Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Vương Bật chú Dịch bằng nghĩa lý, hiểu ý rồi thì quên tượng

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202610 phút đọc2 lượt đọc
Vương Bật chú Dịch bằng nghĩa lý, hiểu ý rồi thì quên tượng

Một chàng trai mất khi chưa đầy ba mươi tuổi đã đổi hướng chảy của Dịch học suốt mấy thế kỷ. Anh đọc quẻ không bằng hình sấm gió mà bằng câu hỏi quẻ ấy dạy điều gì. Điều gì khiến người đời sau vừa nể phục vừa tranh cãi về anh?


Một người mất rất sớm mà đổi hướng cả Dịch học

Vương Bật sống từ năm 226 đến năm 249, tự là Phụ Tự, người đất Sơn Dương nước Ngụy thời Tam quốc, nay thuộc Tiêu Tác, Hà Nam. Ông xuất thân gia đình thư hương, từ nhỏ đã rất thông tuệ, làm đến chức Thượng thư lang, thông suốt các kinh, tinh tường cả Dịch lẫn Lão, theo đạo Nho, nhưng mất rất sớm. Các trước tác chính còn lại là Chu Dịch chú, Lão Tử chú và Chu Dịch lược lệ; Tùy thư ghi Chu Dịch chú sáu quyển, Chu Dịch lược lệ một quyển.

Ông là nhà huyền học và là nhà Dịch học lớn của thời Ngụy Tấn. Với dòng nghĩa lý của Dịch học, ông làm một việc quan trọng: nối tiếp con đường Khổng Tử đã mở rồi dựng lên một cột mốc mới. Từ người “mở đường” ấy, dòng nghĩa lý rẽ sang một lối khác, và về sau chính Chu Dịch chú của ông tạo ra sự dung hòa giữa nghĩa lý và tượng số.

Giảng quẻ bằng ý nghĩa chứ không bằng hình tượng

Có người đọc quẻ bằng cách nhìn trời đất, sấm gió trong hình; có người đọc bằng cách hỏi quẻ ấy dạy điều gì. Vương Bật thuộc nhóm thứ hai.

Điều gọi là “lấy nghĩa lý giải Dịch” là: khi bàn về Chu Dịch, ông chú trọng ý nghĩa chứ không xuất phát từ “tượng”. Chẳng hạn bàn về hai quẻ Càn và Khôn, ông chỉ nhấn vào nghĩa khỏe và thuận, không dựa vào hình trời, đất của hai quẻ. Với Chấn và Tốn, ông tập trung vào mặt “động”, bỏ qua tượng sấm và gió.

Ví dụ ở hào “dụng cửu” của quẻ Càn, có câu “thấy bầy rồng không đầu, tốt”. Ông chú về mặt nghĩa lý: ta có thể dùng đức của trời mà thấy bầy rồng, đó là lấy sự cương, kiện mà đứng trên mọi người. Ông giải quẻ Càn bằng cương và kiện.

Dù vậy, ông không bỏ hẳn tượng và số. Ông giữ cách làm của Dịch truyện, là một mẫu mực kết hợp nghĩa lý với tượng số, và vẫn nhìn tượng khi cần. Chú câu “vĩ đại thay đức nguyên thủy của quẻ Càn”, ông viết: trời là một cái tên siêu hình, còn kiện là cái dụng của điều siêu hình. Chú câu “tột cùng thay đức nguyên thủy của quẻ Khôn”, ông viết: đất rộng không bờ bến vì nó khiêm tốn và thuận theo. Ông xem tượng và số là gốc, nghĩa lý là dụng. Chú câu “tập Khảm là chồng chất hiểm”, ông giải thích: quẻ Khảm lấy hiểm làm dụng nên nhấn mạnh “chồng hiểm”, tức là hiểm họa chất thêm hiểm họa.

Điều đáng quý là khi cần chọn, ông thiên về nghĩa lý hơn. Ở quẻ Ký tế, lời tượng nói nước ở trên lửa là việc đã thành, người quân tử nhân đó nghĩ đến hoạn nạn có thể xảy ra mà phòng bị. Ông không nói gì đến hình nước hình lửa mà chỉ lấy lẽ tồn vong: đang còn thì đừng quên sẽ mất, “ký tế” là xong thì đừng quên “vị tế” là chưa xong. Ở quẻ Cấn, ông viết đại ý: mọi vật đối diện nhau mà không thông thì là bĩ; Cấn là dừng mà không giao thông được, mọi thứ dừng mà không hòa hợp thì làm sao tránh được lỗi. Ông không đả động tượng ngọn núi mà chỉ bàn ý nghĩa của chữ “chỉ”, dừng lại.

Lấy lời truyện để giải kinh

Vương Bật theo con đường kinh học cổ văn, nên trong Chu Dịch chú ông dùng triệt để lý luận của Dịch truyện để giải kinh. Ông vận dụng bốn cặp khái niệm xuất hiện nhiều trong Dịch truyện: âm dương, cứng mềm, khỏe thuận, tổn ích, rồi khai thác chúng cho sâu. Đó là điển hình của lối “lấy truyện giải kinh”, và đến nay Chu Dịch chú vẫn có giá trị tham khảo lớn khi nghiên cứu Dịch lý.

Có thể xem vài ví dụ. Hào năm của quẻ Phệ hạp có câu “cắn thịt khô, được vàng”. Ông giải: thịt khô là thứ cứng, nhưng là âm ở ngôi dương, lấy chất mềm cưỡi lên cứng, cắn vào thì vật không phục, nên mới nói là cắn thịt khô. Ở quẻ Cổ, lời tượng nói sáu đầu “uốn nắn sự tệ của cha là ý nối được nghiệp người trước”; ông chú rằng việc uốn nắn là việc cần kíp nhất, phải xem lúc bớt lúc thêm, nhưng không thể làm trọn vẹn, nên chỉ có thể nói lên ý nguyện nối nghiệp. Ở quẻ Tổn, lời thoán nói bớt dưới thêm trên, đạo của nó đi lên; ông giải rằng Cấn là dương, còn âm vui mà thuận, bớt ở dưới thêm ở trên, và việc thêm ở trên chính là nghĩa vậy. Ở quẻ Quán, lời tượng nói xem xét hành vi mình mà chọn tiến lui để không mất lẽ “xem xét”; ông chú rằng ở vào thời tiến lui thì xem xét thời ấy, như vậy không mất lẽ của sự xem xét.

Với hào cuối quẻ Càn, “rồng lớn bay cao đến cùng cực thì có chỗ hối hận”, ông viết rằng lấy cứng khỏe mà đứng trên đầu người thì không thể đồng lòng với người, lòng mềm thuận mà bất chính thì là đường tà. Với quẻ Thăng, “nguyên hanh, nên dùng đại nhân, chớ lo”, ông chú rằng tốn thuận thì lên cao đến ngôi dương, ở ngôi cao mà không xứng vị, không nghiêm thì dù cứng rắn mà chính cũng không chịu nổi nỗi lo. Những ví dụ ấy cho thấy vì sao Chu Dịch chú được coi là một kiệt tác của lối lấy truyện giải kinh.

Lược lệ: ba mảnh ghép để hiểu một bộ máy chuyển động

Nếu bản chú là người thợ sửa từng cái bánh răng, thì bản lược lệ là bản vẽ của cả bộ máy.

Chu Dịch lược lệ thực chất là bài giải cho Hệ từ, mang tính chính tông của Dịch lý, hoàn toàn không pha quan điểm huyền học. Giá trị chủ yếu của nó tập trung ở ba điểm.

Điểm thứ nhất là coi trọng “động”. Động tức là không ngừng, nên mới có câu “không gì kiềm chế được động”. Vương Bật nhấn mạnh rằng muôn vật đều vận động, ăn khớp với lời Dịch rằng cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu dài. Gốc của động là thái cực sinh hai nghi: hai nghi là khí âm dương hóa sinh, chính là nguồn của động. Còn động qua đâu? Qua sự vận động của sáu hào. Sáu hào có cứng có mềm, có âm có dương nên phối hợp ăn ý với nhau. Ông viết rằng động là vận động suốt ngày đêm mà không có hình thể, một âm một dương mà vô cùng. Ông cũng nhắc động và tĩnh phải đúng mức, không quá độ, tức là diễn giải ý động tĩnh có quy luật.

Điểm thứ hai là chữ “biến”. Trong thiên Minh hào thông biến, ông nêu: hào là gì? Là biến vậy. Nếu thiên hạ không có biến đến cực điểm thì không gì còn tồn tại được, nên có quẻ chính là vì có hào biến. Ông còn qua chuyện vị trí của hào mà bàn về biến dịch: vị có cao thấp, hào có âm dương, chỗ cao là chỗ của dương, chỗ thấp là chỗ của âm. Các hào một, ba, năm ở vị dương, các hào hai, bốn, sáu ở vị âm. Mọi biến đổi âm dương của Dịch lý thể hiện trong hào biến.

Điểm thứ ba là chuyện ý và tượng. Vương Bật cho rằng quan hệ giữa ý và tượng là quan hệ thể và dụng, giữa cái trừu tượng và cái hình tượng. Từ hình tượng rút ra ý, rồi dùng lời để nói tượng. Quan hệ ấy giống như quẻ Càn và con rồng: Càn là ý, rồng là vật; một cái trừu tượng, một cái hữu hình. Ông viết: ý hiện đủ nhờ tượng, tượng rõ nhờ lời; lời sinh ra từ tượng, tượng nhờ lời mà hiện. Rồi ông bàn tiếp: hiểu được ý có thể quên tượng; hiểu được tượng có thể quên lời. Ta chồng vạch quẻ để biểu đạt sự việc, nhưng rồi ta có thể quên cả vạch quẻ. Nghĩa là khi đã nhập thần, tượng và ý hòa làm một, như khi xem một bức họa đến chỗ nhập thần thì quên mình đang xem tranh. Ý tưởng ấy mang vị triết học đậm và ảnh hưởng đến văn học, nghệ thuật đời sau, đặc biệt là mỹ học về ý, tượng, cảnh trong thơ và họa.

Ông có mượn Đạo gia để giải Dịch không?

Nhiều học giả từng cho rằng ông giải Dịch bằng tư tưởng Lão Trang, có lẽ vì ông là nhân vật tiêu biểu của huyền học. Nhưng nếu đọc cả Chu Dịch chú lẫn Chu Dịch lược lệ, không có một câu nào nhắc đến quan điểm Lão Trang. Suốt bản chú ông dùng các cặp dương âm, cứng mềm, kiện thuận trong Dịch truyện để nghiên cứu, mà diễn giải rất sâu. Còn cả quyển lược lệ đều bàn về vận động, biến hóa và ý tượng, phát triển tư tưởng biến dịch và biện chứng của Chu Dịch, không có chút vay mượn từ Lão Trang.

Nên có thể xem Chu Dịch chú là tác phẩm tiêu biểu cho sự phát triển dòng nghĩa lý, nhưng gán nó vào tư tưởng Lão Trang thì không đúng sự thực. Ông là mẫu mực của lối lấy Dịch giải Dịch. Còn chuyện trong Lão Tử chú ông bàn về vô vi và hư tĩnh của Lão Tử thì đó là việc chú thích sách của Lão Tử, ít dính đến lối trị Dịch của ông.

Dấu chân của ông trong lịch sử Dịch học

Có những người chỉ sống hơn hai mươi năm mà đổi hướng chảy của một dòng sông kéo dài mấy thế kỷ.

Trước ông, Dịch học Hán đã thành thế một mình phái tượng số thống trị. Vì ông coi trọng nghĩa lý của Dịch truyện, Dịch học thoát khỏi thế một phái độc tôn ấy và khôi phục lại ảnh hưởng của dòng nghĩa lý do Khổng Tử mở. Sự trỗi dậy của nghĩa lý nơi ông cũng mở đầu thời kỳ hai dòng nghĩa lý và tượng số cùng phát triển song song.

Ông là người nối nghiệp Khổng Tử và là bậc thầy lớn của dòng nghĩa lý, khiến vai trò của Dịch học trong văn hóa Trung Hoa tăng thêm nhiều. Ảnh hưởng của ông lan sang Dịch học đời Đường, Tống và lý học Tống Minh. Chu Dịch chính nghĩa của Khổng Dĩnh Đạt đời Đường là một tập đại thành gồm cả tượng số của đời Hán và nghĩa lý của Vương Bật. Chu Dịch chú của ông, cùng phần Hàn Khang Bá chú các thiên sau Hệ từ, được Khổng Dĩnh Đạt làm sớ, trở thành bộ đứng đầu trong Ngũ kinh chính nghĩa do triều Đường quan định, và có địa vị quan trọng trong Dịch học đời Đường lẫn các đời sau.

Về sau, Dịch truyện của họ Trình, Dịch thuyết của Trương Tái, Chu Dịch bản nghĩa của Chu Hi, Chu Dịch nội truyện của Vương Phu Chi đời Thanh, tất cả những công trình lấy nghĩa lý giải Dịch đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của ông. Ông kết hợp “Dịch” với “Lão” trong cách trị Dịch, vừa hợp trào lưu Lão Trang huyền học đang thịnh thời ấy, vừa giữ được vị trí cho Dịch học, để Dịch có chỗ đứng trong ba bộ “tam huyền”. Từ đó ông đặt nền móng cho lý học Tống Minh, và góp phần đưa Dịch học trở thành trung tâm của một nền văn hóa nghìn năm.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện