Bài tổng quan
Hà Đồ, Lạc Thư, bát quái và mười can mười hai chi
Một con ngựa thần trồi lên từ sông Hoàng Hà, một con rùa thần từ sông Lạc, mỗi con mang trên lưng một bảng chấm đen chấm trắng. Từ hai bảng chấm ấy, người xưa dựng nên cả cách gọi phương hướng, mùa màng và ngũ hành. Nhưng mười chữ can và mười hai chữ chi còn giữ trong mình những hình ảnh đẹp hơn thế…
Mục lục · 9 phần
- 01Hà Đồ: con ngựa thần trên sông Hoàng Hà
- 02Lạc Thư: con rùa thần và chín ngôi sao
- 03Tiên thiên và hậu thiên bát quái
- 04Thiên can và tính chất của mười can
- 05Địa chi và tính chất của mười hai chi
- 06Vì sao mộc là xuân, kim là thu
- 07Dương mạnh, âm yếu: mười can chi như mười hình ảnh
- 08Ngũ hành tương sinh, tương khắc và tên gọi lục thân
- 09Bát quái mang theo người, mang theo phương
Hà Đồ: con ngựa thần trên sông Hoàng Hà
Theo truyền thuyết, thời cổ có một con thần mã hiện lên ở sông Hoàng Hà, trên lưng mang một đồ hình kèm khẩu quyết, nên người đời sau gọi đồ hình ấy là “Hà Đồ”. Khẩu quyết của Hà Đồ như sau:
Nhất lục công tông, vi thủy cư bắc; nhị thất đồng đạo, vi hỏa cư nam; tam bát vi bằng, vi mộc cư đông; tứ cửu tác hữu, vi kim cư tây; ngũ thập cư trung, vi thổ cư trung.
Nghĩa là số một và số sáu cùng tông, là thủy ở phương bắc; số hai và số bảy cùng đạo, là hỏa ở phương nam; số ba và số tám là bạn bè, là mộc ở phương đông; số bốn và số chín là bạn hữu, là kim ở phương tây; số năm và số mười ở giữa, là thổ ở trung ương. Các số một, ba, năm, bảy, chín thuộc dương, được ký hiệu bằng những chấm trắng; các số hai, bốn, sáu, tám, mười thuộc âm, ký hiệu bằng những chấm đen.
Lạc Thư: con rùa thần và chín ngôi sao
Từ một tấm mai rùa, người xưa đọc ra chín con số, và mỗi con số về sau được gắn thêm một tên sao, một màu sắc.
Truyền rằng ở sông Lạc có con rùa thần hiện lên, trên mai có hình cửu tinh; về sau người ta thấy đồ hình này có nhiều diệu dụng. Khẩu quyết của Lạc Thư:
Đới cửu lý nhất, tả tam hữu thất, nhị tứ vi kiên, lục bát vi túc, ngũ cư trung ương.
Tạm hiểu: trên đội số chín, dưới đạp số một; bên trái số ba, bên phải số bảy; hai vai là số hai và số bốn; hai chân là số sáu và số tám; số năm ở giữa. Một, ba, năm, bảy, chín thuộc dương, ký hiệu bằng chấm trắng; hai, bốn, sáu, tám thuộc âm, ký hiệu bằng chấm đen.
Thật ra chín sao này mỗi sao có một màu riêng. Theo quan niệm của phái Huyền Không:
- Sao Nhất Bạch ở phương bắc, còn tên Tham Lang.
- Sao Nhị Hắc ở tây nam, còn tên Cự Môn.
- Sao Tam Bích ở phương đông, còn tên Lộc Tồn.
- Sao Tứ Lục ở đông nam, còn tên Văn Khúc.
- Sao Ngũ Hoàng ở giữa, còn tên Liêm Trinh.
- Sao Lục Bạch ở tây bắc, còn tên Vũ Khúc.
- Sao Thất Xích ở phương tây, còn tên Phá Quân.
- Sao Bát Bạch ở đông bắc, còn tên Tả Phù.
- Sao Cửu Tử ở phương nam, còn tên Hữu Bật.
Còn phái Bát Trạch gán cho các vị trí ấy những tên khác: sao Nhất ở bắc là Sinh Khí; sao Nhị ở tây nam là Thiên Y; sao Tam ở đông là Họa Hại; sao Tứ ở đông nam là Lục Sát; sao Lục ở tây bắc là Ngũ Quỷ; sao Thất ở tây là Diên Niên; sao Bát ở đông bắc là Tuyệt Mệnh; sao Cửu ở nam là Phục Vị.
Tiên thiên và hậu thiên bát quái
Theo truyền thuyết, tiên thiên bát quái do Phục Hy vẽ nên nên còn gọi Phục Hy bát quái. Hậu thiên bát quái do Văn Vương chế ra nên còn gọi Văn Vương bát quái, bày như sau: Chấn ở phương đông, hành mộc; Tốn ở đông nam, hành mộc; Ly ở phương nam, hành hỏa; Khôn ở tây nam, hành thổ; Đoài ở phương tây, hành kim; Kiền ở tây bắc, hành kim; Khảm ở phương bắc, hành thủy; Cấn ở đông bắc, hành thổ. Trong Phong Thủy, cách phân bố phương vị của hậu thiên bát quái gọi là “địa bàn”.
Thiên can và tính chất của mười can
Mười can và mười hai chi không chỉ đếm năm tháng ngày giờ; chúng còn là một tấm bản đồ nhỏ của phương hướng, mùa và ngũ hành.
Thiên can gồm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Người Trung Hoa cổ dùng thiên can (còn gọi thập can) phối với địa chi (thập nhị địa chi) để tính năm, tháng, ngày, giờ. Trong Phong Thủy, thiên can còn đại diện cho phương vị, tiết khí bốn mùa và ngũ hành.
- Ngũ hành của can: Giáp, Ất thuộc mộc, ở phương đông, chủ mùa xuân; Bính, Đinh thuộc hỏa, ở phương nam, chủ mùa hạ; Mậu, Kỷ thuộc thổ, ở trung ương, chủ các tháng ba, sáu, chín, mười hai; Canh, Tân thuộc kim, ở phương tây, chủ mùa thu; Nhâm, Quý thuộc thủy, ở phương bắc, chủ mùa đông. Giáp là dương mộc, Ất âm mộc; Bính dương hỏa, Đinh âm hỏa; Mậu dương thổ, Kỷ âm thổ; Canh dương kim, Tân âm kim; Nhâm dương thủy, Quý âm thủy.
- Can hợp: Giáp Kỷ hợp hóa thổ; Ất Canh hợp hóa kim; Bính Tân hợp hóa thủy; Đinh Nhâm hợp hóa mộc; Mậu Quý hợp hóa hỏa.
- Can xung: Giáp Canh xung, Ất Tân xung, Bính Nhâm xung, Đinh Quý xung.
Địa chi và tính chất của mười hai chi
Địa chi gồm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, cũng đại diện cho phương vị, mùa và ngũ hành. Dần, Mão thuộc mộc, chủ mùa xuân, Mão ở chính đông, Dần ở đông bắc. Tỵ, Ngọ thuộc hỏa, chủ mùa hạ, Ngọ ở chính nam, Tỵ ở đông nam. Thìn, Mùi, Tuất, Sửu thuộc thổ, chủ các tháng ba, sáu, chín, mười hai, đều ở trung ương. Thân, Dậu thuộc kim, chủ mùa thu, Dậu ở chính tây, Thân ở tây nam. Hợi, Tý thuộc thủy, chủ mùa đông, Tý ở chính bắc, Hợi ở tây bắc.
- Ngũ hành âm dương của chi: Tý âm thủy; Sửu âm thổ; Dần dương mộc; Mão âm mộc; Thìn dương thổ; Tỵ dương hỏa; Ngọ âm hỏa; Mùi âm thổ; Thân dương kim; Dậu âm kim; Tuất dương thổ; Hợi dương thủy. Âm dương ở đây theo nguyên tắc số lẻ là dương, số chẵn là âm (Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là dương; Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi là âm), không phải âm dương tính theo ngũ hành; hai điều này khác nhau.
- Lục hợp: Tý Sửu hợp hóa thổ; Dần Hợi hợp hóa mộc; Mão Tuất hợp hóa hỏa; Thìn Dậu hợp hóa kim; Tỵ Thân hợp hóa thủy; Ngọ Mùi hợp hóa hỏa.
- Lục xung: Tý Ngọ, Sửu Mùi, Dần Thân, Mão Dậu, Thìn Tuất, Tỵ Hợi xung nhau.
- Tam hợp: Thân Tý Thìn hợp thủy cuộc; Tỵ Dậu Sửu hợp kim cuộc; Dần Ngọ Tuất hợp hỏa cuộc; Hợi Mão Mùi hợp mộc cuộc.
Vì sao mộc là xuân, kim là thu
Mỗi hành đều có một mùa của mình, và lý do thì chỉ cần nhìn ra ngoài cửa sổ.
Giáp, Ất và Dần, Mão thuộc mộc; mùa xuân là lúc cây cối sinh trưởng nên mộc chủ xuân. Bính, Đinh và Tỵ, Ngọ thuộc hỏa; mùa hạ khí trời nóng bức nên hỏa chủ hạ. Mậu, Kỷ và Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc thổ, chủ các tháng ba, sáu, chín, mười hai, những tháng cuối mùa khi ngũ hành đã bắt đầu suy yếu, ý nói thổ thu liễm. Canh, Tân và Thân, Dậu thuộc kim; mùa thu cây cối tiêu điều, khí kim tiêu sát làm lá rụng nên kim chủ thu. Nhâm, Quý và Hợi, Tý thuộc thủy; mùa đông khí trời lạnh lẽo nên thủy chủ đông.
Trong phạm vi lịch, địa chi còn đại biểu cho các tháng: Dần là tháng giêng, Mão tháng hai, Thìn tháng ba, Tỵ tháng tư, Ngọ tháng năm, Mùi tháng sáu, Thân tháng bảy, Dậu tháng tám, Tuất tháng chín, Hợi tháng mười, Tý tháng mười một, Sửu tháng mười hai. Tý là chi mở đầu nhưng trong lịch lại không đại biểu tháng giêng mà là tháng mười một: vì Hợi, Tý thuộc thủy, đại biểu mùa đông nên chủ tháng mười và mười một, còn Dần, Mão thuộc mộc, đại biểu mùa xuân nên chủ tháng giêng và hai.
Dương mạnh, âm yếu: mười can chi như mười hình ảnh
Ngoài ngũ hành, can chi còn chia âm dương: dương tượng trưng sự mạnh mẽ, âm tượng trưng sự suy yếu. Cổ nhân đưa ra những hình ảnh sau.
- Giáp mộc và Dần mộc là dương mộc, như cây lớn mạnh mẽ, ví là mộc của tùng bách. Ất mộc và Mão mộc thuộc âm, như cây còn non, ví là mộc của cỏ hoa.
- Bính hỏa và Tỵ hỏa thuộc dương, sức nóng ảnh hưởng toàn địa cầu, ví là hỏa của mặt trời. Đinh hỏa và Ngọ hỏa thuộc âm, sức nóng chỉ ảnh hưởng một phần nhỏ không gian, ví là hỏa của lò lửa.
- Mậu thổ, Thìn thổ, Tuất thổ thuộc dương, chất khô ráo, ví là đất trên núi cao, thứ đất đá dùng được trong xây dựng. Kỷ thổ, Sửu thổ, Mùi thổ thuộc âm, là đất ẩm thấp, ví là đất ruộng vườn, chất bùn nhão.
- Canh kim và Thân kim thuộc dương, cứng bén, ví là kim của đao kiếm, nói theo hiện đại là các kim loại cứng. Tân kim và Dậu kim thuộc âm, mềm dẻo, ví là kim loại quý chế đồ trang sức; như vàng hai mươi bốn cara dẻo dễ đổi dạng nên người ta pha thành vàng mười tám cara để làm trang sức, vì độ vàng ròng thấp hơn nên độ cứng cao hơn.
- Nhâm thủy và Hợi thủy thuộc dương, ví là thủy của sông nước, dập được lửa. Quý thủy và Tý thủy thuộc âm, ví là thủy của mưa móc, nuôi dưỡng cây cỏ.
Ngũ hành tương sinh, tương khắc và tên gọi lục thân
Tương sinh: kim sinh thủy, thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim. Tương khắc: kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim. Theo quan hệ sinh khắc, người ta gọi tên theo lục thân: cái sinh ta là phụ mẫu; ta sinh là tử tôn; khắc ta là quan quỷ; ta khắc là thê tài; giống ta là huynh đệ.
Bát quái mang theo người, mang theo phương
Tám quẻ không chỉ chỉ hướng; chúng còn là tám nhân vật ngồi quanh một mái nhà.
Phái Bát Trạch là một hệ phái Lý Khí khá thịnh hành ở nhiều nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Ngoài việc dựa vào hình thế bên ngoài như Loan Đầu, người theo phái này còn kết hợp Bát quái để luận Phong Thủy căn nhà, đoán bản trạch cát hay hung.
Bát quái bao hàm nhiều ý nghĩa tượng trưng, trong Phong Thủy được dùng rộng rãi nhất để đại biểu phương hướng và vị trí, thường phối với hậu thiên bát quái. Khi thầy nói căn nhà thuộc phương Tốn Văn Xương vị, theo cách nói thường tức là nhà thuộc hướng đông nam, vị trí của sao Văn Xương. Ngoài ra Bát quái còn đại biểu nhiều đặc tính và sự vật, thường dùng nhất là các loại nhân vật:
- Quẻ Kiền: người cha, hoặc người đàn ông từ bốn mươi sáu tuổi trở lên.
- Quẻ Khôn: người mẹ, hoặc người phụ nữ từ bốn mươi sáu tuổi trở lên.
- Quẻ Chấn: con trai trưởng, hoặc người đàn ông từ ba mươi mốt đến bốn mươi lăm tuổi.
- Quẻ Tốn: con gái lớn, hoặc người phụ nữ từ ba mươi mốt đến bốn mươi lăm tuổi.
- Quẻ Khảm: con trai thứ hai, hoặc nam từ mười sáu đến ba mươi tuổi.
- Quẻ Ly: con gái thứ hai, hoặc nữ từ mười sáu đến ba mươi tuổi.
- Quẻ Cấn: con trai thứ ba, hoặc nam từ một đến mười lăm tuổi.
- Quẻ Đoài: con gái thứ ba, hoặc nữ từ một đến mười lăm tuổi.
Khi dùng Bát quái để vừa chỉ phương vừa chỉ người, cần căn cứ thực tế để suy đoán. Thí dụ căn nhà bị khuyết ở vị trí quẻ Tốn, tra ra là hướng đông nam; Tốn thuộc trưởng nữ, nên căn nhà bất lợi cho con gái lớn hoặc người phụ nữ ba mươi mốt đến bốn mươi lăm tuổi, những người này dễ nhiều bệnh. Cách hóa giải: trồng một hàng cây cảnh hoặc để một chậu kiểng lớn ở chỗ khuyết. Nếu phương Kiền của nhà có đường đâm thẳng vào, hoặc phạm sát khí như thiên trảm sát, ánh đèn trụ điện chiếu thẳng vào (nhà cao tầng thì không bị ảnh hưởng), thì bất lợi cho người cha hoặc đàn ông từ bốn mươi sáu tuổi trở lên. Nếu hướng tây bắc bị góc nhọn bắn thẳng vào thì bất lợi cho nam chủ nhân hoặc đàn ông ở độ tuổi ấy; hóa giải bằng cách treo một tấm gương lồi hoặc phẳng, không treo gương lõm.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
