Bài tổng quan
Châu bảo tuyến và hỏa khanh tuyến: hai mặt của tọa hướng
Cùng là ngôi sao đương lệnh, rơi đúng vào lưng nhà thì giữ người, rơi đúng vào mặt tiền thì giữ của. Đặt nhầm chỗ thì nó đổi chiều và làm hao cả hai. Hai tuyến tọa hướng đối nghịch ấy mang những cái tên rất dễ nhớ…
Mục lục · 7 phần
- 01Tuyến độ của tọa hướng: có thể nâng người lên, cũng có thể kéo người xuống
- 02Lệnh tinh, long thần thủy và long thần sơn
- 03Châu bảo tuyến: vượng sơn và vượng hướng cùng đến
- 04Những tọa hướng châu bảo trong chín vận
- 05Hỏa khanh tuyến: lên sơn, xuống thủy
- 06Những tọa hướng hỏa khanh trong chín vận
- 07Căn nhà vận 7 tọa Canh hướng Giáp của ông Trần
Tuyến độ của tọa hướng: có thể nâng người lên, cũng có thể kéo người xuống
Trong phái Huyền Không, ngoài việc xem cát hung của loan đầu, các nhà phong thủy còn xem “tuyến độ”, thứ mà người ta thường gọi nôm na là tọa hướng. Dù là âm trạch hay dương trạch, họ tin rằng tuyến độ của tọa hướng có sức ảnh hưởng rất lớn lên vận khí con người.
“Thanh Nang Áo Ngữ” có nhắc tới việc tọa hướng ảnh hưởng khác nhau như thế nào: nhờ thay đổi nguyên vận và thay đổi âm dương, hai mươi bốn tọa hướng có thể đem lại cho người ta vận cực tốt, khiến tài vận và sự nghiệp đạt thành tựu thật lớn; nhưng cũng có thể đem lại những tai hại không ngờ, làm tài vận và sự nghiệp ngày càng tệ. Tuyến độ của tọa hướng cực tốt được gọi là “châu bảo tuyến”; tuyến độ của tọa hướng cực xấu được gọi là “hỏa khanh tuyến”. Thật ra, ngoài hai nhóm này còn có một nhóm tọa hướng khác, đưa vận khí con người ở mức bình ổn trung bình.
“Thanh Nang Tự” viết:
Thức đắc âm dương huyền diệu lý,
Tri kỳ suy vượng sinh dữ tử.
Bất vấn tọa sơn dữ thủy lai,
Đãn phùng tử khí giai vô thủ.
Ý của đoạn này là phong thủy phải lấy vượng bỏ suy thì mới xu cát tị hung được. Còn “châu bảo tuyến” chính là “lấy vượng bỏ suy, đón sinh mà tránh sát”. Vì vậy ngôi nhà được châu bảo tuyến không chỉ có lợi cho tài vận, sự nghiệp, mà còn thúc đẩy sự hưng vượng về người: như đang hiếm muộn mà sinh được con, hay nhà doanh nghiệp chiêu mộ được cộng sự giỏi. Nhưng châu bảo tuyến cần phù hợp với mấy nguyên tắc sau mới có tác dụng.
Lệnh tinh, long thần thủy và long thần sơn
Nước lo của cải, núi lo con người; hai thế lực ấy phải đứng đúng chỗ của mình.
Lệnh tinh
Lệnh tinh là sao đương vượng, còn gọi là đương lệnh: vận 1 thì sao Nhất Bạch là lệnh tinh; vận 2 là Nhị Hắc; vận 3 là Tam Bích; vận 4 là Tứ Lục; vận 5 là Ngũ Hoàng; vận 6 là Lục Bạch; vận 7 là Thất Xích; vận 8 là Bát Bạch; vận 9 là Cửu Tử. Trong cách cuộc châu bảo tuyến, lệnh tinh có quan hệ rất lớn.
Long thần thủy bao bọc đáo hướng
Đọc sách phong thủy ta thường gặp câu: thủy lo quản việc tài lộc, còn sơn lo quản việc người; nghĩa là nước cai quản tình hình tài vận và sự nghiệp của con người. “Long thần thủy bao bọc” là chỉ thủy thần đương vượng; nói long thần thủy bao bọc đương vượng đáo hướng tức là nói quan hệ giữa ngôi trạch với việc mang lại tài vận và sự nghiệp. Quan hệ này có hai dạng: với âm trạch thì liên quan đến con cháu của người được táng; với dương trạch thì liên quan đến người ở hoặc người làm việc trong căn nhà.
Cách này còn được gọi tắt là “vượng hướng”, “vượng tinh đáo hướng”, “lệnh tinh đáo hướng”, “thủy long đáo hướng”… Nếu hai loại trạch hợp cách “long thần thủy bao bọc đáo hướng” thì về tài vận và sự nghiệp sẽ đại phát, nên mới nói thủy cai quản tài lộc. Để hợp cách, sao hướng bàn tức lệnh tinh của đương vận phải được xếp ở đầu hướng. Ví dụ:
- Cung Khảm là đầu hướng, và lệnh tinh vận 7 là Thất Xích được xếp vào cung Khảm: đây là vượng hướng.
- Nhà tọa Thìn hướng Tuất, vận 7: cung Tuất là đầu hướng, sao hướng bàn của cung này là lệnh tinh Thất Xích, thuộc vượng hướng.
- Nhà tọa Sửu hướng Mùi, vận 7: cung Mùi là đầu hướng, sao hướng bàn của cung này là lệnh tinh Thất Xích, cũng thuộc vượng hướng.
Long thần sơn bao bọc đáo tọa
Núi cai quản người, tức tình hình sức khỏe và việc thêm bớt nhân khẩu trong nhà. Sao sơn bàn đương vận, tức lệnh tinh, được xếp ở phương tọa thì gọi là long thần sơn đáo tọa, gọi tắt là “vượng sơn”, “vượng tinh đáo sơn”, “lệnh tinh đáo sơn”, “sơn thần quy tọa”. Ví dụ:
- Nhà tọa Sửu hướng Mùi, vận 8: ở cung tọa sơn, sao sơn bàn là lệnh tinh Bát Bạch, tức vượng sơn.
- Nhà tọa Mão hướng Dậu, vận 7: cung Mão là tọa sơn, sao sơn bàn của cung này là lệnh tinh Thất Xích, tức vượng sơn.
- Nhà tọa Thìn hướng Tuất, vận 7: cung Thìn là tọa sơn, sao sơn bàn của cung này là lệnh tinh Thất Xích, tức vượng sơn.
Châu bảo tuyến: vượng sơn và vượng hướng cùng đến
Núi giữ người ở phía lưng, nước giữ tiền ở phía mặt; hai điều ấy cùng thành thì cả nhà đều có phúc.
Châu bảo tuyến do “long thần sơn bao bọc đáo tọa” và “long thần thủy bao bọc đáo hướng” hợp lại, gọi tắt là “vượng sơn vượng hướng”. Nói gọn: lệnh tinh của hướng bàn bay tới đầu hướng, đồng thời lệnh tinh của sơn bàn bay tới tọa sơn. Hai ví dụ:
- Vận 7: lệnh tinh hướng bàn bay tới đầu hướng (Thìn), lệnh tinh sơn bàn bay tới tọa sơn (Tuất); hợp lại thành châu bảo tuyến.
- Vận 8: lệnh tinh hướng bàn bay tới đầu hướng (Mùi), lệnh tinh sơn bàn bay tới tọa sơn (Sửu); hợp lại thành châu bảo tuyến.
Những tọa hướng châu bảo trong chín vận
- Vận 1: không có tuyến nào. Muốn tài lộc nhân đinh đều vượng phải có một số cách cuộc đặc biệt trợ giúp.
- Vận 2 (6 tuyến): Tọa Tốn hướng Kiền; tọa Kiền hướng Tốn; tọa Tỵ hướng Hợi; tọa Hợi hướng Tỵ; tọa Mùi hướng Sửu; tọa Sửu hướng Mùi.
- Vận 3 (6 tuyến): Tọa Mão hướng Dậu; tọa Dậu hướng Mão; tọa Ất hướng Tân; tọa Tân hướng Ất; tọa Thìn hướng Tuất; tọa Tuất hướng Thìn.
- Vận 4 (6 tuyến): Tọa Giáp hướng Canh; tọa Canh hướng Giáp; tọa Khôn hướng Cấn; tọa Cấn hướng Khôn; tọa Thân hướng Dần; tọa Dần hướng Thân.
- Vận 5 (12 tuyến): Tọa Mão hướng Dậu; tọa Dậu hướng Mão; tọa Ất hướng Tân; tọa Tân hướng Ất; tọa Thìn hướng Tuất; tọa Tuất hướng Thìn; tọa Ngọ hướng Tý; tọa Tý hướng Ngọ; tọa Đinh hướng Quý; tọa Quý hướng Đinh; tọa Mùi hướng Sửu; tọa Sửu hướng Mùi.
- Vận 6 (6 tuyến): Tọa Giáp hướng Canh; tọa Canh hướng Giáp; tọa Khôn hướng Cấn; tọa Cấn hướng Khôn; tọa Thân hướng Dần; tọa Dần hướng Thân.
- Vận 7 (6 tuyến): Tọa Mão hướng Dậu; tọa Dậu hướng Mão; tọa Ất hướng Tân; tọa Tân hướng Ất; tọa Thìn hướng Tuất; tọa Tuất hướng Thìn.
- Vận 8 (6 tuyến): Tọa Tốn hướng Kiền; tọa Kiền hướng Tốn; tọa Tỵ hướng Hợi; tọa Hợi hướng Tỵ; tọa Mùi hướng Sửu; tọa Sửu hướng Mùi.
- Vận 9: không có tuyến nào. Muốn tài lộc nhân đinh đều vượng phải có một số cách cuộc đặc biệt trợ giúp.
Hỏa khanh tuyến: lên sơn, xuống thủy
Có một cách đặt sai tinh bàn khiến chính những ngôi sao quý nhất quay lại làm hại chủ nhà.
Đối nghịch với châu bảo tuyến là hỏa khanh tuyến. Theo phái Huyền Không, tọa hướng nào của ngôi trạch phạm vào cách cuộc hỏa khanh tuyến, còn gọi là cách cuộc “thướng sơn há thủy” (lên sơn xuống thủy), thì nhân đinh và tài lộc đều lụn bại. Nhân đinh ở đây là sức khỏe, cũng là con nối dõi; tài lộc là tài vận và sự nghiệp.
Long thần thủy bao bọc lên sơn
Trong “Thanh Nang Tự” có câu: “Long thần thủy bao bọc không được lên sơn”, nghĩa là long thần thủy và long thần sơn không được lẫn lộn chức vị, nếu không sẽ phạm cách cuộc phá tài hoặc tổn đinh. Thế nào là “long thần thủy bao bọc lên sơn”? Đó là khi lệnh tinh của hướng bàn bay tới cung vị của tọa sơn; gọi tắt là “thủy quỷ thướng sơn”, “tài thần thướng sơn”, “tài tinh thướng sơn”, “lệnh tinh thướng sơn” hoặc chỉ “thướng sơn”. Trạch nào phạm tuyến tọa hướng này thì tiền bạc suy thoái, sự nghiệp gặp nhiều trở ngại. Hai ví dụ:
- Nhà tọa Giáp hướng Canh, vận 7: cung Giáp là tọa sơn, sao hướng bàn của cung này là lệnh tinh Thất Xích, tức “long thần thủy bao bọc lên sơn”, gọi tắt là cách cuộc thướng sơn.
- Nhà tọa Tuất hướng Thìn, vận 8: cung Tuất là tọa sơn, sao hướng bàn của cung này là lệnh tinh Bát Bạch, cũng là cách cuộc thướng sơn.
Long thần sơn bao bọc xuống thủy
“Thanh Nang Tự” còn viết: “Long thần sơn bao bọc không được xuống thủy”, cũng với ý hai long thần không được lẫn lộn chức vị. Đây là trường hợp lệnh tinh của sơn bàn bay tới đầu hướng, còn gọi là “sơn thần há thủy”, “sơn tinh há thủy”, “lệnh tinh há thủy”, hay “há thủy”. Tuyến tọa hướng phạm điều kỵ này sẽ sinh ra tình trạng thân thể nhiều bệnh, hao tổn người. Hai ví dụ:
- Nhà tọa Kiền hướng Tốn, vận 7: cung Tốn là đầu hướng, sao sơn bàn của cung này là lệnh tinh Thất Xích, tức “long thần sơn bao bọc xuống thủy”, gọi tắt là cách cuộc há thủy.
- Nhà tọa Thìn hướng Tuất, vận 8: cung Tuất là đầu hướng, sao sơn bàn của cung này là lệnh tinh Bát Bạch, cũng là cách cuộc há thủy.
Hỏa khanh tuyến
Hỏa khanh tuyến do “long thần sơn bao bọc xuống thủy” và “long thần thủy bao bọc lên sơn” hợp thành, gọi tắt là “thướng sơn há thủy”. Nói cách khác, khi lệnh tinh của sơn bàn bay tới đầu hướng và lệnh tinh của hướng bàn bay tới tọa sơn thì gọi là thướng sơn há thủy. Ba ví dụ:
- Nhà tọa Hợi hướng Tỵ, vận 7: lệnh tinh hướng bàn bay tới tọa sơn (Hợi), lệnh tinh sơn bàn bay tới đầu hướng (Tỵ); phạm hỏa khanh tuyến.
- Nhà tọa Giáp hướng Canh, vận 7: lệnh tinh hướng bàn bay tới tọa sơn (Giáp), lệnh tinh sơn bàn bay tới đầu hướng (Canh); phạm hỏa khanh tuyến.
- Nhà tọa Thân hướng Dần, vận 8: lệnh tinh hướng bàn bay tới tọa sơn, lệnh tinh sơn bàn bay tới đầu hướng (Dần); phạm hỏa khanh tuyến.
Những tọa hướng hỏa khanh trong chín vận
- Vận 1: không có tuyến nào. Chỉ cần cửa chính không phạm cấm kỵ (thần sát) thì hiếm khi vừa hao nhân đinh vừa phá tài cùng lúc.
- Vận 2 (6 tuyến): Tọa Thìn hướng Tuất; tọa Tuất hướng Thìn; tọa Khôn hướng Cấn; tọa Cấn hướng Khôn; tọa Thân hướng Dần; tọa Dần hướng Thân.
- Vận 3 (6 tuyến): Tọa Giáp hướng Canh; tọa Canh hướng Giáp; tọa Tốn hướng Kiền; tọa Kiền hướng Tốn; tọa Tỵ hướng Hợi; tọa Hợi hướng Tỵ.
- Vận 4 (6 tuyến): Tọa Mão hướng Dậu; tọa Dậu hướng Mão; tọa Ất hướng Tân; tọa Tân hướng Ất; tọa Mùi hướng Sửu; tọa Sửu hướng Mùi.
- Vận 5 (12 tuyến): Tọa Giáp hướng Canh; tọa Canh hướng Giáp; tọa Tốn hướng Kiền; tọa Kiền hướng Tốn; tọa Tỵ hướng Hợi; tọa Hợi hướng Tỵ; tọa Bính hướng Nhâm; tọa Nhâm hướng Bính; tọa Khôn hướng Cấn; tọa Cấn hướng Khôn; tọa Thân hướng Dần; tọa Dần hướng Thân.
- Vận 6 (6 tuyến): Tọa Mão hướng Dậu; tọa Dậu hướng Mão; tọa Ất hướng Tân; tọa Tân hướng Ất; tọa Mùi hướng Sửu; tọa Sửu hướng Mùi.
- Vận 7 (6 tuyến): Tọa Giáp hướng Canh; tọa Canh hướng Giáp; tọa Tốn hướng Kiền; tọa Kiền hướng Tốn; tọa Tỵ hướng Hợi; tọa Hợi hướng Tỵ.
- Vận 8 (6 tuyến): Tọa Thìn hướng Tuất; tọa Tuất hướng Thìn; tọa Khôn hướng Cấn; tọa Cấn hướng Khôn; tọa Thân hướng Dần; tọa Dần hướng Thân.
- Vận 9: không có tuyến nào. Chỉ cần cửa chính không phạm cấm kỵ (thần sát) thì hiếm khi vừa hao nhân đinh vừa phá tài cùng lúc.
Căn nhà vận 7 tọa Canh hướng Giáp của ông Trần
Có những người vào nhà mới chưa tròn hai năm đã phải vào bệnh viện, và họ không hề biết căn nhà đang đứng trên một tuyến nguy hiểm.
Ông Trần vào ở nhà mới được hai năm thì sức khỏe bản thân và sức khỏe con cái đều có vấn đề, từng phải phẫu thuật; trong nhà lại phát sinh nhiều tình huống buộc phải hao tiền. Kiểm tra tọa hướng, thấy căn nhà thuộc vận 7, tọa Canh hướng Giáp, phạm vào tuyến “hỏa khanh”, nên mới ứng nghiệm như vậy.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
