Bài tổng quan
Nhật chủ vượng hay nhược: bốn điều kiện để cân thân trong Tứ trụ
Lá số có tám chữ cũng như chiếc đòn gánh: bên nào nặng, bên kia ngóc lên. Người giỏi đoán mệnh không bắt đầu bằng cát hung mà bằng việc cân xem nhật chủ đang nặng hay nhẹ. Cân sai một ly, dụng thần lấy sai, cả lá số sai theo…
Tứ trụ như chiếc cân, dụng thần là phần bù vào bên nhẹ
Trong mệnh lý, can ngày vốn đã yếu mà không được phù trợ, hoặc can ngày vốn đã vượng mà lại còn được phù trợ thêm, đều là dấu hiệu của nguồn bệnh. Tứ trụ ấy có được bổ cứu hay không thì phải xem kỹ dụng thần. Can ngày yếu thì nên được sinh phù; can ngày mạnh thì nên bị khống chế, hao tán, xì hơi. Nhưng Tứ trụ chỉ có tám chữ, giống một chiếc cân: bên này nặng thì bên kia ngóc lên, bên kia nhẹ thì bên này chúi xuống. Hình tượng rõ hơn nữa là chiếc đòn gánh: bên yếu là bên nhẹ, bên vượng là bên nặng. Dụng thần chính là cái dùng để bớt bên nặng đi, bù vào bên nhẹ.
Vận tốt là lúc dụng thần đến, mang lại đủ vận khí để cân bằng. Với Tứ trụ mất cân bằng lớn, đó là lúc gánh được dời hẳn về phía trước hoặc phía sau; với Tứ trụ mất cân bằng không lớn, chỉ cần dịch nhẹ là gánh nặng cân bằng, ổn định. Lúc gặp dụng thần như thế gọi là mệnh cục gặp dụng thần đắc lực, và vận trình ấy là thời kỳ tốt nhất của đời người. Trong mệnh có dụng thần thì vận mệnh gặp nhiều thuận lợi. Dụng thần có lực thì cuộc sống nhẹ nhàng; dụng thần yếu thì vất vả hơn; dụng thần bị phá, bị tổn thương thì gian nan càng nhiều. Dụng thần đã yếu lại còn bị khắc thì chẳng khác gì không có, lúc ấy phải nhờ dụng thần của từng vận để bổ cứu.
Dụng thần được định theo việc can ngày vượng hay yếu. Can ngày vượng là thân vượng, ngược lại là yếu. Phán đoán thân vượng hay thân nhược là bước mở đầu quan trọng để đi tiếp các bước sau; việc phán đoán cát hung họa phúc cả đời bắt đầu từ đây.
Can ngày vượng gồm bốn mặt
Can ngày vượng bao gồm bốn mặt: được lệnh, đắc địa, được sinh và được trợ giúp. Một số sách gọi là được lệnh, được thời, được thế.
- Được lệnh. Chi tháng của can ngày rơi vào các cung trường sinh, mộc dục, quan đái, lâm quan, đế vượng thì gọi là được lệnh.
- Đắc địa. Can ngày gặp được các chi còn lại ở trường sinh (với điều kiện can ngày là dương), gặp lộc, kình dương (khí gốc của can tàng trong chi là tỉ hay kiếp), hoặc gặp mộ kho. Can ngày dương gặp mộ kho gọi là có gốc; can ngày âm gặp mộ kho vô khí nên gọi là không có gốc.
- Được sinh. Can ngày được chính ấn hay thiên ấn của các can chi khác trong Tứ trụ tương sinh thì gọi là được sinh.
- Được trợ giúp. Can ngày và các can khác trong Tứ trụ cùng loại, tức gặp ngang vai hay kiếp tài giúp bản thân, thì gọi là được trợ giúp.
Muốn biết can ngày vượng hay không, ở mức rất lớn là phải xem lệnh tháng đối với can ngày ở trạng thái nào. Can ngày sinh vào tháng vượng là được lệnh; nhưng nếu không đắc địa, không được sinh, không được trợ giúp thì sẽ bị khắc, bị xì hơi, sự hao tổn lớn hơn phần được giúp, nên không còn coi là vượng. Ngược lại, can ngày rơi vào tháng suy, tức không được lệnh, mà lại nhận được nhiều sinh trợ để thành vượng, thì can ngày không còn là nhược nữa.
Năm điều kiện để kết luận thân vượng
Qua nhiều sách cổ và nhiều thực tiễn, các điều kiện để đoán thân vượng được rút ra như sau:
- Thứ nhất, can ngày được lệnh là điều quan trọng nhất để phán đoán thân vượng.
- Thứ hai, trên tiền đề can ngày được lệnh tháng, còn được một trong ba điều đắc địa, được sinh, được trợ giúp thì có thể khẳng định là thân vượng. Được hai trong ba thì gọi là rất vượng; được cả ba thì gọi là quá vượng, tức vượng đến cực độ.
- Thứ ba, can ngày tuy không được lệnh tháng, nhưng có từ hai điều trở lên trong ba điều đắc địa, được sinh, được trợ giúp, mà những điều ấy lại mạnh, giúp ích nhiều, thì cũng coi là thân vượng hoặc rất vượng.
- Thứ tư, can ngày không được lệnh tháng và chỉ có một trong ba điều, nhưng tam hợp cục hoặc tam hội cục trong Tứ trụ là ấn cục sinh thân, hoặc tỉ cục trợ giúp can ngày, thì cũng coi là thân vượng.
- Thứ năm, can ngày không được lệnh tháng nhưng có hai trong ba điều, và hai điều ấy lực rất mạnh, thì vẫn coi là thân vượng.
Khi thân nửa vượng, nửa nhược
Nếu trong phần đắc địa, các thành phần trường sinh, lộc, kình dương, mộ chiếm ít, mà thành phần địa chi khắc, làm hao tán, xì hơi can ngày lại nhiều, thì can ngày rơi vào tình trạng nửa vượng nửa nhược, cân bằng nhau, không dễ quyết định vượng suy. Như thế rất khó tìm dụng thần, vận nào tốt xấu cũng khó đoán. Khi đó xử lý như sau:
- a) Nếu ngũ hành hợp hóa của thiên can, hoặc ngũ hành hợp hóa của địa chi, sinh cho mình, trợ giúp mình thì coi là thân vượng; nếu khắc chế, hao tán hay xì hơi mình thì coi là thân nhược.
- b) Nếu bán hợp hay bán hội của địa chi sinh cho hoặc trợ giúp ngũ hành của mình thì cũng coi là thân vượng, ngược lại là thân nhược.
- c) Nếu những khí khắc, hao tán, xì hơi mình ở vào nhược địa, tức không được lệnh, còn những khí sinh cho mình, trợ giúp mình lại ở vượng địa, thì gọi là thân vượng; ngược lại là thân nhược.
- d) Những can chi khắc, hao tán, xì hơi mình mà gặp xung, hoặc bị chế phục, bị hợp mất, hoặc ở xa, thì vẫn coi là thân vượng; ngược lại là thân nhược.
Thành phần được sinh nhiều hay ít cũng hiểu theo cách ấy. Chẳng hạn can ngày giáp thân nhược, đắc địa ở chi hợi, tý, được can nhâm quý sinh cho can ngày thì gọi là được sinh. Nhưng nếu các can chi sinh nhau chồng chéo, trong đó chỉ một vài cái sinh cho nhật can, thì phải so mức độ giữa phần được sinh và phần bị khắc rồi mới kết luận can ngày nhược hay vượng. Thành phần thiên can giúp đỡ cũng hiểu theo nguyên lý trên. Ví dụ can ngày giáp thân nhược, các can giáp khác là ngang hòa, ất là kiếp tài, đều giúp thân; mức giúp bao nhiêu thì phải xem nó bị hợp mất hay được tăng. Nếu bị hợp mất thì phần giúp giảm lực: ngày sinh giáp, các thiên can khác có ất hợp với canh kim, thì không những ất mộc bị hợp mất nên không giúp được giáp, mà còn thành khí khắc mộc, nên rõ ràng phần giúp đã yếu đi. Lại ví dụ ngày sinh là canh, trong Tứ trụ có ất hợp với canh kim, thì không những ất mộc, yếu tố làm giảm canh kim, bị hợp mất, mà còn thêm kim giúp bản thân, nên lực giúp ban đầu tuy không lớn nay đã tăng thêm.
Điều kiện phán đoán thân nhược là hiểu ngược lại, trên cơ sở đã có bản lĩnh phán đoán thân vượng. Nắm vững việc phán đoán thân nhược hay thân vượng là khâu then chốt đầu tiên của việc đoán mệnh. Sự phức tạp nằm ở chỗ, ngoài việc phán đoán can ngày, còn phải phán đoán tổng hợp sức mạnh yếu, xa gần, sinh khắc, xung hợp của các can chi khác sao cho chuẩn xác. Bản lĩnh đoán mệnh cao hay thấp, đoán đúng hay sai đều dựa trên cơ sở này. Đây là điều rất khó giảng, khó truyền, lại còn tùy vào sự lĩnh hội và cảm nhận của người học.
Ví dụ một Tứ trụ nam giới
Tứ trụ của một nam giới gồm: năm quý mão, tháng mậu ngọ, ngày tân sửu, giờ đinh mùi. Địa chi tàng can: mão tàng ất; ngọ tàng đinh, kỷ; sửu tàng kỷ, tân, quý; mùi tàng kỷ, ất, đinh.
Can ngày là tân kim, sinh ở tháng ngọ là đất bệnh nên không được lệnh. Can mậu ở bên trái là ấn sinh thân, ở đất đế vượng nên được sinh. Ngày đóng ở sửu thổ, kỷ thổ trong sửu là bản khí; kỷ thổ của tháng ngọ ở lâm quan vượng địa; lại thêm bản khí trong mùi thổ cũng là kỷ thổ ở quan đái vượng địa, nên lại cũng được sinh. Can giờ ở bên phải trụ ngày là đinh hỏa thất sát; đinh sinh vào tháng ngọ cũng là lâm quan vượng địa, nên sát vượng. Quý thủy thực thần ở trụ năm cách xa nhật nguyên, rơi vào tuyệt địa, là nhược. Chi năm dưới can năm tàng ất, ất trường sinh ở ngọ nên tài vượng. Tân kim trường sinh ở tý nhưng trong Tứ trụ không có tý; các thiên can lộ ra bản khí của nó lại không có tỉ, kiếp; tân kim trong sửu không phải gốc mộ nên không đắc địa. Các thiên can không có tỉ, kiếp nên cũng không được trợ giúp.
Trên đây là liệt kê sự vượng suy của ngũ hành và của mười thần. Tiếp theo so sánh sự mạnh yếu của can ngày. Không được lệnh, không đắc địa, không được trợ giúp mà chỉ có phần được sinh thì bản thân vẫn là nhược. Thất sát vừa có thể là cát thần sinh ấn thụ để làm vượng thân, nhưng cũng có thể là sát tinh khắc thân. Lúc khắc thân là khi gặp tuế vận tài tinh: ấn thụ bị chế ngự, tài lại bị sinh sát, sát sinh mà không có ấn nên khắc thân. Hơn nữa địa chi ngọ mùi bán hội sát khiến sát càng mạnh. Muốn biết có được cứu hay không phải xem trong Tứ trụ sát tinh gặp kỵ thần hay hỉ thần; ngọ và mùi vì không phải lục hợp liền kề nên dù có thổ lộ ra hóa xuất cũng không được coi là hóa. Dụng thần ở đây là chính ấn, kỵ thần là thiên tài.
Vì sao năm can âm phải tính ngược mười hai cung
Ví dụ trên cho thấy trong dự đoán mệnh lý, năm can dương tính theo chiều thuận, năm can âm tính theo chiều nghịch của mười hai cung. Một số sách phủ nhận việc năm can âm tính ngược, điều đó không đúng. Nếu tân kim là can âm mà không tính ngược, vẫn tính thuận thì trường sinh của tân kim ở tỵ, tháng ngọ sẽ không phải nhược mà là tháng được lệnh, lực rất lớn, lại còn được ấn vượng sinh thân, thất sát còn được ấn thụ hóa thành hỉ chứ không phải kỵ. Vậy làm sao giải thích được người ấy thân nhược sát vượng, gặp năm tài mà luôn gặp tai họa?
Thực chất là vì thân nhược gặp tài nên không gánh nổi, sinh sát lại khắc thân, nên nguyên nhân tai họa nằm ở chỗ thân nhược. Bản khí của năm can âm và năm can dương ở lâm quan, đế vượng đều rơi vào vượng địa, là lộc, kình dương, nên ngũ hành vượng ở bản khí là điều trước sau không đổi. Nhưng cùng một ngũ hành, nếu can âm và can dương phân biệt ở đất trường sinh và suy nhược, rồi lại rơi vào lệnh tháng, thì kết quả hoàn toàn ngược nhau. Sự khác biệt ấy dẫn đến phán đoán sai thân nhược, thân vượng; dụng thần lấy sai thì toàn bộ đều sai, và dự đoán không những không giúp người ta hướng tới điều tốt, tránh điều xấu mà còn gây tác dụng ngược. Cho nên người học nhất định phải nắm vững điều mấu chốt này.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
