Bài tổng quan
Sáu mươi Hoa Giáp, nạp âm và cách đếm tay tìm Can Chi năm sinh
Dù có hàng ngàn triệu người trên đời, tuổi Can Chi cũng chỉ có sáu mươi, và hai người cùng tuổi chỉ gặp nhau sau mỗi sáu mươi năm. Nhưng đứng trước giờ giao thừa, tuổi của đứa trẻ vừa chào đời lại có thể bị đổi bởi một chi tiết nhỏ hơn cả một canh giờ...
Sáu mươi tuổi, không hơn không kém
Trên đời này dù có hàng ngàn triệu người sinh ra, nếu tính theo Can Chi thì cũng chỉ có sáu mươi tuổi, không hơn không kém. Lý do rất đơn giản: mười Can phối với mười hai Chi, nhưng Can Âm chỉ tìm Chi Âm để hợp, Can Dương chỉ tìm Chi Dương để hợp. Năm Can Âm nhân sáu Chi Âm cho ba mươi tuổi Can Chi Âm; năm Can Dương nhân sáu Chi Dương cho ba mươi tuổi Can Chi Dương. Cộng lại thành sáu mươi tuổi, hợp thành bảng Lục thập Hoa giáp.
Từ lúc khai thiên lập địa đến mãi mãi về sau, thời gian cũng chỉ thu gọn trong chiếc bảng này. Loài người và vạn vật cứ sinh sinh diệt diệt không cùng, nhưng vòng quay chỉ có sáu mươi tuổi Can Chi, nên mỗi tuổi chỉ gặp lại chính nó sau sáu mươi năm, trước hay sau đều vậy. Một em bé sinh năm Giáp Dần lên một tuổi thì chỉ có cụ già sáu mươi mốt tuổi, sinh trước em sáu mươi năm, mới cùng tuổi Giáp Dần; hoặc đứa cháu chắt của em, sáu mươi năm sau mới sinh ra, cũng mang tuổi Giáp Dần. Nói cách khác, hai người cùng tuổi Can Chi chỉ có thể cách nhau đúng sáu mươi năm, hoặc bội số của sáu mươi năm, chứ không có khoảng cách nào khác; còn tuổi thì chạy hết một vòng rồi quay về chỗ cũ, như kim đồng hồ đi hết một vòng mặt số. Cũng vì lẽ đó mà mỗi cung trong mười hai Chi chỉ có hai tuổi làm điểm khởi: một tuổi và sáu mươi mốt tuổi.
Nạp âm: mạng của mỗi người
Cùng một tên Can Chi nhưng hành của "mạng" lại khác hành của từng chữ đứng riêng, và chính hành ấy mới đem so với quẻ.
Ai cũng đội một tên Can Chi trong bảng Lục thập Hoa giáp, nên mỗi người bẩm thụ một Mạng thuộc về một trong Ngũ hành. Mạng ấy chính là nạp âm. Chẳng hạn tuổi Giáp Dần mạng Thủy, hay nói gọn là nạp âm Thủy.
Cần lưu ý: hành của Mạng do Can và Chi phối hợp mà thành, khác với hành của Can và của Chi khi tách riêng. Giáp Dần mạng Thủy, nhưng nếu tách riêng thì Giáp thuộc Mộc và Dần cũng thuộc Mộc. Quý Sửu mạng Mộc, nhưng tách riêng thì Quý thuộc Thủy còn Sửu thuộc Thổ. Cần biết tuổi nào mạng gì để về sau đối chiếu xem có hợp với quẻ Hà Lạc hay không.
Bảng nạp âm của sáu mươi Hoa giáp, mỗi hành sáu mạng, đi theo từng cặp Can và từng cặp Chi như sau.
Giáp, Ất
Tý, Sửu: Hải Trung Kim. Dần, Mão: Đại Khê Thủy. Thìn, Tị: Phúc Đăng Hỏa. Ngọ, Mùi: Sa Trung Kim. Thân, Dậu: Tuyền Trung Thủy. Tuất, Hợi: Sơn Đầu Hỏa.
Bính, Đinh
Tý, Sửu: Giản Hạ Thủy. Dần, Mão: Lư Trung Hỏa. Thìn, Tị: Sa Trung Thổ. Ngọ, Mùi: Thiên Hà Thủy. Thân, Dậu: Sơn Hạ Hỏa. Tuất, Hợi: Ốc Thượng Thổ.
Mậu, Kỷ
Tý, Sửu: Tích Lịch Hỏa. Dần, Mão: Thành Đầu Thổ. Thìn, Tị: Đại Lâm Mộc. Ngọ, Mùi: Thiên Thượng Hỏa. Thân, Dậu: Đại Trạch Thổ. Tuất, Hợi: Bình Địa Mộc.
Canh, Tân
Tý, Sửu: Bích Thượng Thổ. Dần, Mão: Tùng Bách Mộc. Thìn, Tị: Bạch Lạp Kim. Ngọ, Mùi: Lộ Bàng Thổ. Thân, Dậu: Thạch Lựu Mộc. Tuất, Hợi: Thoa Xuyến Kim.
Nhâm, Quý
Tý, Sửu: Tang Đố Mộc. Dần, Mão: Kim Bạch Kim. Thìn, Tị: Trường Lưu Thủy. Ngọ, Mùi: Dương Liễu Mộc. Thân, Dậu: Kiếm Phong Kim. Tuất, Hợi: Đại Hải Thủy.
Muốn lấy số Hà Lạc, trước hết phải an Bát Tự
Bốn trụ lần lượt hiện ra theo một trình tự cố định, giống bốn bậc thang mà bước nhầm một bậc là sai cả cầu thang.
Số Hà Lạc xuất phát từ Bát Tự, tức Can Chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh. Muốn an Can Chi, trước hết phải thuộc lòng tên mười Can và mười hai Chi, đếm xuôi ngược thành thạo trên bàn tay cũng như trên địa bàn mười hai cung, nhớ rõ Can Chi nào Âm hay Dương và thuộc hành gì (Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ). Việc an chia làm bốn giai đoạn.
Một, an Can Chi năm sinh, tức tuổi. Cần nhớ cung và tuổi khởi điểm để đếm là một và sáu mươi mốt; đếm hai vòng, vòng thuận đếm từng chục tuổi, vòng nghịch đếm số lẻ dưới một chục; và tính tuổi Bát Tự luôn căn cứ vào tiết Lập Xuân. Hai, an Can Chi tháng sinh. Can của năm sinh sẽ quyết định Can của tháng, phải nhớ luật Ngũ Hổ, tên mười hai Chi tháng và nguyệt biểu; tiết hậu của tháng quyết định tháng sinh, sinh sau tiết tháng nào thì mới kể là sinh vào tháng ấy. Ba, an Can Chi ngày sinh: tra lịch vạn niên và khởi đếm từ ba ngày làm mốc trong tháng là ngày mồng một, mười một, hai mươi mốt. Bốn, an Can Chi giờ sinh: phải tính theo giờ chính thức, Can của ngày sinh quyết định Can của giờ sinh, nhớ luật Ngũ Thử hoặc xem biểu đồ.
Đếm bàn tay tìm Can Chi năm sinh
Dùng bàn tay mười hai Chi hoặc địa bàn mười hai cung, thuộc kỹ Can Chi. Trước hết lấy cung của năm Hành niên làm khởi điểm. Mỗi cung chỉ có hai tuổi làm điểm khởi: nhỏ thì một tuổi, lớn thì sáu mươi mốt tuổi. Phải đếm hai vòng. Vòng thuận chiều đếm từng chục tuổi mỗi cung, và có một ràng buộc: năm Âm thì tìm những cung Âm mà đi, năm Dương thì tìm những cung Dương mà đi. Vòng nghịch chiều đếm số tuổi lẻ dưới một chục, đếm liền từng tuổi một, không bỏ cách cung nào, không phân biệt Âm Dương.
Ví dụ một: người năm Quý Sửu, tuổi ba mươi chín
Lấy cung Sửu và một tuổi làm khởi điểm, đếm xuôi từng chục tuổi: Quý Sửu một tuổi ở cung Sửu, Quý Mão mười một tuổi ở cung Mão, Quý Tị hai mươi mốt tuổi ở cung Tị, Quý Mùi ba mươi mốt tuổi ở cung Mùi. Dừng lại ở cung Mùi, vì đi nữa sang cung Dậu là bốn mươi mốt tuổi thì đã quá ba mươi chín. Từ Mùi đếm ngược từng tuổi một: ba mươi mốt Quý Mùi, ba mươi hai Nhâm Ngọ, ba mươi ba Tân Tị, ba mươi bốn Canh Thìn, ba mươi lăm Kỷ Mão, ba mươi sáu Mậu Dần, ba mươi bảy Đinh Sửu, ba mươi tám Bính Tý và ba mươi chín Ất Hợi.
Ví dụ hai: người năm Giáp Dần, tuổi bảy mươi lăm
Lấy cung Dần và sáu mươi mốt tuổi làm khởi điểm, đếm xuôi từng chục tuổi: Giáp Dần sáu mươi mốt tuổi ở cung Dần, Giáp Thìn bảy mươi mốt tuổi ở cung Thìn. Dừng ở cung Thìn, vì đi nữa sang cung Ngọ là tám mươi mốt tuổi thì quá bảy mươi lăm. Từ Thìn đếm ngược: bảy mươi mốt Giáp Thìn, bảy mươi hai Quý Mão, bảy mươi ba Nhâm Dần, bảy mươi bốn Tân Sửu, bảy mươi lăm Canh Tý.
Năm Bát Tự bắt đầu ở Lập Xuân, không ở đêm giao thừa
Cùng một đêm đón xuân, hai đứa trẻ cách nhau vài giờ có thể mang hai tuổi khác nhau.
Theo phép tính Tử Vi, sinh năm nào chịu tuổi năm ấy: từ giờ Tý giao thừa đến giờ Hợi đêm ba mươi tháng chạp đều thuộc cùng một tuổi Can Chi. Bát Tự tính khác. Bát Tự lấy ngày giờ của tiết Lập Xuân làm cái mốc để tính tuổi. Sang năm mới theo lịch rồi mà Lập Xuân chưa đến (khi Lập Xuân đến muộn), thì ai sinh vào khoảng ấy vẫn còn chịu tuổi năm cũ, mặc dù thiên hạ đang vui xuân và mừng tuổi nhau tưng bừng. Ngược lại, khi còn ở cuối tháng chạp năm cũ mà Lập Xuân đã đến sớm, thì ai sinh sau thời điểm đó được tính ngay tuổi mới.
Hình dung hai trường hợp. Anh A sinh vào giờ Mão của ngày mồng hai tháng giêng năm Quý Sửu, trong khi giờ Lập Xuân rơi vào giờ Thìn cùng ngày; anh sinh trước Lập Xuân nên vẫn mang tuổi Nhâm Tý của năm cũ. Còn anh B sinh vào ngày hai mươi mốt tháng chạp năm Tân Hợi, trước giao thừa, nhưng giờ Lập Xuân rơi vào giờ Dần và anh sinh vào giờ Mão, tức chỉ sau Lập Xuân một giờ; thế là anh được tính ngay tuổi Nhâm Tý của năm mới.
Ngũ Hổ: Can của tháng nằm trong tay Can của năm
Tháng sinh không tự đặt tên cho mình; cha khai họ, con chỉ được thêm tên.
Tháng của Bát Tự khác hẳn cách tính tháng của Tử Vi. Nó phụ thuộc vào Can Chi của năm sinh và vào tiết hậu của từng tháng. Can của năm sinh chi phối Can của các tháng theo nguyên tắc Ngũ Hổ: năm Giáp và năm Kỷ khởi tháng giêng ở Bính Dần; năm Ất và năm Canh khởi ở Mậu Dần; năm Bính và năm Tân khởi ở Canh Dần; năm Đinh và năm Nhâm khởi ở Nhâm Dần; năm Mậu và năm Quý khởi ở Giáp Dần. Từ đó đếm xuôi từng tháng, Can Chi cùng tiến.
Muốn dùng nguyên tắc này phải biết tên Chi của mười hai tháng: tháng giêng Dần, tháng hai Mão, tháng ba Thìn, tháng tư Tị, tháng năm Ngọ, tháng sáu Mùi, tháng bảy Thân, tháng tám Dậu, tháng chín Tuất, tháng mười Hợi, tháng mười một Tý, tháng chạp Sửu. Biết Chi rồi mới đi tìm Can của từng tháng.
Ba ví dụ
Tuổi Giáp Dần sinh tháng năm: tuổi Giáp khởi tháng giêng ở Bính Dần, tháng hai Đinh Mão, tháng ba Mậu Thìn, tháng tư Kỷ Tị, tháng năm Canh Ngọ. Tuổi Kỷ Mùi sinh tháng ba: Kỷ nằm trong cặp Giáp Kỷ nên tính như tuổi Giáp, ra tháng ba là Mậu Thìn; và bất luận tuổi Giáp Thân, Giáp Tuất, Kỷ Mão hay Kỷ Mùi, tất cả đều theo luật của cặp Giáp Kỷ. Tuổi Quý Tị: Quý nằm trong cặp Mậu Quý nên khởi tháng giêng ở Giáp Dần, đếm xuôi Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tị, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi; tháng sáu là Kỷ Mùi. Theo Ngũ Hổ, chỉ cần Can của năm để tính tháng; Chi của năm đứng ngoài, không nhắc tới.
Chính bảng sáu mươi Hoa giáp vừa dùng để gọi Can Chi sáu mươi năm, vừa dùng để gọi Can Chi sáu mươi ngày. Cũng như năm, mỗi ngày phải đi qua sáu mươi ngày mới gặp lại tên Can Chi cũ: hôm nay là ngày Giáp Dần thì sáu mươi ngày trước hoặc sáu mươi ngày sau mới có lại ngày Giáp Dần.
Hai mươi bốn tiết khí đứng sau mỗi tháng
Mỗi tháng của Bát Tự dựng theo một tiết, nên gọi là nguyệt kiến. Mười hai tiết mở đầu mười hai tháng là: Lập Xuân, Kinh Trập, Thanh Minh, Lập Hạ, Mang Chủng, Tiểu Thử, Lập Thu, Bạch Lộ, Hàn Lộ, Lập Đông, Đại Tuyết, Tiểu Hàn. Xen giữa chúng là mười hai khí: Vũ Thủy, Xuân Phân, Cốc Vũ, Tiểu Mãn, Hạ Chí, Đại Thử, Xử Thử, Thu Phân, Sương Giáng, Tiểu Tuyết, Đông Chí, Đại Hàn. Chỉ khi tiết đến thì tháng mới được kể; tiết chưa đến thì chưa kể, mặc cho lịch đã réo là mồng một hay mồng hai. Tiết đến không cố định, có khi sớm có khi muộn đến cả chục ngày, nên sự sớm muộn ấy đổi được cả Can Chi của tháng lẫn của năm.
Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.
