Bài tổng quan
Vì sao mệnh vận dự đoán được và ngũ hành sinh khắc ra sao
Hai người sinh cùng một giờ, cùng một trái đất, mà một người bệnh tật còn người kia khỏe mạnh, một người giàu sang còn người kia nghèo hèn. Người xưa tìm lời giải không ở bùa phép mà ở một chữ cân bằng giữa năm hành. Nhưng cân bằng là gì, và vì sao lửa gặp đất lại có lúc tắt…
Mục lục · 7 phần
Dự đoán mệnh vận là môn học về quy luật sinh mệnh
Từ xưa y học và dịch học đã thông với nhau. Nội kinh của Trung y và Chu dịch cùng cho rằng vạn vật trong vũ trụ sinh ra từ vận động. Vận động là vĩnh hằng: nó sinh ra sinh mệnh, và khi nó ngừng thì sinh mệnh cũng chấm dứt. Từ đó có ba ý lớn. Thế giới là một chỉnh thể, nghĩa là trong và ngoài cơ thể thông nhau; thế giới luôn vận động, nghĩa là mọi thứ biến hóa đổi thay; và thế giới cân bằng trong vận động, nghĩa là các tạng phủ với nhau, cơ thể với môi trường đều phải giữ được một mức cân bằng nhất định.
Khí âm dương ngũ hành mà một người thụ đắc lúc sinh ra chính là mức độ nhiều ít và tính chất của kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, được ghi bằng can chi. Can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh đại diện cho âm dương ngũ hành, như một mô hình phản ánh kết cấu bên trong cơ thể. Cơ thể có cân bằng được với môi trường quanh nó hay không là căn cứ để giải thích vì sao những người sinh cùng một lúc mà tạng phủ người này bệnh, người kia không; và vì sao cùng sống trên một trái đất, người này giàu sang còn người kia nghèo hèn. Giữ cân bằng âm dương ngũ hành là khâu trọng yếu của chức năng sinh mệnh.
Âm dương bình ổn, gắn bó thì tinh thần còn; âm dương tách rời nhau thì tinh thần hết.
Trung y cho rằng bệnh phát sinh khi sự điều hòa âm dương của các tạng phủ bị phá hoại. Tố vấn, thiên "Chí chân yếu đại luận", nói rằng uốn nắn, chỉnh cho đúng chỗ thịnh quá hay suy quá thì đạt được điều hòa âm dương. Dự đoán mệnh vận cũng có mục đích như thế. Dự đoán và đề phòng bệnh tật mới chỉ là một mặt. Cả vũ trụ, con người nằm trong đó, đều vận động theo quy luật phổ biến là tuần hoàn theo vòng tròn, nhưng không phải lặp lại đơn giản mà là tuần hoàn ở một cấp độ cao hơn. Sự thăng giáng của khí ngũ hành, âm dương trong cơ thể, sự chạy vòng của kinh lạc, của doanh vệ theo Trung y, đều là vòng tròn. Các vòng tròn trong cơ thể liên quan với nhau, và liên quan với các vòng tròn của trái đất, của vũ trụ. Vũ trụ và con người vì thế là một chỉnh thể gắn bó; so với vũ trụ bao la, con người chỉ là một hệ thống nhỏ chịu ảnh hưởng rất lớn của thế giới tự nhiên.
Tìm chỗ mất cân bằng của khí bẩm sinh
Chiêm bốc coi trọng sức mạnh của yếu tố khách quan: cát hung, họa phúc của người là do hoàn cảnh quanh mình tác động, gồm ràng buộc của thời gian, không gian và các điều kiện cụ thể khác. Nhiệm vụ của dự đoán là tìm ra điểm mất cân bằng của khí bẩm sinh lúc sinh ra. Cũng như khám bệnh phải tìm nguyên nhân bệnh trước, đoán mệnh phải tìm cho ra căn nguyên họa phúc của mệnh. Căn nguyên đó không chỉ do năm khí âm dương trong vũ trụ biến đổi gây lợi hại cho sức khỏe, mà còn cho biết người ấy rơi vào hoàn cảnh tự nhiên, xã hội tốt hay xấu, thậm chí ảnh hưởng đến các thành viên trong nhà. Dùng can chi đại diện cho âm dương ngũ hành, dùng mười thần tượng trưng cho tổ hợp khí bẩm sinh trong hay đục của từng người, rồi tính toán, cân bằng theo quy luật để nhận ra phú quý, thọ yểu ẩn trong đó: đó là phản ánh ra mệnh.
Còn vận thì nhìn vào tiến trình thuận nghịch của cuộc đời, chỉ ra quan hệ giữa hoàn cảnh sống của một người với sự biến đổi của vũ trụ có cân bằng hay không, từ đó thấy cát hung họa phúc từng giai đoạn cụ thể. Ngũ hành đầy đủ, sinh khắc vượng suy hợp lý là mệnh tốt. Ngũ hành lệch nhiều hay có bệnh, nhưng trong mệnh có "thuốc", tức các vận ăn khớp với dòng tuần hoàn biến hóa của vũ trụ, thì mệnh ấy vẫn cứu được, cũng xem là mệnh tốt. Ngược lại, ngũ hành thiên khô, nghĩa là trong Tứ trụ tổ hợp xấu nhiều hơn tổ hợp tốt, mất cân bằng nhiều mà không có thuốc cứu, các vận lại luôn ngược với khí tuần hoàn của vũ trụ, thì là mệnh không cứu được, hay gọi là mệnh yểu. Biết mệnh là để hiểu rõ và cải thiện hoàn cảnh của mình giữa biến đổi của vũ trụ, tìm được sự yên ổn trong một thế giới đổi thay. Dự đoán mệnh vận là kinh nghiệm tổng kết quy luật sinh mệnh của người Trung Hoa, một trong những mảng văn hóa cổ điển ưu tú nhất, đáng được kế thừa và phát triển thêm.
Điều lạ chưa giải thích được vẫn là sự thật
Có một cuốn sách nhỏ chuyên "giải phẫu mê tín". Toàn bộ nội dung bàn về những chuyện đến nay thế giới còn đang nghiên cứu và còn tranh luận chưa dứt: những hiện tượng không giải thích nổi và thế giới siêu thực. Người viết bỏ nhiều công sưu tầm tư liệu cho các kết luận phủ định, để chứng minh mình là người duy vật chân chính. Nhưng mãi đến lời kết mới có một câu nói thật: trên đời có rất nhiều vật kỳ lạ và những câu đố không giải được, đó là sự thật khách quan; chúng đồng hành cùng lịch sử nhận thức của nhân loại, và chỉ khi khoa học lần lượt tìm ra chân tướng thì chúng mới dần bỏ màu sắc thần bí và đẩy nhân loại tiến lên.
Đã thừa nhận có những điều kỳ lạ khách quan chưa giải được, thì hà tất cấm người ta đi khám phá chúng? Nhiều người đóng vai vô thần, vai duy vật, nhưng không chịu nhận điều trông thấy thì làm sao tin được lời họ nói thật. Phủ nhận một câu nói thì "vấn đề" có biến mất không? Khí âm dương ngũ hành không đo được, không thấy được thì người ta thôi thở chăng? Không biết lương thực là hợp chất của cacbon và nước thì người ta thôi ăn chăng? Dự đoán học Trung Hoa tuy chia nhiều phái, thuật số tuy phức tạp, nhưng vì sao không bỏ công nghiên cứu, kết tinh những trí tuệ ấy để đem hạnh phúc cho xã hội, giúp mọi người hướng đến cái tốt, tránh cái rủi? Thuật số Trung Hoa là một mảng văn hóa thần bí phương Đông mà văn minh phương Tây đang hướng tới, và rất nhiều câu đố trên thế giới nhờ nó mà được giải thích.
Hiện đại hóa phát triển nhanh, con người đã chế được vệ tinh, ra đa, đủ loại máy tiên tiến và kỹ thuật đo từ xa, nhưng đó vẫn chỉ là công cụ nặng về vật lý. Khoa học nay chưa tới mức tạo được cảm truyền giữa sinh vật và vật lý, nên năng lực dự đoán còn hạn chế. Thế giới ngày nay vừa phải dùng kỹ thuật tiên tiến nhất, vừa không thể xem nhẹ phương pháp cổ. Có những việc máy đo hiện đại chưa đo được mà phương pháp cổ lại làm được, vì ngày xưa không có máy móc nên người ta bị bức phải có đủ loại cách dự đoán, trong đó có cả những triết lý khoa học. Có lẽ con người ngày nay đã thoái hóa về năng lực ấy; nếu chỉ ra được những điều bí ảo này và vũ trang thêm bằng thiết bị hiện đại, thì tiền đồ của dự đoán hiện đại sẽ rất rộng. Các học giả trong và ngoài nước đã ứng dụng dự đoán theo Chu dịch và đạt thành tựu nổi bật ở thiên văn, hóa học, sinh học; lẽ nào dự đoán về địa chất, khí tượng, bệnh tật, nhân sự lại không thể phát triển lớn.
Năm vì sao và năm phương trong thiên văn cổ
Thiên văn cận đại phương Tây với thiên văn cổ Trung Quốc khác nhau tận gốc. Mặt trời mọc lặn, trăng tròn khuyết hay các sao vận hành đều là hiện tượng ai cũng thấy bằng mắt thường, nhưng hai nền thiên văn mang hai biểu tượng thể nghiệm thế giới hoàn toàn khác nhau, và mỗi biểu tượng đều có ý nghĩa chân thực do chính thể nghiệm của nền thiên văn ấy tìm ra. Thiên quán thư ghi lại chân thực những "quan trắc khoa học" của người xưa, mô tả chi tiết thiên tượng âm dương ngũ hành, đại ý như sau:
- Xem đường đi của mặt trăng, mặt trời thì dựa vào sự thuận nghịch của Mộc tinh. Vì thế nói phương Đông thuộc mộc, chủ mùa xuân, giáp ất. Người thất nghĩa bị phạt khi gặp tuế tinh.
- Xem cương khí thì dựa vào Hỏa tinh. Vì thế nói phương Nam thuộc hỏa, chủ mùa hạ, bính đinh. Người thất lễ bị phạt khi gặp Hỏa tinh.
- Xem các sao thì lấy vị trí Thổ tinh làm căn cứ. Vì thế nói thổ ở trung ương, mậu kỷ, là tượng của bậc làm chủ.
- Xem sự dời của ngày thì lấy vị trí Kim tinh làm căn cứ. Vì thế nói phương Tây thuộc mùa thu, canh tân, chủ về sát. Người có thất sát bị phạt khi gặp Thái Bạch.
- Xem giờ thì căn cứ vào vị trí Thủy tinh. Vì thế nói phương Bắc thuộc thủy, là tinh của Thái âm, chủ mùa đông, nhâm quý. Người thất hình bị phạt khi gặp sao của giờ sinh.
Tố vấn, thiên "Khí giao biến đại luận", cũng ghi cách xem năm sao để đoán họa phúc: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ khi tốt khi xấu, dùng chúng để biết sinh tử hay thành bại. Dựa vào độ sáng, đường đi, vị trí xa gần và tốc độ của Hỏa tinh, Thổ tinh, Kim tinh, Thủy tinh, người ta biết được tai họa hay may mắn. Với xã hội loài người, mất cân bằng còn hệ trọng hơn nhiều so với vận hành bình thường. Biến đổi của trời đất tuy là điềm báo phúc họa nơi nhân gian, nhưng nguồn gốc sâu xa của phúc họa lại nằm ngay trong hành vi con người. Lấy âm dương ngũ hành, tức sự cân bằng hay mất cân bằng giữa các can chi trong Tứ trụ, để đoán cát hung họa phúc là kết tinh của thể nghiệm quý báu người xưa. Dùng sinh khắc chế hóa của ngũ hành để giảm bớt sự mất cân bằng của mệnh, từ đó hướng tới điều tốt, lánh xa điều xấu, mới là ý nghĩa chân chính của việc làm chủ vận mệnh của mình.
Ngũ hành tương sinh, tương khắc
Giữa các hành có quy luật tương sinh và tương khắc. Giống như âm dương, sinh và khắc là hai mặt gắn liền của một sự vật: không có sinh thì sự vật không phát sinh, phát triển được; không có khắc thì không giữ được cân bằng và điều hòa trong quá trình phát triển, biến hóa. Quan hệ sinh có hai chiều: cái sinh ra tôi và cái tôi sinh ra. Quan hệ khắc cũng có hai chiều: cái khắc tôi và cái tôi khắc.
Thứ tự tương sinh là mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc. Lẽ của từng cặp như sau:
- Mộc sinh hỏa: mộc có tính ôn, hơi ấm, hỏa ẩn bên trong, khoan xuyên mộc thì sinh ra lửa.
- Hỏa sinh thổ: lửa nóng đốt cháy gỗ, cháy hết thành tro, tro là thổ.
- Thổ sinh kim: kim ẩn tàng, vùi trong đá, trong núi; có núi tất có đá.
- Kim sinh thủy: khí thiếu âm, tức khí của kim, chảy ngầm trong núi mà thành nước; nung chảy kim cũng thành thủy.
- Thủy sinh mộc: nước ôn nhuận làm cây cối sinh trưởng.
Thứ tự tương khắc là mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc. Khắc nhau là bản tính của trời đất. Có thể hình dung: tương sinh đi theo vòng tuần hoàn, nối hành này sang hành kề liền; tương khắc đi theo cách ngôi, nhảy qua một hành. Vẽ năm hành thành vòng tròn thì sinh chạy theo cạnh, khắc chạy theo đường chéo.
Điều nên và điều kỵ trong sinh khắc, chế hóa
Ngũ hành không chỉ sinh, khắc, bổ trợ nhau mà còn khống chế nhau, lại có mặt thái quá và mặt bất cập. Điều đó làm việc dự đoán thêm phức tạp. Muốn nắm vững mối quan hệ đối lập mà thống nhất này, phải nắm được những điều nên và điều kỵ để vận dụng linh hoạt.
Kim. Kim vượng gặp hỏa thì thành khí giới hữu ích. Kim sinh thủy, nhưng thủy nhiều thì kim chìm; kim tuy cứng mà bị nước mài thì cùn. Kim khắc mộc, nhưng mộc cứng thì kim mẻ; mộc yếu gặp kim tất bị chặt đứt. Kim nhờ thổ sinh, nhưng thổ nhiều thì kim bị vùi; thổ sinh kim nhưng kim nhiều thì thổ hóa ít.
Hỏa. Hỏa vượng gặp thủy thì thành thế cứu giúp nhau. Hỏa sinh thổ, nhưng thổ nhiều thì hỏa tối; hỏa mạnh gặp thổ thì bị dập. Hỏa khắc kim, nhưng kim nhiều thì hỏa tắt; kim yếu gặp hỏa tất chảy. Hỏa nhờ mộc sinh, mộc nhiều thì lửa mạnh; nhưng hỏa nhiều thì mộc bị đốt cháy.
Thủy. Thủy vượng gặp thổ thì thành ao hồ. Thủy sinh mộc, nhưng mộc nhiều thì thủy co lại; thủy mạnh gặp mộc thì khí thế yếu đi. Thủy khắc hỏa, nhưng hỏa nhiều thì thủy cạn; hỏa yếu gặp thủy tất bị dập tắt. Thủy nhờ kim sinh, nhưng kim nhiều thì thủy đục; kim sinh thủy mà thủy nhiều thì kim chìm.
Thổ. Thổ vượng gặp mộc thì việc hanh thông. Thổ sinh kim, nhưng kim nhiều thì thổ hóa ít; thổ mạnh gặp kim thì bị khống chế, khỏi dồn thành đống. Thổ khắc thủy, nhưng thủy nhiều thì thổ bị trôi; thủy yếu gặp thổ tất bị chắn. Thổ nhờ hỏa sinh, nhưng hỏa nhiều thì thổ bị thiêu; hỏa sinh thổ mà thổ nhiều thì hỏa tàn lụi.
Mộc. Mộc vượng gặp kim thì thành rường cột. Mộc sinh hỏa, nhưng hỏa nhiều thì mộc bị đốt; mộc mạnh gặp hỏa thì mộc hóa yếu. Mộc khắc thổ, nhưng thổ nhiều thì mộc bị lấn; thổ yếu gặp mộc thì khô cằn nứt nẻ. Mộc nhờ thủy sinh, nhưng thủy nhiều thì mộc bị trôi dạt; thủy sinh mộc mà mộc nhiều thì thủy co lại.
Con người cùng vận động với ngũ hành
Chu dịch nói mọi việc, mọi vật trong thế gian đều thống nhất ở Thái cực. Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là sự thể hiện rõ nhất, lớn nhất của vạn vật, nên mọi việc mọi vật đều quy về âm dương ngũ hành. Con người là một trong vạn vật nên tất nhiên tham dự vào vận động không ngừng của vũ trụ. Tứ trụ, với tư cách là lời giải thích toàn diện về đời sống con người, một "tiểu thiên địa", là môn học về quy luật sinh mệnh của con người, và nó dùng quy luật ngũ hành để giải thích quan hệ giữa con người với trời đất.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
