Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Vương Sung: nguyên khí sinh vạn vật, trời đất tự nhiên mà thành

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202617 phút đọc3 lượt đọc
Vương Sung: nguyên khí sinh vạn vật, trời đất tự nhiên mà thành

Chàng trai nghèo đứng đọc nhờ ngay trong hiệu, đọc một lần là thuộc. Hai mươi năm sau ông để lại bộ Luận Hoành đồ sộ, trong đó nói mặt trời không mọc không lặn, người chết như ngọn lửa tắt. Ông dám nói điều ấy giữa một triều đại đầy thần linh…


Chàng trai nghèo và hai mươi năm tâm huyết của Luận Hoành

Vương Sung là nhà triết học kiệt xuất đời Hán. Quan điểm chủ yếu của ông là luận điểm lấy nguyên khí làm gốc của muôn vật và cái nhìn về đạo trời như một điều tự nhiên. Ông trở thành một nhân vật không thể thiếu trong nền triết học cổ đại Trung Hoa. Cách nghĩ của ông ảnh hưởng sâu sắc đến những người nối tiếp như Liễu Tông Nguyên, Trương Tái, Vương Phu Chi. Luận điểm nguyên khí của ông đánh dấu sự gặp nhau giữa triết học và khoa học tự nhiên của Trung Hoa, đồng thời công kích mạnh quan điểm thiên mệnh của Đổng Trọng Thư. Giữa một triều Hán nặng màu sắc thần thánh, quan điểm của ông như một lá cờ, có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng. Bộ Luận Hoành là tác phẩm đồ sộ, có ảnh hưởng sâu sắc đến triết học và khoa học tự nhiên Trung Hoa.

Vương Sung sống từ năm 27 đến khoảng năm 97, tự là Trọng Nhiệm, người đất Thượng Ngu, nay thuộc Chiết Giang. Dưới triều Hán, khi những tư tưởng mê tín, thuyết trời người cảm ứng tràn khắp nơi, ông vẫn giữ vững lập trường của mình như một lá cờ của triết học đời Hán. Đóng góp của ông, nhất là việc nối triết học với khoa học tự nhiên, đã đặt nền cho việc triết học dẫn đường cho khoa học tự nhiên.

Thuở trẻ nhà nghèo, Vương Sung rất chịu khó đọc sách, thường đứng đọc ngay tại chỗ bán sách. Cả đời vất vả, những năm cuối đời càng gian nan. Cách học của ông là đọc thật nhiều, hiểu thông mọi điều nhưng không máy móc theo sách vở mà luôn có cái nhìn riêng. Ông có tư chất tốt, sách đọc một lần là thuộc. Bộ Luận Hoành là tâm huyết suốt hai mươi năm. Cuộc đời ông là cuộc đời đấu tranh: ông phủ định thuyết trời người cảm ứng, phê phán thần học mê tín. Ông không được những người cầm quyền tán thành, không được làm quan, nhưng càng giữ vững tư tưởng của mình. Tư tưởng ấy thúc đẩy sự phát triển của luận điểm không tin quỷ thần của Trung Hoa cổ đại.

Bộ Luận Hoành là di sản văn hóa quý giá, tài liệu quan trọng để nghiên cứu Vương Sung, cũng là văn bản quý để nghiên cứu triết học và khoa học tự nhiên cổ đại Trung Hoa. Đây là bộ sách tổng hợp gồm 85 thiên, hiện còn thiếu một thiên, nội dung vô cùng phong phú, ảnh hưởng chỉ sau Hoài Nam Tử, bao gồm tư tưởng chính trị, đạo đức luân lý, triết học, khoa học tự nhiên như y học, thiên văn, lịch pháp. Quan điểm trong bộ sách là khí nhất nguyên, cho rằng muôn vật chỉ có một khí làm gốc. Là người không tin quỷ thần, ông phản đối lối phục cổ, phản đối thuyết cho rằng có người biết trước mọi điều, coi trọng lịch pháp thiên văn và toán học. Những triết lý của ông, cùng một số quan điểm về y học, thiên văn lịch pháp, toán học và đông y trong bộ sách, đều có những mối liên quan nhất định.

Nguyên khí là hạt nhỏ nhất của trời đất

Từ một làn hơi rất nhỏ, muôn vật trên đời đều bắt đầu mà chẳng ai ra lệnh cho chúng.

Trên nền các ý "nguyên khí hòa thuận", "nguyên là sự bắt đầu" của Đổng Trọng Thư, Vương Sung tiến thêm một bước, nhấn mạnh muôn vật trong vũ trụ vốn là nguyên khí. Luận điểm này là tinh hoa triết học của ông, căn bản của cái nhìn về vũ trụ nơi ông. Ông nói:

Nguyên khí là chỗ tinh vi của trời đất.

Trời đất hợp khí, muôn vật tự sinh.

Nghĩa là nguyên khí là vật nhỏ bé nhất trong trời đất, muôn vật đều do khí của trời đất sinh ra. Ông còn mô tả: trời ở trên, đất ở dưới, khí dưới đất bay lên, khí trên trời giáng xuống, và muôn vật tự sinh ra ở khoảng giữa. Đổng Trọng Thư là người đầu tiên nêu khái niệm nguyên khí và xem nó là điểm khởi đầu của muôn vật; từ đó Vương Sung phát triển thêm. Theo ông, nguyên khí chưa phải là trạng thái nhỏ nhất của khí; trạng thái nhỏ nhất phải là thứ như làn khói mây.

Hạt nhân của luận điểm ấy là muôn vật nảy sinh tự nhiên trên nền nguyên khí, không bị ý chí nào gò ép. Ông kiên trì luận điểm này nhằm bác bỏ sự lan tràn của tư tưởng thần học mê tín, và điều đó có ý nghĩa xã hội quan trọng. Ông quả quyết rằng người không thể dùng việc làm của mình để cảm động trời, và trời cũng không thể theo việc làm của người mà đáp lại. Ông đả kích không thương tiếc những ý mê tín thời ấy, có ý nghĩa lịch sử lớn cho tư tưởng không tin quỷ thần đời sau.

Khí của sự sống: người chết như ngọn lửa tắt

Ngọn nến nào rồi cũng cạn, và ánh sáng của nó không đi đâu khi nến đã hết.

Luận điểm về tinh khí của Vương Sung cơ bản giống Dịch truyện và Quản Tử nhưng có phát triển thêm, đặc biệt ở chỗ bàn về tính mạng con người. Ông cho rằng người được cấu tạo từ tinh khí, và thành phần khí tạo nên cơ thể người tồn tại trong nguyên khí. Ông không chỉ nêu mối quan hệ sinh lý giữa khí và người mà còn mạnh dạn đi sâu vào mối quan hệ giữa khí và thân thể sau khi chết. Ông nói: quỷ là chữ "quy", là về; quỷ thần là cách gọi của âm dương; khí âm trái với vật mà trở về nên gọi là quỷ, khí dương dẫn vật mà sinh nên gọi là thần. Ông chỉ ra rằng cái gọi là quỷ không phải khí âm dương mà là vật chất mà thân thể con người chuyển hóa thành sau khi chết, không có thần linh nào tồn tại. Đó là một đòn mạnh vào tư tưởng thần học mê tín thời Hán. Dù quan điểm về hình và thần của ông còn mộc mạc, còn chưa thật triệt để, nhưng sự mạnh dạn tìm tòi của ông về sinh tử trong hoàn cảnh ấy là rất có giá trị, đến nay vẫn thế.

Từ đó ông đi thêm một bước, cho rằng hình và thần thống nhất với nhau: thần phải dựa vào hình mới phát huy tác dụng; tinh thần là tác dụng sinh ra từ tinh khí, hai thứ không thể tách rời. Ông nói: dưới trời không có ngọn lửa nào cháy một mình, đời này sao có thứ tinh thần đứng riêng mà giữ mãi? Ông ví người chết như ngọn lửa bị dập tắt: lửa tắt thì mất ánh sáng, người chết thì không còn cảm giác, cả hai cùng một đạo lý.

Trời đất tự nhiên mà thành, không cần ai sai khiến

Mưa không đến vì ai gọi, hoa không nở vì ai thúc, mà năm nào cũng đúng mùa.

Tinh hoa của cách nhìn về khí nơi Vương Sung còn nằm ở chỗ ông coi khí là hiện tượng tự nhiên. Ông nói trời vận hành khí, mùa nào theo mùa ấy một cách tự nhiên; mọi đổi thay của thời tiết đều là hiện tượng tự nhiên. Ông coi trọng chữ "tự nhiên" đến mức có hẳn một thiên bàn về nó, trong đó có câu: trời đất hợp khí, muôn vật tự sinh. Chịu ảnh hưởng của câu "đạo pháp tự nhiên" của Lão Tử, ông nhấn mạnh "tự nhiên vô vi", như câu ông nói: đạo trời là tự nhiên, tự nhiên thì không làm. Ông đưa ra "đạo trời tự nhiên" nhằm phản đối thuyết thần học trời người cảm ứng của Đổng Trọng Thư.

Không chỉ thời tiết, khí của mọi sinh vật cũng tự nhiên sinh ra. Ông nhấn mạnh "vật tự sinh, việc tự thành". Sự biến hóa giữa khí âm và khí dương cũng tự phát: dương khí tự ra thì vật tự lớn lên, âm khí tự khởi thì vật tự thành. Ông còn dẫn lý thuyết trong Kinh Dịch để nói rõ người ta có thể đoán trước những tai họa và đổi thay của thế giới tự nhiên. Ông dùng rất nhiều bài và luận điểm để nêu thuyết khí tự nhiên, rõ ràng là thách thức mạnh mẽ những tư tưởng mê tín dị đoan đang hình thành. Con đường bác bỏ thần giáo, kiên trì nhìn sự vật như nó là, của Vương Sung hết sức quý giá trong một xã hội đầy thần học đời Hán.

Trời là khí, mặt trời không mọc không lặn

Mỗi sáng thấy mặt trời nhô lên khỏi chân trời, ta tin mặt trời đang mọc; ông nhắc rằng đôi mắt cũng có thể đánh lừa ta.

Để phá thuyết thần linh của Đổng Trọng Thư, Vương Sung nhấn mạnh trời là khí. Để tuyên truyền thuyết cảm ứng, Đổng Trọng Thư nói người nhận mệnh ở trời, người gốc ở trời, coi trời như một vị thần và hết sức kính sợ. Vương Sung dứt khoát phủ nhận đạo trời kiểu thần học đó. Ông nói: đạo trời là tự nhiên; Nho gia nói trời là khí; trời đất hợp khí là tự nhiên. Trời có hình thể, chỗ trời ở không mục nát.

Ông không chỉ cho rằng trời là khí, là thực thể, mà còn quan sát rất nghiêm túc sự vận hành của các thiên thể, mặt trăng mặt trời. Dựa trên những nghiên cứu của Nho gia và quan sát của riêng mình, ông tìm hiểu việc xuất hiện và biến mất, hình dạng của mặt trăng, mặt trời, hiện tượng nhật thực. Ông cho rằng mặt trời tự nó không có chuyện "mọc" hay "lặn", mà hiện tượng ấy nảy sinh từ chỗ mắt người nhìn xa. Ngày dài ngày ngắn là do ánh sáng mặt trời nhiều hay ít. Khoảng cách giữa mặt trời và đất, theo ông, ngắn nhất vào buổi trưa và dài nhất lúc mặt trời mọc hoặc lặn; buổi trưa tuy gần nhất mà nhìn lại nhỏ vì ánh sáng quá chói. Do hạn chế của thời ấy, quan điểm của ông không hoàn toàn chính xác, nhưng đủ cho thấy cách nghĩ của ông. Ông còn nói mặt trời sáng mọc chiều lặn không phải vì cầu gì, đó là đạo trời tự nhiên; lạnh nóng có tiết, không phải vì người mà đổi, chứng tỏ ông nhận vận hành của đạo trời không phụ thuộc ý chí con người. Việc ông quan sát chuyển động của mặt trời, mặt trăng có ảnh hưởng nhất định đến nhà thiên văn đời sau là Trương Hoành.

Biết là nhờ học, nhờ thực nghiệm và kiểm chứng

Nghe một lời đồn hay một lời thánh, muốn tin thì phải thử, đó là thói quen của một người rất ít bị lừa.

Luận điểm về bản thể vũ trụ của Vương Sung là bản thể khí, và cách nhìn về nhận thức của ông cũng cùng một hướng. Ông nêu khái niệm "biết thật" và "biết ở chỗ thật", cho rằng nguồn gốc của mọi hiểu biết là sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài, phản đối thuyết cho rằng có người sinh ra đã biết. Ông nêu quan điểm "học rồi mới biết", phủ nhận có người tự dưng biết. Trong thiên bàn về biết, ông lấy ra mười sáu việc của Khổng Tử để phê phán thuyết bậc thánh biết trước, chỉ ra rằng dù thánh nhân có biết trước thì cũng nhờ dùng thuật tính toán, không ai tự dưng biết được.

Trong Luận Hoành có những thiên chê bệnh nói ngông, phản đối những quan điểm hư vọng. Trước hết ông nhấn mạnh chữ "thực": muốn biết thì phải tiếp xúc với sự vật cụ thể, nên trong quá trình tìm hiểu cần thực nghiệm, phản đối cái không thật, và dùng sự thật để kiểm chứng. Ông nói: suy nghĩ trên cơ sở cái thật. Ông nhấn mạnh sự vật thực tế và nghiệm chứng, rất coi trọng việc học để biết. Thuyết học để biết của ông không chỉ coi trọng thực tiễn mà còn nhấn mạnh suy lý có đầu có đuôi; trong Luận Hoành hầu như đâu đâu cũng có suy luận, dù về khoa học tự nhiên hay lẽ chính trị. Ông nói: muốn biết trước điều đã thấy, điều sắp xảy ra, không phải nhờ tai mắt linh thông, mà phải xét dấu vết, suy từ loại sự việc. Ông suy lý giữa con người và ngọn lửa như đã nói. Trong thiên "Đáp" ông còn kể chuyện: người hiền theo đạo mà được phong quan hưởng lộc, kẻ trộm cũng biết rõ rằng có thể cày cấy làm ra thóc gạo, buôn bán kiếm tiền, nhưng vẫn đi trộm vì không dứt được lòng muốn. Tóm lại, phép lập luận "lấy đạo lý mà bàn" của ông cho thấy ông vừa chú trọng thực tiễn vừa chú ý phân tích lý lẽ.

Luận Hoành với số thuật, thiên văn và đông y

Trên đầu có hai mươi tám vì sao, trong người có hai mươi tám mạch; người xưa gọi đó là chuyện cùng một nhịp.

Luận Hoành có quan hệ sâu sắc với khoa học tự nhiên, chủ yếu ở thiên văn, số thuật, đông y và dưỡng sinh. Số thuật là triết học dùng con số để mô tả sự vật, khởi nguồn từ Chu Dịch, phát triển thành Dịch học số thuật; các nhà Dịch học đời Hán coi trọng tượng số, số thuật chủ yếu bao gồm chiêm, bốc quẻ, Hà đồ Lạc thư, Thái cực. Các nhà âm dương như Trâu Diễm coi trọng sự đoán trước trong Kinh Dịch và dùng nguyên lý ấy cho ngũ hành, làm thành thuật số "ngũ đức chung thủy" ứng dụng vào dự đoán các triều đại. Vương Sung đem số thuật vào thiên văn và lịch pháp. Trong Luận Hoành, ông nêu hai mươi tám vì sao, gồm Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn, Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm, và coi đó là những mốc thiên văn đánh dấu sự chuyển động của mặt trời mặt trăng. Ông cho rằng trời đất có được do khí tồn tại. Điều này hoàn toàn thống nhất với nhị thập bát tú, thiên độ, khí số trong Hoàng Đế Nội Kinh và ý "muôn vật đều từ khí mà dấy lên". Hoàng Đế Nội Kinh còn đi xa hơn khi đối chiếu độ chuyển động của mặt trời mặt trăng với đặc điểm sinh lý người: mặt trời đi hết hai mươi tám vì sao thì nhân khí cũng vận hành xong một năm trong cơ thể; mặt trời đi qua một vì sao thì nhân khí qua một mạch; mặt trời đi hết hai mươi tám sao thì nhân khí thông hết hai mươi tám mạch. Điều đó được đem vào dưỡng sinh: trời có hai mươi tám tinh tú, người có hai mươi tám mạch, ứng với số hơi thở là mười ba nghìn năm trăm lần. Luận Hoành còn ảnh hưởng lớn đến Trương Hoành, nhà khoa học đời Hán, người dùng số thuật vào thiên văn học và chế ra thiên cầu.

Vương Sung loại bỏ cái nhìn hư vô của Đạo gia về nguồn gốc vũ trụ, đưa ra quan điểm vũ trụ do khí tạo thành. Chu Dịch đã chỉ rõ tinh khí là một vật cụ thể luôn chuyển động biến hóa. Quan điểm này dẫn đường cho học thuyết tinh khí, góp phần vào việc dựng nên văn hóa Trung Hoa và hình thành diện mạo, tâm lý của cả một dân tộc. Tư tưởng Nho gia và Đạo gia đều khởi nguồn từ Chu Dịch: Nho gia coi trọng cái mạnh mẽ, chủ động của quẻ Càn, Đạo gia coi trọng cái nhu thuận, chủ về tĩnh của quẻ Khôn. Pháp gia, âm dương gia, binh gia, nông gia và tạp gia cũng phát triển Dịch từ những góc độ khác nhau. Muốn khai thác văn hóa tư tưởng truyền thống Trung Hoa phải tìm đến mảnh đất màu mỡ là Chu Dịch và bách gia chư tử.

Trên nền Chu Dịch và lý luận tinh khí Tiên Tần, Hoàng Đế Nội Kinh đưa toàn bộ lý luận tinh khí vào y học cổ truyền. Một nét đặc sắc là tinh, khí tách ra và cùng thần thành "ba báu" của con người. Tinh sinh ra khí, là tinh túy của thần, tinh hóa thành khí; tinh khí thần là ba mà một. Tinh làm nên thể, khí và thần làm nên dụng, và đặc biệt nhấn mạnh tinh là gốc. Trong Tố Vấn có câu "tinh là gốc của sự sống"; Linh Khu có câu "người mới sinh, trước thành tinh" và "hai tinh gặp nhau hợp thành hình, cái sinh ra trước thân gọi là tinh"; Tố Vấn lại nói "tinh hóa thành khí", nghĩa là trước khi có khí đã có thứ nhỏ hơn khí.

Luận Hoành nhấn mạnh mối quan hệ giữa khí và sinh mạng, cho rằng khí là gốc của sức khỏe. Ông nói: người nhờ khí mà sinh, ngậm khí mà lớn; người sinh ra được là nhờ tinh khí; người nhận nguyên khí từ trời. Ông cũng coi trọng mối quan hệ giữa khí và hình: khí là máu của hình, người nhận khí từ trời, khí thành thì hình thành, cùng với nhau đến lúc hết mệnh. Hơi thở đứt tức là chết. Ông cho rằng nhận khí đầy đủ hay không liên hệ mật thiết với thân thể mạnh yếu và tuổi thọ dài ngắn, nên gọi tuổi thọ là "khí thọ": người nhận khí nhiều thì thân mạnh, thân mạnh thì thọ; khí mỏng thì thân yếu, thân yếu thì chết sớm, lắm bệnh. Luận Hoành còn coi trọng vai trò của khí với thuật dưỡng sinh của Đạo gia: bậc chân nhân lấy khí làm thức ăn, phép ăn khí là thở bằng bụng để đón luồng khí mới, và nói đến lối dùng khí dưỡng sinh để đổi thân mà bất tử.

Dấu son của một người đi ngược dòng

Có những người bị gạt khỏi bàn tiệc, nhưng lời họ để lại còn nói lâu hơn tiếng cười của cả bữa tiệc.

Tư tưởng Vương Sung có ảnh hưởng sâu sắc với đời Hán lẫn hậu thế ở ba chỗ. Thứ nhất, luận điểm không tin quỷ thần dựng trên nền nguyên khí và đạo trời tự nhiên đã công kích thuyết cảm ứng thần học, bác bỏ những mê tín đương thời, đặc biệt vạch ra thuyết quyền vua do thần trao, xứng đáng là tấm bảng vàng của triết học cổ truyền Trung Hoa. Thứ hai, bản thể luận nguyên khí đã tiếp thu tinh hoa của đời trước như Dịch truyện, Quản Tử và có phát triển thêm; những luận thuyết về khí trong Luận Hoành tập hợp thành tựu của người đi trước và ảnh hưởng đến Trương Tái, Vương Phu Chi. Thứ ba, trong việc dùng tư tưởng triết học để chỉ đạo khoa học tự nhiên, ông có đóng góp lớn: Luận Hoành là cuốn kinh điển trác việt kết hợp triết học và khoa học tự nhiên, ông dùng tư tưởng triết học tạo nên những khám phá táo bạo về thiên văn, y học, khí tượng, mở ra một con đường cho việc nghiên cứu khoa học tự nhiên cổ đại. Vương Sung là một dấu son chói lọi trong lịch sử triết học và khoa học tự nhiên Trung Hoa.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện