Bài tổng quan
Gieo quẻ đúng cách: ba điều kiện, hai lối lấy quẻ
Hai người gieo cùng một quẻ cho cùng một câu hỏi, một người nhận kết quả rõ ràng, người kia ôm về một quẻ mờ mịt. Khác biệt không nằm ở đồng xu mà ở điều họ mang theo trước khi gieo. Câu hỏi của họ rõ đến đâu, và lòng họ yên đến mức nào?
Mục lục · 8 phần
- 01Ba điều kiện để một quẻ có nghĩa
- 02Ký hiệu âm dương khi tung đồng xu
- 03Cách thứ nhất: lấy quẻ theo thời gian
- 04Cách thứ hai: gieo bằng đồng xu
- 05Tám cung, mỗi cung tám quẻ
- 06Vì sao tám quẻ trong cùng một cung lại xếp như vậy
- 07Hào Thế và hào Ứng theo thứ tự quẻ trong cung
- 08Ba quẻ đọc thử từ hào trên xuống hào dưới
Ba điều kiện để một quẻ có nghĩa
Muốn gieo ra một quẻ dùng được, cần đủ ba yếu tố. Thiếu một trong ba, kết quả chỉ còn là chuyện may rủi. Yếu tố thứ nhất là người gieo phải đúng. Người hỏi cần biết thật chính xác mình đang hỏi điều gì, và chi tiết nào trong câu chuyện là điều mình quan tâm nhất. Giả sử một người hỏi về tình duyên. Nếu chỉ hỏi chung chung thì cứ nam xem Tài, nữ xem Quan. Nhưng nếu điều người ấy thật sự lo là tài sản sau hôn nhân thì phải hỏi tiếp: tài sản đó là bất động sản hay là tiền bạc, trang sức? Bất động sản thuộc Phụ mẫu, còn tiền thuộc Thê tài. Các việc khác cũng tương tự, chỉ chính người hỏi mới biết mình muốn gì, đừng muốn giùm người hỏi. Trường hợp hỏi cho chính bản thân, câu hỏi càng phải rạch ròi để khỏi sai lầm.
Yếu tố thứ hai là quẻ phải đúng. Quẻ đúng hay không trước hết phụ thuộc vào việc người hỏi biết rõ mình muốn gì, từ đó mới tập trung được khi gieo. Điều này không liên quan đến một phương thức hay nghi thức tâm linh nào cả. Mọi nghi thức đi kèm, nếu có, chỉ nhằm giúp người gieo tập trung hơn. Khi gieo, điều quan trọng nhất là đừng nghĩ đến nhiều việc cùng lúc. Nếu có nhiều khúc mắc, hãy chọn theo thứ tự điều gì quan trọng nhất với mình trong hoàn cảnh hiện tại. Ví dụ một người vừa lo công việc vừa lo chuyện yêu đương: nếu mối tình mới quen mấy ngày mà công việc lại đang bất ổn khiến lo lắng, thì nên xem công việc trước.
Yếu tố thứ ba là người xem quẻ phải đúng, nghĩa là phần còn lại nằm ở kỹ thuật của người đọc quẻ. Hai yếu tố đầu thuộc về người hỏi, yếu tố cuối thuộc về người xem.
Ký hiệu âm dương khi tung đồng xu
Có đủ ba điều kiện rồi mới đến lúc đồng xu rời tay.
Không có quy ước riêng cho từng đồng xu. Chỉ có một quy ước chung để xác định một hào là âm hay dương, tùy theo loại xu đang dùng. Với đồng xu cổ như Khải Định thông bảo hay Càn Long thông bảo, ghi nhận như sau:
- Hai mặt chữ, một mặt hình: dương.
- Hai mặt hình, một mặt chữ: âm.
- Ba mặt chữ: âm động.
- Ba mặt hình: dương động.
Với đồng xu hiện đại, điều kiện là ba đồng gieo phải giống hệt nhau. Gọi mặt có số là mặt số, mặt có hình là mặt hình, quy ước như sau:
- Hai mặt số, một mặt hình: dương.
- Hai mặt hình, một mặt số: âm.
- Ba mặt số: âm động.
- Ba mặt hình: dương động.
Cách ghi quẻ là viết từ dưới lên trên. Lần gieo đầu tiên ra hào 1 ở đáy, lần gieo cuối cùng ra hào 6 ở đỉnh. Hào động chính là hào cần đánh dấu để về sau biến thành quẻ biến. Những ai quen gieo bằng giấy bạc có thể xem thêm cách gieo quẻ theo số seri tờ tiền, còn lối gieo tiền cổ có những yếu quyết riêng.
Cách thứ nhất: lấy quẻ theo thời gian
Không có đồng xu trong tay cũng không sao, vì thời gian tự nó chứa đủ số để lập quẻ.
Cách này dựa vào số thứ tự của địa chi, tính Tý là 1, Sửu là 2, và cứ thế đến Hợi là 12. Trong một ngày, giờ Tý bắt đầu từ 23 giờ tối hôm trước đến 1 giờ sáng hôm sau. Phép tính được làm như sau:
- Lấy ngày âm lịch cộng tháng âm lịch cộng số thứ tự của địa chi năm, được kết quả A.
- Lấy A cộng số thứ tự của địa chi khung giờ đang xét, được kết quả B.
- Lấy A chia cho 8, số dư cho ra quẻ thượng theo số thứ tự của tám quẻ.
- Lấy B chia cho 8, số dư cho ra quẻ hạ.
- Lấy B chia cho 6, số dư chỉ hào động.
Số thứ tự tám quẻ đơn là: 1 Càn, 2 Đoài, 3 Ly, 4 Chấn, 5 Tốn, 6 Khảm, 7 Cấn, 8 Khôn.
Ví dụ lấy quẻ vào ngày 13 tháng 5 năm Thìn, giờ Mão (từ 5 giờ đến 7 giờ). Năm Thìn là số 5, giờ Mão là số 4. Ta có A bằng 13 cộng 5 cộng 5, được 23. B bằng 23 cộng 4, được 27. A chia 8 dư 7, quẻ thượng là Cấn. B chia 8 dư 3, quẻ hạ là Ly. B chia 6 dư 3, hào động là hào 3. Vậy được quẻ Sơn Hỏa Bí động hào 3, rồi đem đối chiếu với bảng sáu mươi tư quẻ để dựng thành hình quẻ đầy đủ.
Cách thứ hai: gieo bằng đồng xu
Với đồng xu, mỗi lần tung là một vạch quẻ hiện ra từ đáy lên đỉnh.
Gieo xu tức là tung ba đồng sáu lần, viết kết quả từ dưới lên. Giả sử quy ước mặt có chữ là C, mặt không chữ là H. Hai chữ một hình là dương (CCH), hai hình một chữ là âm (HHC hay CHH), ba chữ là âm động (CCC), ba hình là dương động (HHH). Nếu sáu lần gieo cho kết quả theo thứ tự từ hào 1 đến hào 6 là CCH, HHH, CCH, HHC, CCH, CCC, thì hào 1 dương, hào 2 dương động, hào 3 dương, hào 4 âm, hào 5 dương, hào 6 âm động. Đó là quẻ Thủy Thiên Nhu, động ở hào 2 và hào 6. Cũng như cách lấy quẻ theo thời gian, cuối cùng vẫn phải đối chiếu với sáu mươi tư quẻ để có hình quẻ.
Tám cung, mỗi cung tám quẻ
Quẻ vừa hiện, việc đầu tiên là biết nó thuộc nhà nào, vì mọi lục thân đều tính từ đó.
Sáu mươi tư quẻ được chia thành tám cung, mỗi cung gồm tám quẻ và cùng mang một hành. Hành của cung là mốc để định lục thân cho cả tám quẻ. Danh sách như sau:
- Cung Càn (Kim): Càn vi Thiên, Thiên Phong Cấu, Thiên Sơn Độn, Thiên Địa Bĩ, Phong Địa Quán, Sơn Địa Bác, Hỏa Địa Tấn, Hỏa Thiên Đại Hữu.
- Cung Đoài (Kim): Đoài vi Trạch, Trạch Thủy Khốn, Trạch Địa Tụy, Trạch Sơn Hàm, Thủy Sơn Kiển, Địa Sơn Khiêm, Lôi Sơn Tiểu Quá, Lôi Trạch Quy Muội.
- Cung Ly (Hỏa): Ly vi Hỏa, Hỏa Sơn Lữ, Hỏa Phong Đỉnh, Hỏa Thủy Vị Tế, Sơn Thủy Mông, Phong Thủy Hoán, Thiên Thủy Tụng, Thiên Hỏa Đồng Nhân.
- Cung Chấn (Mộc): Chấn vi Lôi, Lôi Địa Dự, Lôi Thủy Giải, Lôi Phong Hằng, Địa Phong Thăng, Thủy Phong Tỉnh, Trạch Phong Đại Quá, Trạch Lôi Tùy.
- Cung Tốn (Mộc): Tốn vi Phong, Phong Thiên Tiểu Súc, Phong Hỏa Gia Nhân, Phong Lôi Ích, Thiên Lôi Vô Vọng, Hỏa Lôi Phệ Hạp, Sơn Lôi Di, Sơn Phong Cổ.
- Cung Khảm (Thủy): Khảm vi Thủy, Thủy Trạch Tiết, Thủy Lôi Truân, Thủy Hỏa Ký Tế, Trạch Hỏa Cách, Lôi Hỏa Phong, Địa Hỏa Minh Di, Địa Thủy Sư.
- Cung Cấn (Thổ): Cấn vi Sơn, Sơn Hỏa Bí, Sơn Thiên Đại Súc, Sơn Trạch Tổn, Hỏa Trạch Khuê, Thiên Trạch Lý, Phong Trạch Trung Phu, Phong Sơn Tiệm.
- Cung Khôn (Thổ): Khôn vi Địa, Địa Lôi Phục, Địa Trạch Lâm, Địa Thiên Thái, Lôi Thiên Đại Tráng, Trạch Thiên Quải, Thủy Thiên Nhu, Thủy Địa Tỷ.
Nếu cần tra thêm cách nạp giáp của từng cung, có thể đối chiếu với phép nạp giáp tám cung sáu mươi tư quẻ. Điều đáng chú ý là hành của cung quyết định lục thân của từng hào. Cung Càn thuộc Kim, nên trong quẻ Thiên Phong Cấu, mọi hào Thân hay Dậu là Huynh đệ, các hào Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Phụ mẫu, hào Tỵ hay Ngọ là Quan quỷ, hào Dần hay Mão là Thê tài, hào Hợi hay Tý là Tử tôn.
Vì sao tám quẻ trong cùng một cung lại xếp như vậy
Tám người trong một nhà không xếp ngẫu nhiên, mỗi người cách người đầu nhà một bước biến đổi.
Cách sắp xếp quẻ Dịch trong Bốc Dịch Lục hào dựa trên nguyên tắc biến đổi của bộ Liên Sơn: mỗi cung có tám quẻ, thứ tự từng quẻ đi theo quy tắc sau.
- Quẻ thứ nhất của mỗi cung luôn là quẻ thuần, tức Thượng và Hạ giống nhau. Cung được gọi theo tên quẻ đầu tiên này. Ví dụ quẻ đầu tiên cung Càn là Càn vi Thiên, còn gọi là Bát thuần Càn.
- Quẻ thứ hai đổi hào đầu tiên, nghĩa là dương thành âm hoặc âm thành dương, giữ nguyên năm hào còn lại.
- Quẻ thứ ba đổi hào 1 và hào 2, giữ bốn hào còn lại.
- Quẻ thứ tư đổi hào 1, 2, 3, giữ ba hào còn lại.
- Quẻ thứ năm đổi hào 1, 2, 3, 4, giữ hai hào còn lại.
- Quẻ thứ sáu đổi hào 1, 2, 3, 4, 5, giữ hào còn lại.
- Quẻ thứ bảy gọi là quẻ Du hồn, đổi hào 1, 2, 3 và 5, giữ hai hào còn lại.
- Quẻ thứ tám gọi là quẻ Quy hồn, chỉ đổi duy nhất hào 5 so với quẻ Du hồn, giữ năm hào còn lại.
Hào Thế và hào Ứng theo thứ tự quẻ trong cung
Thứ tự trong cung cũng là chiếc chìa khóa tìm ra hào Thế và hào Ứng.
Vị trí của Thế và Ứng phụ thuộc vào thứ tự của quẻ trong cung, và Thế luôn cách Ứng hai hào:
- Quẻ thứ nhất: Thế ở hào 6, Ứng ở hào 3.
- Quẻ thứ hai: Thế ở hào 1, Ứng ở hào 4.
- Quẻ thứ ba: Thế ở hào 2, Ứng ở hào 5.
- Quẻ thứ tư: Thế ở hào 3, Ứng ở hào 6.
- Quẻ thứ năm: Thế ở hào 4, Ứng ở hào 1.
- Quẻ thứ sáu: Thế ở hào 5, Ứng ở hào 2.
- Quẻ thứ bảy (Du hồn): Thế ở hào 4, Ứng ở hào 1.
- Quẻ thứ tám (Quy hồn): Thế ở hào 3, Ứng ở hào 6.
Lấy Thiên Phong Cấu làm ví dụ. Đây là quẻ thứ hai của cung Càn, nên Thế đặt ở hào 1 và Ứng ở hào 4. Hào 1 là Sửu Thổ, thuộc Phụ mẫu vì Thổ sinh Kim. Cứ như vậy, chỉ cần nhớ thứ tự quẻ trong cung là suy ra được vị trí Thế Ứng mà không cần học thuộc từng quẻ riêng.
Ba quẻ đọc thử từ hào trên xuống hào dưới
Quy tắc nghe khô khan cho đến khi đặt vào ba quẻ cụ thể.
Để thấy hết cách các quy tắc ăn khớp, hãy đọc thử ba quẻ, mỗi quẻ liệt kê từ hào 6 xuống hào 1.
Càn vi Thiên là quẻ thứ nhất của cung Càn nên Thế ở hào 6, Ứng ở hào 3. Từ trên xuống: Tuất Thổ Phụ mẫu (Thế), Thân Kim Huynh đệ, Ngọ Hỏa Quan quỷ, Thìn Thổ Phụ mẫu (Ứng), Dần Mộc Thê tài, Tý Thủy Tử tôn. Cả sáu hào đều theo đúng quy tắc: Càn là Kim nên Kim là Huynh đệ, Thổ sinh Kim là Phụ mẫu, Hỏa khắc Kim là Quan quỷ, Mộc là Thê tài, Thủy là Tử tôn.
Đoài vi Trạch cũng là quẻ thứ nhất, cung Kim, nên Thế ở hào 6 và Ứng ở hào 3. Từ trên xuống: Mùi Thổ Phụ mẫu (Thế), Dậu Kim Huynh đệ, Hợi Thủy Tử tôn, Sửu Thổ Phụ mẫu (Ứng), Mão Mộc Thê tài, Tỵ Hỏa Quan quỷ. Ở đây Hợi là Tử tôn vì Kim sinh Thủy, Tỵ là Quan quỷ vì Hỏa khắc Kim, cùng một logic như quẻ Càn nhưng địa chi sắp theo quy ước riêng của quẻ Đoài.
Thiên Hỏa Đồng Nhân là quẻ thứ tám của cung Ly, tức quẻ Quy hồn, nên Thế ở hào 3 và Ứng ở hào 6. Từ trên xuống: Tuất Thổ Tử tôn (Ứng), Thân Kim Thê tài, Ngọ Hỏa Huynh đệ, Hợi Thủy Quan quỷ (Thế), Sửu Thổ Tử tôn, Mão Mộc Phụ mẫu. Cung Ly thuộc Hỏa nên Hỏa là Huynh đệ, Thổ là Tử tôn vì Hỏa sinh Thổ, Kim là Thê tài vì Hỏa khắc Kim, Thủy là Quan quỷ vì Thủy khắc Hỏa, Mộc là Phụ mẫu vì Mộc sinh Hỏa.
Gieo quẻ vì thế là một chuỗi bước chặt chẽ: câu hỏi rõ, lòng chuyên chú, kỹ thuật lấy số hay gieo xu chính xác, tra đúng cung và đúng thứ tự trong cung. Khi chuỗi này vững, quẻ ra mới có thể đọc được bằng các quy tắc vượng suy và sinh khắc về sau.
Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.
