Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Cách xếp thiên bàn, sơn bàn, hướng bàn và điềm lành của chín sao

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202613 phút đọc0 lượt đọc
Cách xếp thiên bàn, sơn bàn, hướng bàn và điềm lành của chín sao

Chín ô, mỗi ô ba ngôi sao: một sao nói về thời gian, một sao nói về núi sau lưng, một sao nói về mặt tiền. Xếp xong, ngôi nhà tốt hay xấu hiện ra ngay trước mắt. Nhưng điều gì xảy ra khi ngôi sao cần xếp lại chính là sao Ngũ, ngôi sao vốn ngồi ở giữa…


Thiên bàn: ba ngôi sao trong mỗi ô của chín cung

Trong tinh bàn chín cung của Huyền Không, mỗi ô chứa ba ngôi sao. Một sao nằm ở giữa, ở hàng dưới; hai sao còn lại nằm ở hàng trên, một bên trái, một bên phải. Lấy ô góc phải phía trên, tức cung tây nam, làm ví dụ: sao Tứ ở dưới là “thiên tinh”, còn gọi là “vận tinh” hay “thiên bàn”. Sao Bát ở phía trên bên phải là “hướng tinh”, hay “hướng bàn”. Sao Lục ở phía trên bên trái là “sơn tinh”, hay “sơn bàn”. Tám ô còn lại cũng bố trí ba sao theo đúng cách ấy.

Vì sao thiên bàn còn được gọi là vận bàn? Vì nếu đang ở vận 6 thì người ta đưa sao Lục vào trung cung rồi cho các sao kế tiếp bay thuận vào những cung còn lại; ở vận 7 thì đưa sao Thất vào trung cung rồi cũng bay thuận; các vận khác cứ theo đó mà suy. Nhờ thế chỉ cần nhìn sao nằm giữa là biết căn nhà, căn mộ thuộc nguyên vận nào, nên mới gọi là “vận bàn”.

Giả sử một gia đình dọn vào ở năm 1995 (năm Ất Hợi). Khi xem phong thủy tất nhiên phải dùng tinh bàn vận 7, vì từ tiết lập xuân năm Giáp Tý 1984 cho đến năm 2003 đều thuộc vận 7. Trong phong thủy, người ta dùng tiết khí để tính thời gian, và ngày bắt đầu tiết lập xuân mới tính là sang năm mới. Khi đã chắc là vận 7, ta ghi số 7 vào hàng dưới của trung cung, rồi bay thuận theo lượng thiên xích: tây bắc là 8, tây là 9, đông bắc là 1, nam là 2, bắc là 3, tây nam là 4, đông là 5, đông nam là 6.

Hướng bàn: lấy sao ở đầu hướng, rồi xem quẻ để biết bay thuận hay nghịch

Cùng một ngôi sao, chỉ đổi cái nhìn về quẻ nó đang đứng, nó đã đi theo hướng ngược lại.

Sau khi xếp xong thiên bàn thì đến lượt hướng bàn. Cách làm gồm hai bước:

  1. Lấy sao thiên bàn nằm ở đầu hướng, đặt vào vị trí phía trên bên phải của trung cung. (Một số người thích đặt ở phía trên bên trái, vì cho rằng bên trái là dương, bên phải là âm; hướng tinh thuộc dương nên đặt bên trái, sơn tinh thuộc âm nên đặt bên phải. Nhưng cũng có phái chủ trương âm dương phải phối nhau, nghĩa là hướng tinh là dương thì phối với bên phải là âm, sơn tinh là âm thì phối với bên trái là dương. Ở đây theo phái âm dương tương phối, cũng là cách thịnh hành nhất.)
  2. Xem quẻ tam nguyên đại quái âm hay dương của sao đầu hướng ấy: nếu là âm thì bay nghịch, nếu là dương thì bay thuận.

Lấy ví dụ nhà vận 7, tọa Tý hướng Ngọ. Sao thiên bàn ở đầu hướng là Nhị, nên ta đặt sao Nhị vào phía trên bên phải của trung cung. Tọa Tý hướng Ngọ thuộc thiên nguyên quái. Trong Lạc Thư, sao Nhị ở phương tây nam gồm Mùi, Khôn, Thân; trong đó Khôn thuộc thiên nguyên quái. Căn cứ khẩu quyết trong Thanh Nang áo ngữ:

Phiên thiên đảo địa đối bất đồng, kỳ trung bí mật tại Huyền Không.

(thiên và địa ở đây là thiên bàn và địa bàn), người ta xem địa bàn thuộc quẻ nào rồi dùng quẻ âm hay dương của thiên bàn để đại diện cho nó. Ở đây Khôn là thiên nguyên dương quái, nên sao Nhị bay thuận theo lượng thiên xích.

Sơn bàn: cùng một lối, nhưng bắt đầu từ phương tọa

Hướng bàn nhìn ra phía trước, sơn bàn nhìn về phía lưng nhà; hai bàn dùng chung một khẩu quyết.

Công thức xếp sơn bàn tương tự hướng bàn, cũng dùng khẩu quyết trong Thanh Nang áo ngữ. Các bước:

  1. Lấy sao thiên bàn nằm ở phương tọa, đặt vào vị trí phía trên bên trái của trung cung.
  2. Xem tam nguyên đại quái âm dương của sao thiên bàn ở phương tọa: gặp âm thì bay nghịch, gặp dương thì bay thuận.

Cũng với nhà vận 7 tọa Tý hướng Ngọ: sao thiên bàn ở phương tọa là Tam, nên đặt sao Tam vào phía trên bên trái của trung cung. Tọa Tý hướng Ngọ thuộc thiên nguyên quái. Trong Lạc Thư, sao Tam ở phương đông gồm Giáp, Mão, Ất; Mão thuộc thiên nguyên quái. Theo khẩu quyết trên, địa bàn thuộc quẻ nào thì dùng quẻ âm hay dương của thiên bàn đại diện, mà Mão là thiên nguyên âm quái, nên sao Tam bay nghịch theo lượng thiên xích.

Khi thiên bàn là sao Ngũ thì xử lý thế nào

Ngôi sao Ngũ không có sẵn một quẻ riêng để dựa vào, nên phải mượn hai can của trung cung.

Làm theo cách trên để xếp chính quái bàn, nhưng nếu sao thiên bàn rơi đúng vào sao Ngũ thì sao? Nguyên vận vốn ở trung cung, mà trung cung là Mậu Kỷ, nên sao Ngũ thuộc Mậu Kỷ; Mậu là dương, Kỷ là âm. Âm dương của sao Ngũ trong tam nguyên cửu vận như sau:

Nguyên vậnĐịa nguyên quáiThiên nguyên quáiNhân nguyên quái
Vận 1MậuKỷKỷ
Vận 2KỷMậuMậu
Vận 3MậuKỷKỷ
Vận 4KỷMậuMậu
Vận 6KỷMậuMậu
Vận 7MậuKỷKỷ
Vận 8KỷMậuMậu
Vận 9MậuKỷKỷ

Vậy sao Ngũ của các vận 1, 3, 7, 9 thuộc Mậu, Kỷ, Kỷ; còn sao Ngũ của các vận 2, 4, 6, 8 thuộc Kỷ, Mậu, Mậu. Riêng vận 5 thì sao Ngũ nằm ngay ở trung cung, không xuất hiện trong tám phương, nên không cần bàn âm dương của nó.

Xin lấy một ví dụ: một gia đình dọn tới ngôi nhà vận 7, tọa Dậu hướng Mão. Nhà này thuộc thiên nguyên quái, mà sao Ngũ thiên bàn ở vận 7 thuộc Mậu, Kỷ, Kỷ, nghĩa là Mậu thuộc địa nguyên quái, Kỷ kế đó thuộc thiên nguyên quái, và Kỷ thứ ba thuộc nhân nguyên quái. Hướng Mão là thiên nguyên quái, mà thiên nguyên quái của sao Ngũ vận 7 là Kỷ, và Kỷ là âm. Cho nên sao Ngũ được đặt vào giữa và bay nghịch.

Chín sao đương lệnh và những điềm lành họ mang lại

Mỗi ngôi sao khi nắm quyền đều mang một gương mặt riêng: có sao hợp chữ nghĩa, có sao hợp binh quyền, có sao hợp ruộng đất.

Theo lý thuyết Huyền Không, chín sao Tử Bạch mỗi sao có đặc tính tốt xấu riêng. Các nhà phong thủy phái này cho rằng nếu cách cuộc của nhà hay mộ rơi vào những trường hợp được kể ra thì ít ra ứng nghiệm một việc, nhiều thì ứng nghiệm nhiều việc.

Cần hiểu hai thuật ngữ: “đáo cung” là sao ấy bay tới cung nào đó; còn “đồng cung” là sao sơn bàn và sao hướng bàn cùng nằm trong một cung. Ví dụ nhà vận 7 tọa Tý hướng Ngọ, ở phương Tốn có sao hướng bàn là Nhất Bạch và sao sơn bàn là Tứ, gọi là Nhất Tứ đồng cung. Mỗi tổ hợp lại xét thêm có sơn hay có thủy, tức có núi tốt hay có nước đẹp ở phương ấy.

Nhất Bạch đương lệnh

Chủ về sinh thần đồng, người tài hoa, có tài văn chương, làm văn thần, nhân đinh và tài lộc đều vượng. Nhất đáo cung Khảm hoặc song Nhất đồng cung là rất tốt. Nhất đáo cung Tốn, hoặc Nhất Tứ đồng cung, thì nhà phát văn tài. Nhất Lục đồng cung mà có thủy không có sơn thì phát tài lộc, sống thọ, gặp thổ sinh kim càng thuận; Nhất Thất đồng cung cũng như vậy. Nhất Lục đồng cung mà sơn tốt thủy đẹp thì sinh người văn võ song toàn. Nhất Bát đồng cung mà sơn tốt thủy đẹp thì xuất văn tài; còn nếu lệnh tinh của sơn bị phá vụn hoặc thấp bé thì chủ đẻ non hoặc sẩy thai, và nếu lệnh tinh của hướng cao vút thì chủ tai điếc.

Nhị Hắc đương lệnh

Chủ vượng nhà cửa ruộng vườn, con cháu đông đúc, quý hiển về võ, nhiều mưu mô, nuôi bò có lợi, và đặc biệt phát đối với người có nhiều nốt ruồi. Nhị đáo cung Khôn, Cấn, hoặc song Nhị đồng cung thì rất tốt. Các cặp Nhất Nhị, Tam Nhị, Bát Nhị đồng cung, nếu có sơn thì đều chủ chưa cưới đã có con. Phái Huyền Không xem các cặp Nhất Cửu, Nhị Lục, Tam Tứ, Thất Bát là chính phối; còn Nhất Nhị, Tam Nhị, Bát Nhị không phải chính phối, nên khi có sơn đương lệnh chủ vượng người thì mới ứng như vậy. Lục Nhị đồng cung nếu có sơn thì sau khi cưới có con. Nhị Ngũ hoặc Nhị Bát đồng cung, nếu có thủy mà không có sơn thì phát ruộng vườn. Ngũ Nhị đồng cung nếu có sơn mà không có thủy thì vượng người. Nhị Cửu đồng cung nếu có thủy thì phát tài lộc; Cửu Nhị đồng cung nếu có sơn thì vượng người.

Tam Bích đương lệnh

Chủ sự nghiệp hưng vượng, công danh phú quý, phòng trưởng đặc biệt phát. Tam đáo cung Chấn hoặc song Tam đồng cung là rất tốt. Tam Thất đồng cung có thủy không có sơn, hay Thất Tam đồng cung có sơn không có thủy, đều chủ văn võ toàn quyền. Bát Tam đồng cung có sơn không có thủy thì xuất văn tài, con cháu đông.

Tứ Lục đương lệnh

Chủ xuất văn tài, thành công danh, nhân đinh và tài lộc đều vượng, được vợ hiền, sinh con gái đẹp và giỏi văn nghệ, nuôi gà có lợi; con gái trưởng tóc thưa trán rộng, mắt có nhiều tròng trắng thì rất phát. Tứ đáo cung Tốn hoặc song Tứ đồng cung rất tốt, phát văn tài và nhiều tài lộc. Tứ Nhất đồng cung có thủy không có sơn thì phát quý hiển về văn nghiệp; Tứ đáo cung Khảm cũng vậy. Nhất Tứ đồng cung có sơn không có thủy thì vợ thứ sinh con trai, phát quý hiển về văn nghiệp; Nhất Tứ không phải chính phối, nhưng có sơn đương lệnh chủ vượng người nên ứng như thế. Tứ Tam đồng cung có thủy thì quý hiển; Tam Tứ đồng cung có sơn cũng phát quý hiển, cả hai trường hợp đều được con ngoan. Tứ Lục hoặc Lục Tứ đồng cung mà sơn tốt thủy đẹp thì xuất văn võ toàn tài, đời sau vợ thứ sinh quý tử; Lục Tứ không phải chính phối nhưng có sơn đương lệnh chủ vượng người nên mới ứng. Bát Tứ đồng cung có sơn không có thủy thì có văn tài sống lâu, vợ thứ sinh quý tử. Cửu Tứ đồng cung có sơn không có thủy thì sinh người tài giỏi.

Ngũ Hoàng đương lệnh

Chủ tài lộc và nhân đinh đều vượng, phú quý song toàn.

Lục Bạch đương lệnh

Chủ giàu có và nhiều con cháu, quý hiển, nắm quyền hành về võ nghiệp; người mũi lớn thì rất phát. Lục đáo cung Kiền hoặc song Lục đồng cung rất tốt, chủ tay nắm binh quyền. Lục Nhị đồng cung có thủy không có sơn thì phát tài lộc. Nhị Lục đồng cung có sơn không có thủy thì phát người. Lục Tứ hoặc Tứ Lục đồng cung có núi đẹp nước tú thì xuất văn võ song toàn. Lục Ngũ đồng cung có thủy thì phát tài lộc; Ngũ Lục đồng cung có sơn thì vượng người. Lục Thất đồng cung, hoặc Lục đáo cung Đoài, chủ nắm binh quyền. Lục Bát hoặc Bát Lục đồng cung mà sơn tốt thủy đẹp thì xuất văn võ toàn tài; Lục đáo cung Cấn cũng vậy.

Thất Xích đương lệnh

Chủ tài và đinh đều vượng, xuất người quý hiển về võ nghiệp, nuôi dê có lợi; người con gái thứ ba mặt trắng thì rất phát. Nhất Thất đồng cung có sơn không có thủy thì vợ thứ sinh con trai. Thất Nhị đồng cung có thủy không có sơn thì phát tài lộc. Nhị Thất đồng cung có sơn không có thủy thì vượng người. Thất Tam đồng cung có thủy không có sơn thì nắm binh quyền; Tam Thất đồng cung có sơn không có thủy cũng vậy, đều chủ vợ thứ sinh con trai. Thất Ngũ đồng cung có thủy thì phát tài; Ngũ Thất đồng cung có sơn thì vượng người. Lục Thất đồng cung, hoặc Thất đáo cung Kiền, chủ nắm binh quyền hoặc nổi tiếng về hình pháp. Bát Thất đồng cung có sơn thì vợ chính sinh quý tử và phát danh lợi. Thất đáo cung Cấn mà có thủy thì phát tài lộc, có sơn thì vượng người. Thất sa hoặc Thất thủy có hình dáng như cái hồ lô thì gia đình nổi tiếng về nghề y hoặc những ngành liên quan đến Đạo gia.

Bát Bạch đương lệnh

Chủ vượng nhà cửa ruộng đất, phát nhân đinh và tài lộc, sinh trung thần hiếu tử, phú quý sống thọ, rất nên tu Tiên học Phật, nuôi chó có lợi; người ở phòng thứ ba phát mạnh. Nhất Bát đồng cung mà có núi đẹp nước tú thì phát văn tài. Bát Nhị đồng cung có thủy không có sơn thì phát tài, gặp Cửu sinh thổ thì càng phát; Bát thủy đáo cung Khôn cũng vậy. Nhị Bát đồng cung có sơn không có thủy thì vượng người, gặp Cửu thì rất phát; Bát đáo cung Khôn cũng vậy. Bát Lục đồng cung thì thăng quan tiến chức. Song Bát đồng cung mà có sơn có thủy thì tài lộc nhân đinh đều vượng và phát quý hiển về văn nghiệp. Bát thủy đáo cung Cấn thì phát tài lộc, quý hiển văn nghiệp; Bát sơn đáo cung Cấn thì vượng người và quý hiển văn nghiệp. Bát Cửu đồng cung có thủy thì phát tài lộc, nhiều chuyện vui; Bát thủy đáo cung Ly cũng vậy. Cửu Bát đồng cung có sơn thì vượng người và quý hiển văn nghiệp; Bát sơn đáo cung Ly cũng vậy.

Cửu Tử đương lệnh

Chủ vượng nhân đinh và tài lộc, có văn tài, trung hiếu, quý hiển, sống lâu; người con gái giữa phát mạnh. Nhất Cửu đồng cung có sơn thì được con ngoan. Tam Cửu đồng cung có sơn không có thủy thì vợ thứ sinh người tài giỏi. Cửu Tam đồng cung có thủy không có sơn thì phát tài lộc; Cửu thủy đáo cung Chấn cũng vậy; còn Cửu sơn đáo cung Chấn thì nhiều con trai. Tứ Cửu đồng cung có sơn không có thủy thì sinh người tài giỏi. Cửu Tứ đồng cung có thủy không có sơn thì phát tài lộc. Lục Cửu đồng cung có sơn không có thủy thì quý hiển sống thọ, vợ thứ sinh con trai. Bát Cửu đồng cung có sơn cũng chủ vợ thứ sinh con trai. Nếu lệnh tinh của sơn bị nát vụn hay thấp bé, hoặc lệnh tinh của hướng cao vút, đều chủ tổn hại về mắt.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia