Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Hà Đồ, Lạc Thư và con số đưa vật tượng thành quẻ

Bói Dịch - Nhập môn02/10/202613 phút đọc2 lượt đọc
Hà Đồ, Lạc Thư và con số đưa vật tượng thành quẻ

Một giờ trên đồng hồ, một biển số xe, một câu nói bâng quơ, thứ nào cũng có thể thành quẻ nếu biết biến nó thành con số. Người xưa tin cái gốc của việc đoán Dịch nằm ở đó chứ không phải ở những lời quẻ dài dòng. Nhưng con số trong Dịch khác hẳn con số ta quen dùng ở chỗ…


Ngồi trước một quẻ Dịch, nhiều người tưởng mình phải thuộc lòng cả một kho kiến thức mới dám mở lời. Thực ra điểm xuất phát giản dị hơn thế: một giờ, một con số, một vật bắt gặp giữa đường, rồi một phép cộng nhỏ. Từ chuyện nhỏ ấy, người xưa dựng ra cả một cách đọc thế giới, và cái chìa khóa của nó nằm ở con số.

Bốn chữ lý, tượng, số, chiêm

Học Dịch như dựng nhà, mỗi chữ là một cây cột, và cây cột bị lơ là nhiều nhất lại là cây cột đỡ cả mái.

Dịch học chạm tới thiên văn, địa lý, nhạc luật, binh pháp, văn chương, toán học lẫn tôn giáo. Nho, Đạo và các phái Bách gia đều từ đây mà đi ra. Trong cách nhìn ấy, bốn chữ lý, tượng, số, chiêm chia việc rõ ràng. Lý là phần thể, giải thích vì sao sự việc diễn ra như vậy. Tượng là phần dụng, cho ta thấy hình hài của sự việc. Còn số là gốc rễ, đóng vai trò cầu nối biến một việc đời thường thành một quẻ cụ thể.

Chuỗi lập luận của người xưa nghe có vẻ vòng vo mà hóa ra rất thẳng: có vật thì có số, có số thì có quẻ, có quẻ thì có tượng, có tượng thì mới đoán được. Trời đất muôn hình vạn trạng, nhưng khi đã quy ra số thì việc tính toán trở nên nhanh và dễ, kết quả hiện ra khá rõ.

Số của Dịch không giống số trên máy tính

Hai chữ “dịch số” thoạt nghe như một bảng tính, nhưng nó gần với một thứ tiếng nói hơn là một phép toán.

Con số trong Dịch không phải thứ để cộng trừ cho vui. Mỗi con số gắn với một trạng thái vận động riêng của sự vật. Cái gì chuyển động thế nào thì có con số biểu thị thế ấy, và sự đổi thay của số cho thấy chuyện hòa hợp lẫn đối chọi của vạn vật. Thái Cực, âm dương, ngũ hành, bát quái, Hà Đồ, Lạc Thư đều là những cấu trúc dựng từ số, nên quẻ tượng thực ra chính là khuôn mặt hiện ra của con số đang vận động.

Vì thế khi dịch ra một con số, đừng buộc nó vào nghĩa đen của phép đếm. Số có thể là số của thể, số của vị trí, số của thời điểm hoặc số của một vật. Người xưa dùng nó để chạm vào quy luật chứ không để đo đạc.

Từ vạch liền, vạch đứt đến cỏ thi

Đơn vị nhỏ nhất của số trong Dịch là hào. Hào dương được vẽ bằng một vạch liền, chỉ số lẻ. Hào âm được vẽ bằng một vạch đứt, chỉ số chẵn. Cả hệ thống quẻ đứng trên hai ký hiệu ấy, chứ không đòi hỏi những con số to lớn. Điều cốt lõi khi đoán là nhìn xem chẵn hay lẻ, âm hay dương, chứ không phải tính cho thật nhiều.

Ngày xưa, muốn có quẻ phải dùng cỏ thi. Người ta lấy năm mươi cọng, bỏ đi một, dùng bốn mươi chín cọng chia đếm theo lệ định sẵn, trải qua sáu lần biến để ra sáu hào. Cách làm ấy tốn công, nhưng cho thấy quẻ đã sinh ra từ phép đếm ngay từ buổi đầu.

Hà Đồ và Lạc Thư: hai tấm bản đồ chấm tròn

Sau những chấm đen chấm trắng là một sự cân đối khiến người xem muốn nhìn lại lần nữa.

Mười con số trời đất, theo cách người xưa gọi, chia đôi: các số lẻ thuộc trời, các số chẵn thuộc đất. Cộng năm số trời được hai mươi lăm, cộng năm số đất được ba mươi, hai nhóm gộp lại thành năm mươi lăm. Để giữ lại sự huyền diệu ấy, người xưa vẽ ra hai bức đồ gồm các chấm đen và trắng.

Hà Đồ

Trên Hà Đồ, một và sáu nằm phía dưới, hai và bảy nằm phía trên, ba và tám ở bên trái, bốn và chín ở bên phải, còn năm và mười ngồi giữa. Con số nhỏ trong khoảng một đến năm được gọi là “sinh”, con số lớn từ sáu đến mười được gọi là “thành”. Mỗi ngũ hành đi cùng một cặp số, một số sinh, một số thành:

Thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi; địa nhị sinh hỏa, thiên thất thành chi; thiên tam sinh mộc, địa bát thành chi; địa tứ sinh kim, thiên cửu thành chi; thiên ngũ sinh thổ, địa thập thành chi.

Tức là nước đi với một và sáu, lửa với hai và bảy, gỗ với ba và tám, kim với bốn và chín, đất với năm và mười. Qua đó trời đất tạo ra ngũ hành, ngũ hành tạo ra vạn vật.

Lạc Thư

Lạc Thư là một ô vuông chín cung: chín ở đầu, một ở chân, ba bên trái, bảy bên phải, hai bốn ở hai vai, sáu tám ở hai chân, năm đứng giữa, tổng cộng bốn mươi lăm. Cộng ba số theo hàng ngang, hàng dọc hay đường chéo đều ra mười lăm. Hàng dưới cùng là sáu, một, tám, đọc liền thành 618, trùng với tỷ lệ vàng quen thuộc, nên người ta thường cho rằng sự tinh vi của số học cổ vượt xa tưởng tượng.

Hai bức đồ này được dùng khác nhau. Hà Đồ cung cấp số cho tiên thiên bát quái, dùng khi đoán bằng quẻ. Lạc Thư cung cấp số cho hậu thiên bát quái, dùng trong tam nguyên cửu vận và phong thủy huyền không. Cộng cả hai lại vừa đúng một trăm. Ai muốn đoán chuẩn hơn về sau đều phải quay lại tìm hiểu kỹ Hà Đồ Lạc Thư.

Thời gian cũng được viết thành số

Cái tưởng như vô hình nhất, tức dòng thời gian, lại được người xưa ghi nhớ bằng những cặp ký hiệu rất chặt chẽ.

Nghề đoán Dịch coi trọng hai thứ: lúc nào và ở đâu. Thời gian được ghi bằng can chi, và đó cũng là một dạng số. Còn phương hướng của sự vật được ghi bằng ngũ hành của bát quái, và đó cũng là số. Thiên can, địa chi, bát quái, ngũ hành đều có một con số đi kèm.

Mười thiên can chia năm âm năm dương, số lẻ là dương, số chẵn là âm. Mười hai địa chi chia sáu âm sáu dương, theo cùng lệ. Can dương đi với chi dương, can âm đi với chi âm, ghép lại thành sáu mươi cặp, tức sáu mươi hoa giáp, dùng để gọi tên năm, tháng, ngày, giờ. Phát minh ấy có sức ảnh hưởng không nhỏ tới lịch sử và đời sống xã hội của người xưa.

Với tháng, địa chi gán như sau: Dần là tháng giêng, rồi lần lượt Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi cho các tháng hai đến mười, Tý là tháng mười một, Sửu là tháng mười hai. Với giờ, mỗi chi chiếm hai tiếng đồng hồ: Tý từ 23 đến 1 giờ, Sửu từ 1 đến 3, Dần từ 3 đến 5, Mão từ 5 đến 7, Thìn từ 7 đến 9, Tỵ từ 9 đến 11, Ngọ từ 11 đến 13, Mùi từ 13 đến 15, Thân từ 15 đến 17, Dậu từ 17 đến 19, Tuất từ 19 đến 21, Hợi từ 21 đến 23.

Về số của tám quẻ, phép đoán tượng số dùng số tiên thiên: Càn một, Đoài hai, Ly ba, Chấn bốn, Tốn năm, Khảm sáu, Cấn bảy, Khôn tám. Thuộc dãy này là đã cầm trong tay chiếc chìa khóa thứ nhất.

Chiêm đoán là đọc ra điều tất yếu, không phải đặt cược

Nhiều người coi bói toán là chuyện tin hay không tin, còn người xưa coi nó là chuyện của quy luật.

Kinh Dịch trước hết là một bộ sách chiêm, và việc chiêm dựa vào lý lẽ của Dịch học. Sự vật trong vũ trụ quá phức tạp để có thể dùng một công thức cứng nhắc đoán biến hóa của chúng. Cần một cách nhìn cao và rộng hơn, và bát quái đáp ứng điều đó bằng cách lấy quẻ làm hình ảnh khái quát rồi kết hợp với số lý để suy ra vật cụ thể. Lượng thông tin trong bát quái rộng đến mức không còn gì ở ngoài, tinh đến mức không còn gì ở trong, vì thế nó có khả năng báo trước, phản chiếu và dự đoán.

Mỗi sự vật đều có tính chất riêng và con đường phát triển riêng. Cái gì đã đến lúc xảy ra thì sẽ xảy ra, cái gì không thuộc về quy luật thì sẽ không xảy ra. Tự nhiên là vậy, xã hội cũng vậy. Đoán Dịch vì thế không rơi vào chuyện “tin thì có, không tin thì không”: dù người ta có tin hay không, sự việc và sự biến hóa của nó vẫn nằm đó, độc lập với ý muốn của con người. Hiểu được quy luật ấy là dự báo được kết cục tất yếu.

Qua mấy nghìn năm đã sinh ra hàng trăm lối bói đoán dựa trên Dịch: Lục hào nạp giáp, Mai hoa dịch số, Tứ trụ, phong thủy âm dương, tướng số, Tử vi, Thái ất, Độn giáp, Lục nhâm và nhiều lối khác nữa. Nhìn kỹ thì các lối ấy đều là biến thể hoặc mở rộng của phép đoán bằng bát quái. Phép đoán tượng số được xem là phép nguyên thủy nhất, đơn giản nhất của cả nhóm. Nó dựa vào âm dương, lấy sáu mươi tư quẻ làm khung, rồi chú ý đến các biến số như bốn mùa, năm phương, ngũ hành, can chi, cùng những chuyển động thực tế ngay lúc ấy như thời gian, hoàn cảnh, tiết trời, âm thanh.

Đoán dựa vào người, không dựa vào vật thiêng

Thứ đứng giữa câu hỏi và câu trả lời không phải là một món đồ có phép màu, mà là người đang ngồi đó.

Điểm tựa của phép đoán là bộ não và tư duy của chính người đoán. Âm dương ngũ hành của Chu Dịch cung cấp lý lẽ, thời gian và không gian cung cấp bối cảnh, vật chất là thứ cần đoán, bát quái là ngôn ngữ trình bày. Cái người ta gọi là ngộ tính thực chất là mức độ lĩnh hội, còn việc thông tin dội lại từ sự vật chính là thứ đang được giải mã.

Một điểm hay của phép này là tính chủ động. Người đoán không cần đối phương kể lể, cũng không cần đối phương tình nguyện. Chỉ cần tâm đã chuyên chú, lấy thời điểm hoặc chỗ gặp vật làm cơ sở để dựng quẻ, thì muốn biết chuyện của ai là biết chuyện của người ấy. So sánh cho dễ hiểu: xem chỉ tay là kiểu bị động, người được xem phải xòe tay ra mới thấy. Còn xem tướng mặt là kiểu chủ động, vì gương mặt luôn lộ ra ngoài dù chủ nhân có muốn hay không.

Còn về chuyện bắt đầu một lần gieo cho đúng cách, mời đọc thêm bài về gieo quẻ đúng cách. Điều đầu tiên luôn là trong tâm có một việc rõ ràng, rồi mới đến giờ và số.

Đạo lớn thì giản dị

Mỗi lớp quy tắc chồng thêm là một lớp bụi phủ lên cái gốc, nên người xưa mới chuộng sự đơn sơ.

Nguyên tắc căn bản nhất của Dịch học nằm trong bốn chữ đại đạo chí giản. Đạo của vũ trụ bình thường, rõ ràng như mặt trời mặt trăng chiếu sáng, mọi chuyện thế gian cũng vậy. Về sau có người cố làm ra vẻ huyền bí, giữ riêng kín đáo, bỏ giản dị mà theo phức tạp, khiến các lối đoán trở nên rối rắm, người học càng khó nắm. Thế nhưng bản chất của Dịch lại là sự đơn giản.

Pháp vô cao hạ, đắc đạo vi chân; dược vô quý tiện, trị bệnh vi lương.

Câu ấy nói rằng phép không phân cao thấp, hiểu đạo là phép thật; thuốc không phân sang hèn, khỏi bệnh là thuốc hay. Nhiều phép hiện hành bắt người học nhớ hàng đống thần sát, khẩu quyết, thao tác rối rắm, tới lúc đoán lại không biết bắt đầu từ đâu. Thực ra chỉ cần phân rõ thể dụng, nắm khái niệm thời gian và không gian, để ý âm dương tiêu trưởng, bốn mùa vượng suy, ngũ hành sinh khắc. Đủ rồi.

Một điều quan trọng nữa là phải hiểu trong âm có dương, trong dương có âm, và dùng nó linh hoạt. Đoán quẻ cần sự mềm dẻo, vì Dịch không có công thức, nó chỉ có quy luật và cho ta một xu thế. Nắm được âm dương ngũ hành thì học và dùng đều đơn giản; không nắm được thì càng dùng càng rối. Có quẻ rồi, hãy chuyển sang tư duy hình tượng và linh cảm, đừng kẹt vào những lời giảng khó hiểu của cổ nhân. Phép không có phép cố định, không cần bám lấy phép xưa, chỉ cần lòng hợp với lý Dịch để thông suốt tượng quẻ.

Đoán chuẩn cần đức dày

Có một điều kiện ít ai nhắc tới khi bàn về độ chính xác: nó không nằm hoàn toàn trong kỹ thuật.

Kinh Dịch hướng người ta thuận đạo trời, tu thân dưỡng tính, lo việc nhà việc nước và tích phúc. Chiêm đoán cũng nhắm tới mục đích đó: chỉ ra xu thế và kết quả tất yếu để người ta chọn cái lành. Ai dùng nó để làm điều xấu, đi ngược đạo trời, thì sẽ không linh và sẽ nhận lấy hậu quả. Đức hạnh vì thế đi đôi với kỹ thuật. Đức dày thì nghề mới tinh, đoán mới chuẩn. Người không có đức, chỉ biết lợi dụng lời mơ hồ của quẻ để lừa người, sẽ không tiến bộ được.

Đây cũng là chỗ có một quan điểm đáng suy nghĩ về chuyện giấu nghề. Ngày xưa trong nền nông nghiệp lạc hậu, nhiều thuật sĩ giữ bí quyết gia truyền để kiếm sống, về tình cũng dễ thông cảm. Còn thời nay, giữ khư khư là tự trói tay mình. Chỉ khi học hỏi và bổ sung cho nhau, kỹ năng mới nâng lên được. Hơn nữa những bí quyết riêng thường chỉ là kinh nghiệm góp nhặt, suy cho cùng vẫn chỉ là kỹ nhỏ so với đạo lớn. Người thông đạo lớn thì không để tâm tới kỹ nhỏ. Những danh nhân như Thiệu Khang Tiết hay Lưu Bá Ôn đều viết sách để lại cho đời sau, nhờ vậy họ trở thành những bậc đại sư được người đời ngưỡng mộ.

Nếu giới nghiên cứu Dịch đều cởi mở chia sẻ, trình độ chung sẽ không dậm chân tại chỗ hay chỉ biết bắt chước người xưa, việc đột phá và nâng cao hiểu biết cũng dễ dàng hơn. Muốn chiêm chuẩn, trước hết phải tu đạo và xây đức.

Nguồn: Hoàng Giám, Dịch Hồn – Bát Quái Tượng Số Dự Trắc Pháp.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn