Bài tổng quan
Hợp thập là phu phụ: hai số cộng thành mười thông khí chín cung
Trong chín cung, hai con số đứng chung một nhà hóa ra đang cùng nhau nuôi khí cho cả ngôi nhà. Cộng lại thành mười, chúng gọi nhau là vợ chồng. Nhờ vậy mà hai vận khuyết vượng sơn vượng hướng vẫn còn đường cứu…
Mục lục · 7 phần
- 01Hai số cộng thành mười là vợ chồng của nhau
- 02Vì sao tiên thiên là Kiền Khôn mà hậu thiên là Khảm Ly
- 03Chín cung và chín trù Hồng Phạm
- 04Số sinh số thành và vai trò của thổ
- 05Dùng hợp thập để chữa cho vận Một và vận Chín
- 06Hợp mười để làm gì: để chín cung thông khí với nhau
- 07Gốc của sức bổ cứu: Ngũ thổ ở thiên tâm
Hai số cộng thành mười là vợ chồng của nhau
Thánh nhân đứng giữa trời đất, nghe ra tiếng đồng thanh, khí đồng loại thì tìm nhau: mây theo rồng, gió theo hổ, vật nào có sinh có hình đều theo đúng loại của nó. Từ đó mới có câu kinh nói hai "lộ thần" làm vợ chồng, tức "hợp thập" là phu phụ.
Cộng lộ lưỡng thần vi phu phụ.
Người đời chỉ biết các cặp đối cung: Nhất Bạch Khảm với Cửu Tử Ly, Nhị Hắc Khôn với Bát Bạch Cấn, Tam Bích Chấn với Thất Xích Đoài, Tứ Lục Tốn với Lục Bạch Kiền; sắp thứ tự nào cũng hợp thành mười. Nhưng ít ai biết rằng ngay trong từng cung, ba sơn cũng tự ghép thành đôi vợ chồng:
- Cung Khảm chứa Nhất Nhị Tam, cung Ly chứa Thất Bát Cửu. Nhâm là Tam, Bính là Thất, Quý là Nhất, Đinh là Cửu; ghép lại đều thành mười.
- Cung Kiền chứa Tứ Ngũ Lục, cung Tốn cũng chứa Tứ Ngũ Lục. Tỵ là Tứ, Hợi là Lục, Tuất là Tứ, Thìn là Lục; ghép lại thành mười.
- Cung Cấn chứa Thất Bát Cửu, cung Khôn chứa Nhất Nhị Tam. Thân là Nhất, Dần là Cửu, Mùi là Nhị, Sửu là Bát; ghép lại thành mười.
- Cung Chấn chứa Nhất Nhị Tam, cung Đoài chứa Thất Bát Cửu. Giáp là Nhất, Canh là Cửu, Tân là Thất, Ất là Tam; ghép lại thành mười.
Đó là phép một quẻ ba sơn phối thành vợ chồng.
Bạch Hạc Minh giải thích: hai chữ "phu phụ" chỉ âm dương, mà nói âm dương là nói lẽ tương đối. Nam là dương, nữ là âm; sáng là dương, tối là âm; mạnh là dương, yếu là âm. Hai chữ ấy hàm ý đối đãi nhau. Trong Lạc Thư, bắc Nhất đối nam Cửu, tây nam Nhị đối đông bắc Bát, đông Tam đối tây Thất, đông nam Tứ đối tây bắc Lục, còn Năm và Mười ở trung ương.
Chín số lại chia theo ba nguyên khí. Ba cung Khảm, Khôn, Chấn là thượng nguyên khí, mỗi cung chứa Nhất Nhị Tam. Hai cung Tốn, Kiền là trung nguyên khí, mỗi cung chứa Tứ Ngũ Lục. Ba cung Đoài, Cấn, Ly là hạ nguyên khí, mỗi cung chứa Thất Bát Cửu.
Vì sao tiên thiên là Kiền Khôn mà hậu thiên là Khảm Ly
Có người hỏi thẳng chuyện này, và câu đáp quay về buổi khai thiên. Thuở đầu trời đất chỉ có thủy và hỏa. Khảm là thủy mà ôm một dương là Mậu thổ ở giữa; Ly là hỏa mà ôm một âm là Kỷ thổ ở giữa. Khảm Ly giao nhau thì Mậu đi vào giữa Ly mà thành Kiền, nên Kiền ở trên; Kỷ đi vào giữa Khảm mà thành Khôn, nên Khôn ở dưới. Vì vậy Kiền thuộc về Ly hậu thiên, Khôn thuộc về Khảm hậu thiên.
Khảm Nhất Ly Cửu hợp lại thành mười; ở giữa có Mậu Kỷ là Năm, cộng thành mười lăm, cứ thế suy ra. Kiền Lục, Tốn Tứ, Khôn Nhị, Cấn Bát, Chấn Tam, Đoài Thất cũng đều ghép cặp thành mười, thêm Năm của Mậu Kỷ thì thành mười lăm. Thật ra tiên thiên và hậu thiên cùng một đạo lý.
Chín cung và chín trù Hồng Phạm
Có người cho rằng thuyết cứu cung và thuyết Hồng Phạm hình như chẳng liên quan. Thẩm Trúc Nhưng đáp rằng thánh nhân lập đạo thần diệu, mô phỏng vạn vật để rõ lẽ, nhưng không bám vào vật mà lập tượng, chỉ cần tận ý chứ không lệ thuộc tượng; ai không thần minh thì làm sao làm được thế.
Hoàng cực của Hồng Phạm dựng trên hai chữ Mậu Kỷ. Mậu Kỷ là đất, là nơi trời và người gặp nhau để dựng nên cực của mình. Cho nên số chín trù cũng chia làm hai loại sinh và thành rồi cộng lại mười. Then chốt nằm ở số Năm của trung cung hoàng cực, chỗ thiên và nhân hoán đổi ngay giữa.
Số sinh số thành và vai trò của thổ
Hỏi: số sinh thành có căn cứ không? Đáp bằng câu của sách Dịch:
Thiên nhất, địa nhị, thiên tam, địa tứ, thiên ngũ, địa lục, thiên thất, địa bát, thiên cửu, địa thập; đó là số sinh thành của ngũ hành vậy.
Nghĩa là trời một, đất hai, trời ba, đất bốn, trời năm, đất sáu, trời bảy, đất tám, trời chín, đất mười. Nhiều người học Dịch giải chỗ này quanh co, chỉ có lời của Tử Hoa Tử là đúng: trời đất bao la nhưng số không vượt quá Năm; Năm ở giữa là số của thổ, ngự ở trung ương. Hợp với thủy Nhất ở phương bắc thì thành Sáu; hợp với hỏa Hai ở phương nam thì thành Bảy; hợp với mộc Ba ở phương đông thì thành Tám; hợp với kim Bốn ở phương tây thì thành Chín. Có người đời sau bảo Tử Hoa Tử là sách giả, nhưng văn phong cổ mà nhã, nếu giả thì cũng là văn của người đời Hán.
Bạch Hạc Minh nhắc: số lẻ là thiên, nên Nhất, Tam, Ngũ, Thất, Cửu là thiên; số chẵn là địa, nên Nhị, Tứ, Lục, Thập là địa.
Viên Hương Khê hỏi thêm: vạn vật đều sinh từ thổ và đều trở về thổ, lời ấy có hợp đạo Dịch không? Đáp rằng muôn vật trong trời đất không gì không thông với đạo Dịch, điều đó là nói số thiên Năm, số địa Năm, vị trí Năm gặp nhau mà hợp với mọi thứ. Một chữ "hợp" đã nói lên then chốt của sinh tử. Kiền Khảm hợp Một Sáu, bỏ Một khỏi Sáu còn Năm; Khôn Đoài hợp Hai Bảy, bỏ Hai khỏi Bảy còn Năm; Tốn Ly hợp Bốn Chín, bỏ Bốn khỏi Chín còn Năm; Chấn Cấn hợp Ba Tám, bỏ Ba khỏi Tám còn Năm. Tất cả đều chứa và hợp với số thiên địa Năm ở trung ương Mậu. Đó là cầu sống ngay trong cái chết (có thế chữ "sinh" mới đối chữ "tử"). Ngược lại Kiền mà bỏ Năm thì còn Nhất, giống Khảm Nhất, Ly, Đoài, Cấn cũng thế; đó là cầu cái chết ngay trong cái sống.
Tắc Tiên nhận xét: người phát huy được tinh nghĩa của Hà Đồ Lạc Thư thì hôm nay chỉ có học thuyết Huyền Không, và gần như biết được cách phối hợp sinh thành với các cung lạ trong tám phương. Muốn thấy các số sinh thành biến hóa từ đâu thì chỉ cần dựa vào số Năm, bởi thiên số địa số rốt cuộc cũng chỉ là yếu nghĩa của số Năm; Năm là Mậu Kỷ thổ, nên vạn vật không rời khỏi thổ.
Tổ Miên nói thêm rằng thuyết này vốn của người Hán và Tống bàn Dịch. Nếu đặt tám quẻ quanh chín ô, lấy số thành trừ số sinh thì mọi cặp đều ra Năm: Ly Tốn là chín trừ bốn, Đoài Khôn là bảy trừ hai, Kiền Khảm là sáu trừ một, Cấn Chấn là tám trừ ba. Tám phương vị của bát quái vì thế đều chứa thiên số Năm và địa số Năm.
Còn công dụng của việc sinh thành cộng thành mười thì sao? Số trời đất thông với khí ngũ hành, tức là số Năm và số Mười. Số là hình tượng của sự thần diệu, một âm một dương là đạo; hai khí giao cảm hóa sinh vạn vật, sinh sinh không ngừng, biến hóa vô tận. Sự lớn lên của vạn vật thực là công của Mậu Kỷ, tức công của thổ ở trung ương. Công dụng của hợp thập đều về sức của Mậu Kỷ; khí vận mà được điều này thì mọi việc hanh thông.
Dùng hợp thập để chữa cho vận Một và vận Chín
Chí Y lưu ý rằng phong thủy Huyền Không rất kỵ cuộc "thượng sơn hạ thủy" và rất mừng cuộc "đáo sơn đáo hướng". Một khi được vượng sơn vượng hướng thì chôn vào tháng Dần, tháng Mão là phát. Từ vận 2 tới vận 8, ba nguyên thiên địa nhân đều có vượng sơn vượng hướng; riêng vận 1 và vận 9 thì không có, đó là chỗ khuyết. Nay xét theo thuyết phu phụ hợp thập: vận 1 và vận 9 có Kiền, Tốn, Tỵ, Hợi; vận 2 và vận 8 có Sửu, Mùi; vận 3 và vận 7 có Tý, Ngọ, Quý, Đinh; vận 4 và vận 6 có Canh, Giáp. Trong tam nguyên cửu vận, những cuộc toàn bộ hợp thập này có thể bổ cứu chỗ khuyết vượng sơn vượng hướng nói trên và người học có thể chọn dùng.
Bạch Hạc Minh tính rằng xếp đủ chín cung chín vận được 216 cuộc, trong đó chỉ vận 1 và vận 9 không có cuộc vượng sơn vượng hướng. Vượng sơn vượng hướng chính là "châu bảo tuyến"; hai vận khuyết kia có thể chọn cuộc toàn cuộc hợp thập để bổ cứu.
Hợp thập có ba tình huống.
Tình huống một: toàn cuộc hợp thập
Trong ba số của mỗi cung có hai số cộng thành mười: hoặc hai phi tinh sơn và hướng, hoặc số vận bàn cộng với phi tinh của sơn, hoặc số vận bàn cộng với phi tinh của hướng. Hai mươi bốn cuộc ấy như sau:
- Sơn Kiền hướng Tốn: vận 1, vận tinh và hướng tinh hợp mười; vận 9, vận tinh và sơn tinh hợp mười.
- Sơn Hợi hướng Tỵ: vận 1, vận tinh và hướng tinh hợp mười; vận 9, vận tinh và sơn tinh hợp mười.
- Sơn Tốn hướng Kiền: vận 1, vận tinh và sơn tinh hợp mười; vận 9, vận tinh và hướng tinh hợp mười.
- Sơn Tỵ hướng Hợi: vận 1, vận tinh và sơn tinh hợp mười; vận 9, vận tinh và hướng tinh hợp mười.
- Sơn Sửu hướng Mùi: vận 2, vận tinh và hướng tinh hợp mười; vận 8, vận tinh và sơn tinh hợp mười.
- Sơn Mùi hướng Sửu: vận 2, vận tinh và hướng tinh hợp mười; vận 8, vận tinh và sơn tinh hợp mười.
- Sơn Tý hướng Ngọ: vận 3, vận tinh và hướng tinh hợp mười; vận 7, vận tinh và sơn tinh hợp mười.
- Sơn Quý hướng Đinh: vận 3, vận tinh và hướng tinh hợp mười; vận 7, vận tinh và sơn tinh hợp mười.
- Sơn Ngọ hướng Tý: vận 3, vận tinh và sơn tinh hợp mười; vận 7, vận tinh và hướng tinh hợp mười.
- Sơn Đinh hướng Quý: vận 3, vận tinh và sơn tinh hợp mười; vận 7, vận tinh và hướng tinh hợp mười.
- Sơn Canh hướng Giáp: vận 4, vận tinh và sơn tinh hợp mười; vận 6, vận tinh và hướng tinh hợp mười.
- Sơn Giáp hướng Canh: vận 4, vận tinh và hướng tinh hợp mười; vận 6, vận tinh và sơn tinh hợp mười.
Tình huống hai: vận tinh của từng cặp cung đối nhau hợp mười
Ví dụ các cặp Khôn Cấn, Cấn Khôn, Thân Dần, Dần Thân thuộc vận 5.
Tình huống ba: thiên tâm thập đạo, luận hình thế không luận số
Khi long đến và hướng thủy kéo thành một đường thẳng, các sao tọa và hướng lại đương vượng thì cũng gọi là hợp mười. Trường hợp này nhất định hình thế Loan Đầu phải chia đều hai bên. Nếu long đến là của quẻ thế thì không dùng được cách hợp mười.
Hợp mười để làm gì: để chín cung thông khí với nhau
Công dụng của hợp mười là thông khí, nên cũng gọi là thông quái: các quẻ trong cả cuộc thông khí với nhau, hai quẻ sơn và hướng cũng thông khí với nhau. Giả sử vận tinh và sơn tinh của chín cung đều hợp thành mười, mỗi cung có hai khí thông nhau. Khí Tam mộc thông với Thất kim, nên sao Thất vượng thì sao Tam cũng vượng và ngược lại, hai khí đều có thể vượng đinh. Bát và Nhị của quẻ Ly thông nhau, Bát và Nhị của quẻ Kiền thông nhau, Cửu và Nhất của quẻ Đoài thông nhau, Nhất và Cửu của quẻ Cấn thông nhau, Lục và Tứ của quẻ Tốn thông nhau, Ngũ và Ngũ của quẻ Chấn thông nhau.
Giữa quẻ này với quẻ khác cũng thông: quẻ Khảm thông với trung cung, trung cung thông với quẻ Ly, quẻ Ly thông với quẻ Tốn và quẻ Khôn, quẻ Tốn thông với quẻ Cấn và quẻ Đoài, quẻ Ly thông với quẻ Kiền, quẻ Cấn thông với quẻ Chấn. Chín cung thông lẫn nhau như vậy nên chủ về vượng nhân đinh toàn bộ.
Lấy vận 7 làm ví dụ: sơn Tý hướng Ngọ nghiêng về vượng đinh, còn sơn Ngọ hướng Tý nghiêng về vượng tài. Sở dĩ có hai khuynh hướng là vì khác biệt giữa trường hợp vận tinh hợp với sơn tinh thành mười và trường hợp vận tinh hợp với hướng tinh thành mười. Với sơn Ngọ hướng Tý, vận tinh và hướng tinh của mỗi cung đều hợp mười, cả chín cung thông nhau, chủ về vượng tài. Vì toàn cuộc hợp mười nên dù không phải vượng sơn vượng hướng cũng có công hiệu như vượng sơn vượng hướng. Đây là sự bổ cứu của toàn cuộc hợp mười cho vận 1 và vận 9.
Gốc của sức bổ cứu: Ngũ thổ ở thiên tâm
Sức bổ cứu ấy dựa trên nguyên lý nào? Đó là tác dụng của thiên tâm Ngũ thổ. Thiên tâm của hậu thiên bát quái là Ngũ Hoàng thổ. Số sinh thành của tiên thiên bát quái là: Nhất Lục là bạn bè sinh thành thủy, Nhị Thất là bằng hữu sinh thành hỏa, Tam Bát là đồng tông sinh thành mộc, Tứ Cửu là anh em sinh thành kim. Việc sinh thành hoàn toàn nhờ vai trò của thổ trung ương: Nhất là nguyên nhân sinh ra, Lục là thành quả; Nhị là nguyên nhân, Nhị hợp Ngũ thì được Thất nên Thất là thành quả; Tam là nguyên nhân, Tam hợp Ngũ thành Bát nên Bát là thành quả; Tứ là nhân, Tứ hợp Ngũ thành Cửu nên Cửu là quả. Các nguyên nhân sinh ra đều được thai nghén trong thổ để thành thủy, hỏa, mộc, kim.
Ngoài các cặp Nhất Lục, Nhị Thất, Tam Bát, Tứ Cửu tương hợp sinh thành, còn có Ngũ và Thập cùng đi ở trung cung là thổ. Ngũ là Mậu dương, Thập là Kỷ âm, hợp thành thổ Mậu Kỷ. Thổ là đất đai, Ngũ ở giữa, Thập là tám cung xung quanh. Trong tám cung, các cung đối nhau đều hợp mười: Khảm Nhất với Ly Cửu, Kiền Lục với Tốn Tứ, Đoài Thất với Chấn Tam, Cấn Bát với Khôn Nhị; bốn phía ngang dọc đối nhau đều hợp mười. Thêm thiên tâm Năm thì cộng thành mười lăm, tạo nên "thiên tâm thập đạo" của hậu thiên bát quái. Vì vậy mọi số hợp mười đều chứa tác dụng của Ngũ thổ và thông với thiên tâm Năm. Chỉ cần một cung vượng thì cả tám cung cùng vượng: quẻ sơn vượng thì quẻ hướng cũng vượng. Đó là nguyên nhân âm dương hợp mười bổ cứu được chỗ khuyết của sơn hướng.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
