của Càn và hình ảnh rồng bay lên. Ông không động đến âm dương tai biến, tuy bản thân ông giỏi thuật số, bói quẻ. Ông theo đúng truyền thống từ đời Chu, lấy kinh giải kinh.
Mở lối huấn cổ, khảo chứng
Dịch cổ văn lớn lên giữa lúc kinh học Hán hưng thịnh, vốn viết bằng lối chữ Trụ thời Chu, và lối học nghiêm cẩn, giỏi chú giải và khảo chứng. Bộ Phí thị học nay đã mất, ta chỉ thấy dáng vẻ ban đầu của nó qua các tập sưu tầm. Nhưng nhờ đó vẫn dò ra được tình hình Dịch cổ văn thời trước, nên Phí thị Dịch trở thành chỗ bảo tồn quý giá của lối học ấy.
Hai dòng chảy từ một người
Một người đi ngược dòng thịnh hành thường để lại hai thứ: một mạch học và một điểm yếu.
Mạch học thứ nhất là Dịch Phí thị. Qua tay các kinh sư Đông Hán như Mã Dung, Trịnh Huyền, Tuân Sảng, nó rất thịnh và trở thành đại biểu của kinh Dịch cổ văn, làm Dịch của Kinh Phòng mất dần ưu thế.
Mạch thứ hai là con đường nghĩa lý. Khổng Tử khởi xướng lối trị Dịch cổ văn, Phí Trực nối tiếp, Vương Bật phát triển. Đặc điểm chung là lấy truyện giải kinh, bám vào quái từ, hào từ, tức dựa vào lời Thập dực làm gốc. Lối ấy tách khỏi âm dương tai biến, mà dùng lý Dịch bàn chuyện nhân sự, chính trị, xã hội, nối tiếp tư tưởng xã hội mà Khổng Tử khai sáng. Về sau Vương Bật đẩy mạnh con đường ấy đến mức quét sạch tượng.
Cái giá của sự nghiêm cẩn
Cái làm cho lối học vững cũng chính là cái làm nó chật.
Dịch cổ văn của Phí Trực không chia chương cú, lại quá chú trọng khảo chứng và huấn hỗ nên ít sáng tạo. Về khách quan, nó gò bó sự phát triển của Dịch, nhất là bất lợi cho tượng số. Tượng số Tây Hán có khuyết điểm là xuyên tạc, gán ghép, thêm tượng chồng lên tượng, nhưng nó phát triển được những thuyết quan trọng như quái khí và quái biến, mở rộng ứng dụng của Dịch vào đời sống.
Thực ra, tượng số là nền của nghĩa lý. Vương Bật quét sạch tượng là cực đoan, phiến diện. Tượng số và nghĩa lý hợp lại mới là con đường đúng. Việc đời sau xếp tượng số xuống hàng biệt truyện, nâng nghĩa lý lên chính truyện, chính là dấu tích còn sót của cuộc tranh giành giữa Dịch cổ văn và kim văn đời Hán.
Gom lại, Phí Trực nối chí Khổng Tử, khôi phục lối lấy truyện giải kinh, mở đường cho nghĩa lý Ngụy Tấn, và làm chiếc cầu nổi quan trọng cho nghĩa lý Dịch về sau. Hạn chế của ông là có thật, nhưng ảnh hưởng của ông lên sự phát triển Dịch học cũng là điều chắc chắn.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.
