Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Thẩm Trúc Nhưng, ngôi mộ gây họa và hai mươi bốn phương vị

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202615 phút đọc1 lượt đọc
Thẩm Trúc Nhưng, ngôi mộ gây họa và hai mươi bốn phương vị

Mười tám vị thầy địa lý cùng gật đầu: đây là cuộc đất rất tốt. Vậy mà người chôn cha mẹ ở đó chỉ ít lâu sau đã mất chức, bị đày, chết dọc đường. Một dòng chữ nằm trong rương hành lý của người bà con mới hé ra điều mà cả mười tám vị thầy đều không thấy…


Một phái phong thủy có tên gọi rõ mà gốc gác thì mờ

Phái Huyền Không còn được gọi là Huyền Không Phi Tinh. Nó bắt đầu từ lúc nào thì đến nay vẫn chưa ai khảo chứng được cho chính xác. Chỉ có một manh mối: từ đời Hán, trong thiên Nghệ văn chí của Hán thư đã ghi mười bốn quyển “Kham dư kim quỹ” bàn về các bí quyết địa lý cổ xưa. Người đời sau đọc thấy những quyển ấy có dây mơ rễ má với các bài ca quyết mà phái Huyền Không dùng, vốn được chép lại từ khoảng đời Đường trở về sau. Những tác phẩm hay được nhắc là:

  • “Thiên Ngọc kinh”, tương truyền do Dương Quân Tùng đời Đường soạn.
  • “Thanh Nang áo ngữ”, cũng tương truyền của Dương Quân Tùng.
  • “Đô Thiên Bảo Chiếu kinh”, lại là một tác phẩm gán cho Dương Quân Tùng.
  • “Thanh Nang tự”, tương truyền do Tăng Văn Sơn đời Đường soạn.
  • “Huyền Không bí chỉ”, tương truyền do Ngô Cảnh Loan đời Tống soạn.
  • “Huyền Cơ phú”, cũng tương truyền của Ngô Cảnh Loan.

Từ đó mà suy, thuyết Đại Huyền Không Phi Tinh có khả năng đã tồn tại từ đời Đường, thậm chí từ những triều đại xa hơn nữa. Tuy vậy, những thư tịch kể trên vẫn giấu các điểm then chốt. Người tự học theo hệ Đại Du Niên và Tiểu Du Niên của phái Bát Trạch, hoặc theo phái Tam Hợp, mà đem trộn các lý thuyết ấy với nhau thì sẽ vấp phải hàng trăm điều mâu thuẫn. Phải đợi tới cuối đời Thanh, khi Thẩm Trúc Nhưng công bố bộ “Thẩm thị Huyền Không học”, lý thuyết của phái này mới được đông đảo người biết rõ ràng.

Cậu bé mười ba tuổi giữa cơn loạn lạc

Trước khi trở thành người phơi bày bí mật của một phái, Thẩm Trúc Nhưng đã đi qua một tuổi thơ không còn gì để mất.

Họ Thẩm người Tiền Đường, tên Thiệu Huân, hiệu Trúc Nhưng. Năm ông mười ba tuổi, băng Kim Tiền nổi loạn ở Chiết Giang, thành Hàng Châu bị vây hãm. Cả gia đình bảy người của ông đều chết theo thành, mẹ ông nhảy xuống giếng tự vẫn, nhà tan người mất. Riêng ông bị bọn phỉ bắt đưa tới Tùng Giang. Sang năm sau, một viên tướng người nước ngoài tên Hoa Nhĩ đánh tan bọn phỉ, cứu ông ra và nhận ông làm con nuôi. Về sau Hoa Nhĩ trúng thương, ngã xuống trong trận đánh ở Từ Khê, Chiết Giang; chính tay ông lo việc chôn cất cha nuôi. Khi ông mười lăm tuổi, bà vợ họ Đào của Hoa Nhĩ cũng qua đời.

Từ đó ông làm việc cho một viên tướng người Anh, chuyên giảng binh pháp và huấn luyện lính mới. Đến tuổi trung niên ông rẽ sang nghề buôn bán. Ông lần lượt có ba người vợ, họ Ngô, họ Tạ và họ Viên; hai bà đầu mất sớm, bà họ Viên sinh cho ông hai trai hai gái.

Về phong thủy, từ nhỏ ông đã bái một vị lão sư làm thầy, nhưng chỉ học được chút ít lý luận sơ sài. Lớn lên, ông càng mê môn này, thường rong ruổi khắp nơi để học hỏi các bậc đồng đạo. Nhờ trời cho thông minh, chưa tới hai mươi tuổi ông đã nghiền ngẫm không biết bao nhiêu thư tịch phong thủy, và kết giao được với khá nhiều người giỏi trong nghề.

Đáng tiếc là vị thầy xưa từng dặn: “Phái Huyền Không không phải chính phái, không đáng học.” Vì thế thuở đầu ông coi Huyền Không như thú dữ, tránh xa. Lúc ấy Tưởng Đại Hồng được tôn là bậc đứng đầu của phái, nên trong lòng Thẩm Trúc Nhưng, họ Tưởng chính là kẻ địch lớn.

Cuộc đất mười tám thầy đều khen mà vẫn gây họa

Có những chuyện chỉ xảy ra một lần mà đủ làm sụp đổ cả niềm tin của một người làm nghề.

Năm Tân Mùi, khi hai mươi bốn tuổi, ông thay gia tộc tìm được một huyệt đất “sơn Nhâm hướng Bính”, hình thế núi sông rất hữu tình. Để chắc chắn về trình độ của mình, ông mời tổng cộng mười tám vị thầy địa lý của các phái ở Giang Nam đến xem, chỉ trừ những người thuộc phe Tưởng Đại Hồng. Kết quả là cả mười tám vị đều công nhận đây là một cuộc đất rất tốt.

Không ngờ tin này lọt đến tai một quan viên. Ông ta ỷ thế, bỏ ra rất nhiều vàng mua lại huyệt đất, và Thẩm Trúc Nhưng đành nhường. Cuối năm Tân Mùi, vị quan ấy đem cha mẹ về táng ở đó. Chuyện xảy ra sau đó khiến ai cũng sững sờ: hai cha con quan viên đều phạm án mất chức, bị biếm đi đày, chết ngay giữa đường, cả nhà tan tác.

Biết tin, Thẩm Trúc Nhưng kinh hãi, bứt rứt không yên và tự cho mình có lỗi, vì huyệt đất này do chính tay ông tìm ra. Ông lại mời các thầy địa lý đến khảo sát lần nữa, nhưng ý kiến vẫn như cũ: đó là cát địa, lại không phạm một thần sát hay điều kiêng kỵ nào. Không một ai hiểu vì sao nhà quan viên lại gặp kết cục thảm hại đến thế.

Dòng chữ trong rương hành lý và lời cảnh báo về vận 1

Lời giải đôi khi nằm sẵn trong hành lý của người đi cùng mình, chỉ chờ một ánh mắt tình cờ.

Về sau, ông đi chơi Hàng Châu cùng Hồ Bá An, một người bà con bên vợ. Tình cờ ông thấy trong rương của Hồ Bá An có cuốn “Bí Bản” của Khương Thổ, một trong những học trò của Tưởng Đại Hồng. Trong đó có một dòng:

Sơn Nhâm hướng Bính, sơn Bính hướng Nhâm của vận 1, phạm phản ngâm phục ngâm; nếu táng huyệt này thì họa đến lập tức.

Cuốn sổ không hề nhắc tới các vận khác. Thẩm Trúc Nhưng nhớ lại: lúc quan viên kia hạ táng đúng là vận 1, và huyệt đúng là sơn Nhâm hướng Bính, tức đúng vào cuộc phản ngâm phục ngâm. Ông lại mời ba mươi mốt vị thầy địa lý đến bàn, nhưng tất cả đều bó tay, chỉ kết luận: “Có lẽ chỉ là ngẫu nhiên thôi!”

Từ lúc này, ông không còn dám coi thường phái Huyền Không như trước. Ông đi tìm những sách do Tưởng Đại Hồng soạn hoặc chú giải để nghiền ngẫm, nhưng vẫn không lần ra đầu mối, đối với lý thuyết Huyền Không ông vẫn mù mịt.

Một ngày một đêm chép trọn cuốn “Trạch Đoán” ở Vô Tích

Có những báu vật chỉ trao cho người khác vì chủ nhân tin rằng chúng vô dụng trong tay kẻ đó.

Năm Quý Dậu niên hiệu Đồng Trị, tức năm 1873, Thẩm Trúc Nhưng hai mươi sáu tuổi. Ông nghe nói ở đất Vô Tích có một đại sư phong thủy lừng danh tên Chương Trọng Sơn, cũng thuộc phái Huyền Không; ai được ông xem đất cho thì vận trình con cháu đều khá lên. Ông bèn cùng Hồ Bá An lên đường tới Vô Tích để hỏi hậu duệ họ Chương về lý thuyết của phái, nhưng lúc ấy họ Chương đã mất. Hai người ở lại Vô Tích nhiều tháng mà con cháu Chương Trọng Sơn vẫn không hé lời nào.

Cuối cùng ông nghĩ ra một kế: bỏ thật nhiều vàng bạc để mượn cuốn “Trạch Đoán”, tức “Âm dương nhị trạch lục nghiệm” do Chương Trọng Sơn soạn, nhưng chỉ mượn trong đúng một ngày một đêm. Con cháu họ Chương tính rằng thời gian ngắn như vậy thì chẳng ai thấu nổi bí mật phái Huyền Không; hơn nữa cuốn “Trạch Đoán” chỉ ghi các chứng nghiệm thực tế, không viết bí quyết bài bố tinh bàn, nên có chép hết cũng chẳng làm được gì. Vì thế họ nhận vàng và cho mượn. Thẩm Trúc Nhưng cùng Hồ Bá An thức suốt đêm, chép trọn cả cuốn không sót một chữ.

Rời Vô Tích, ông vẫn miệt mài nghiên cứu nhưng ngày tháng cứ trôi mà chẳng hiểu thêm gì. Phép phong thủy của Chương Trọng Sơn thuộc Huyền Không Phi Tinh, còn ông vốn chưa có nền móng, tự học quả thật gian nan. Dù vậy ông không nản, vẫn tiếp tục.

Con số năm ở trung cung và cánh cửa bỗng mở

Bí mật được cất giữ kỹ nhất thường nằm ở nơi người ta đi ngang qua mỗi ngày mà không để ý.

Một hôm, khi đọc sách Dịch lý đến đoạn nói về hình đồ Lạc Thư, trong phần giảng nguyên lý số năm đi vào trung cung, ông bỗng thông suốt. Ông hiểu ra rằng quỹ tích của tinh bàn Huyền Không Phi Tinh chính là do Lạc Thư mà ra. Sau đó ông đọc thêm rất nhiều sách giải thích Dịch học, và học thuật của Chương Trọng Sơn đối với ông không còn là điều huyền bí khó hiểu nữa. Ông mang cuốn “Trạch Đoán” ra chú giải lại.

Ông vốn luôn oán trách Tưởng Đại Hồng. Họ Tưởng được Vô Cực Tử chân truyền môn Huyền Không, nhưng vì chấp vào câu “thiên cơ bất khả tiết lậu” nên chỉ bí mật truyền cho vài đệ tử và cấm họ phổ biến bí quyết ra rộng. Chính vì lẽ đó mà sau khi tự mình tìm ra điều bí ẩn ấy, Thẩm Trúc Nhưng chọn cách viết thành sách và truyền bá rộng rãi sở học phong thủy của mình. Người theo học ông khá đông. Trong số đệ tử có con trai ông là Tổ Miên (tự Điệt Dân), cùng Giang Chí Y và Hồ Bá An; họ đã góp sức chỉnh lý di cảo của ông thành bộ “Thẩm thị Huyền Không học”.

Hai mươi bốn phương vị thay cho tám phương

Một vòng la bàn chỉ có ba trăm sáu mươi độ, nhưng cách người ta cắt nó quyết định cả cách nhìn một ngôi nhà.

Phái Bát Trạch chỉ lấy tám phương vị làm chuẩn. Phái Huyền Không Phi Tinh thì tính tỉ mỉ hơn: mỗi phương vị chính được chia làm ba, cộng lại thành hai mươi bốn phương vị. Lấy đông bắc làm ví dụ, ta có ba phần: chính đông bắc; đông bắc nghiêng về hướng đông; và đông bắc nghiêng về hướng bắc. Các phương còn lại cũng tách theo cách ấy, tạo nên hai mươi bốn tọa và hai mươi bốn hướng.

Chẳng hạn một căn nhà tựa lưng vào hướng chính bắc, nhìn ra hướng chính nam; phái Huyền Không gọi đó là “tọa Tý hướng Ngọ”. Vì chia nhỏ như thế nên khi xác định tọa hướng, phái này phải dùng loại la bàn chi tiết hơn la bàn của phái Bát Trạch.

Xác định tọa hướng của nhà: vì sao quan trọng đến vậy

Cùng một mảnh đất, chỉ lệch đi một nấc trên mặt la bàn, bản đồ sao đã đổi hẳn.

Khi xem phong thủy cho một căn nhà, ngoài việc khảo sát loan đầu, tức hoàn cảnh bên ngoài của nhà, phái Huyền Không cũng như phái Bát Trạch còn xét sự suy vượng của khí nơi chính căn nhà ấy để định tốt xấu. Vì vậy việc định tọa hướng cực kỳ hệ trọng: tọa hướng khác nhau sẽ cho ra tinh bàn khác nhau.

Với dương trạch, như văn phòng công ty, nhà hàng, xưởng sản xuất hay nơi ở, phái Huyền Không suy tọa hướng gần giống phái Bát Trạch, thường theo bốn cách sau.

  • Nhiều đơn vị trong một tòa nhà lớn: tất cả đều lấy cửa của tòa nhà làm hướng. Ví dụ cửa chính của tòa nhà nhìn ra phương Mão (đông) thì cả tòa nhà tọa Dậu (tây), hướng Mão.
  • Tòa nhà lớn có nhiều cửa ra vào: lấy cửa chính của tòa nhà làm hướng.
  • Trung tâm thương mại, quảng trường và những nơi có nhiều cửa: chỉ lấy cửa chính của đơn vị quản lý làm hướng.
  • Cửa sổ nhìn ra một khoảng minh đường rộng: nếu ngoài cửa sổ là một khoảng không gian lớn như công viên, bãi đất trống, bãi đậu xe thì lấy cửa sổ làm hướng.

Thực ra, việc suy tọa hướng của dương trạch còn phải phối hợp nhiều mặt của hoàn cảnh xung quanh, tức là phần loan đầu, và điều này sẽ còn được bàn kỹ hơn nữa.

Ví dụ thứ nhất là một tòa nhà cao tầng lớn, trường hợp lấy cửa chính làm hướng. Người ta đặt la bàn ngay trước cửa, kéo sợi chỉ đỏ về phía trước rồi đọc số trên la bàn. Giả sử sợi chỉ đỏ chạm phương Tý (bắc), còn hướng phía sau là Ngọ (nam), thì tòa nhà ấy tọa Ngọ hướng Tý. Biết vậy rồi, muốn rõ phong thủy tòa nhà ra sao, phải lập tinh bàn tọa Ngọ hướng Tý theo lối Huyền Không Phi Tinh.

Ví dụ thứ hai là một quảng trường có tổng cộng ba cửa lớn. Dãy cửa hàng A trong quảng trường tự lấy cửa chính của riêng mình làm hướng, và đó là tọa Canh hướng Giáp.

Đặt la bàn vào chỗ ngồi để tìm phương vị của cửa, bếp, giường

Mỗi vật dụng trong nhà có một địa chỉ riêng trên bản đồ sao, và người ta tìm địa chỉ ấy bằng một cái la bàn nhỏ.

Ngoài việc đo tọa hướng, la bàn còn dùng để tìm phương vị của điểm lập cực. Chẳng hạn muốn biết cửa phòng của chủ nhân ở phương nào, chỉ cần đặt la bàn ngay chỗ chủ nhân ngồi, rồi nhìn xem cửa nằm ở góc nào; trong ví dụ đang nói, cửa phòng nằm ở phương Đinh. Khi ấy đối chiếu với các sao trên tinh bàn là có thể biết cánh cửa này có làm vượng tài không, hoặc nó sẽ dẫn tới chuyện gì.

Với một căn nhà tọa Bính hướng Nhâm, cách tìm phương vị trong nhà cũng làm tương tự: cửa chính mở về hướng bắc, nhà bếp nằm ở phương tây bắc, phòng vệ sinh ở phương tây, giường thứ nhất ở phương nam, giường thứ hai ở phương đông nam, và cứ thế với những nơi còn lại.

Hướng nhà hay hướng cửa: lấy cái nào làm chuẩn

Một ngôi nhà có thể có hai gương mặt, và hai gương mặt ấy đôi khi nói hai điều khác nhau.

Phái Huyền Không tính vận khí rất tỉ mỉ, nên với cả âm trạch lẫn dương trạch, tọa hướng đều là việc trọng yếu. Âm trạch tương đối dễ định tọa hướng: cứ căn vào mặt bia, tức mặt có khắc chữ. Nếu không có bia thì lấy cỗ quan tài làm chuẩn, đầu nào có núi dựa là tọa, đầu còn lại là hướng. Dương trạch thời xưa thì phần lớn người ta lấy cửa lớn làm hướng. Sách “Dương Trạch Tam Thập Tắc” viết:

Hướng nhà, hướng cửa: hễ nhà mới xây thì hướng nhà và hướng cửa đều quan trọng như nhau. Trước hết phải căn cứ sáu hạng mục bên ngoài hướng nhà mà đoán chuyện được mất; nếu không nghiệm mới xét tới hướng cửa. Nếu đoán theo hướng nhà mà ứng nghiệm thì khỏi cần xem hướng cửa. Ngược lại, nếu hướng cửa ứng nghiệm thì không cần tra xét hướng nhà.

Đoạn này cho thấy dương trạch có hai thứ hướng, “hướng nhà” và “hướng cửa”. Có những căn nhà hai hướng trùng nhau, ví dụ cả hai đều là tọa Tân hướng Ất, nên hai tinh bàn lập ra cũng y hệt nhau. Nhưng có lúc hai hướng lệch nhau: hướng nhà là tọa Tân hướng Ất mà hướng cửa lại là tọa Quý hướng Đinh. Gặp vậy dùng tinh bàn nào cho đúng?

Theo lời dặn trên, trước hết cứ lập tinh bàn theo hướng nhà để suy xem nhà đã xảy ra những chuyện gì. Nếu suy ra đúng thực tế thì lấy hướng nhà làm chính. Còn nếu tinh bàn hướng nhà suy ra mà không ứng nghiệm, thì lập thêm tinh bàn hướng cửa để đối chiếu; nếu hướng cửa khớp với chuyện thực tế thì lấy hướng cửa làm chính.

Lấy một ngôi nhà vận 7 làm ví dụ, hướng nhà là tọa Tốn hướng Kiền, còn hướng cửa là tọa Cấn hướng Khôn. Căn nhà có ba đặc điểm: phương Tốn (đông nam) có núi, phương Kiền (tây bắc) có sông, phương Đoài (tây) có cổng lớn.

  • Theo tinh bàn của hướng nhà: phương Tốn có ba sao Ngũ, Lục, Thất, trong đó Ngũ Hoàng là sao sơn bàn. Gặp núi tức là phạm vào núi thuộc tử khí, chủ người nhà bệnh hoạn, hao người; lại còn phạm cuộc “long thần của thủy bao bọc thướng sơn”, nên tài vận chắc chắn sa sút.
  • Theo tinh bàn của hướng cửa: phương Tốn có ba sao Tam, Nhị, Lục, phạm đấu ngưu sát, chủ tai họa kiện tụng. Cổng mở ở phương tây, mà theo tinh bàn hướng cửa phương ấy bay tới sao Lục Bạch, nên chủ thoái tài. Sông ở phương Kiền là sát thủy, phạm vào thì ngoài thoái tài còn hao người và có tai họa đổ máu.

Đem so hai tinh bàn, nếu trong nhà từng có người chết thì lấy hướng cửa làm chuẩn; nếu không có chuyện ấy thì lấy hướng nhà làm chuẩn.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia