Bài tổng quan
Chọn hướng nhà, tính vận và xếp hai mươi bốn sơn vào ba nguyên
Một căn nhà có thể cùng lúc tựa lưng vào núi, nhìn ra sông, mở cổng ra một con phố nhỏ và hứng nắng từ phía khác. Vậy mặt nào mới thực sự là mặt trước? Người xưa có mười cách để chọn, và chọn xong còn phải biết căn nhà đang đứng trong khúc thời gian nào…
Mục lục · 7 phần
- 01Mười cách chọn mặt trước của một ngôi nhà
- 02Tam nguyên, cửu vận và nhịp sáu mươi năm, hai mươi năm
- 03Đãng quái: khi một quẻ vào trung cung, tám quẻ kia dời chỗ
- 04Lượng thiên xích: cây thước đo thiên vận
- 05Chín ngôi sao, hai cách bay: thuận và nghịch
- 06Hai mươi bốn sơn chia theo ba nguyên và hai khí âm dương
- 07Căn nhà này thuộc vận nào: ba cách quyết định
Mười cách chọn mặt trước của một ngôi nhà
Ngoài cách đặt hướng nhà bên cạnh hướng cửa để xem cái nào ứng nghiệm, phái Huyền Không còn lưu truyền mười cách khác để chọn ra “mặt trước” của một công trình. Mỗi cách đều gắn với một hoàn cảnh cụ thể quanh nhà, và nhiều cách còn có tên riêng.
- Lấy bảng số nhà: bất kể nhà có bao nhiêu cửa ra vào, chỉ cần xem hướng của tấm bảng số nhà. Ví dụ một ngôi nhà có cửa trước nhìn ra đường lớn và cửa sau mở ra con đường nhỏ, tấm bảng số 8 lại treo ở cửa sau, địa chỉ nhà cũng ghi theo cửa sau; khi đó đường nhỏ mới là hướng của căn nhà.
- Lấy núi để định tọa: nếu phía sau một tòa nhà lớn có ngọn núi sát gần, thì phương có núi tựa lưng chính là tọa. Thuật ngữ gọi cách này là “Thừa long pháp”.
- Lấy cửa lớn để định hướng: nếu tòa nhà chỉ có duy nhất một cửa lớn thì hướng của cửa ấy là hướng nhà, gọi là “Khí long pháp”.
- Lấy sông nước để định hướng: nếu một phía của tòa nhà nhìn thấy biển, hồ hay sông thì lấy phía ấy làm hướng. Cách này gọi là “Chỉ long pháp”.
- Lấy ánh sáng để định hướng: trong nhà, phương nào nhận nhiều ánh sáng nhất hay sáng nhất thì phương ấy là hướng, gọi là “Dương long pháp”.
- Lấy minh đường để định hướng: phía trước nhà có một khoảng đất trống rộng như công viên, bãi đậu xe, sân banh; lấy khoảng trống đó làm hướng thì gọi là “Hư long pháp”.
- Lấy cửa ra vào chính: một tòa nhà lớn có nhiều đơn vị người ở nhưng tất cả cùng một tọa hướng, thì tọa hướng ấy tính theo cửa lớn của tòa nhà. Nếu có nhiều cửa thì lấy cửa có nhiều người sử dụng nhất.
- Lấy mặt và lưng: tòa nhà lớn có mặt tiền và mặt hậu thì lấy mặt tiền làm hướng, gọi là “Diện long pháp”.
- Lấy đường phố để định hướng: phía trước nhà có con đường thì lấy phương ấy làm hướng. Nếu cả trước lẫn sau đều có đường, lấy con đường lớn nhất, tức nơi xe cộ lưu thông nhiều nhất. Cách này gọi là “Tiệt long pháp”.
- Lấy cửa sổ để định hướng: với căn hộ chung cư, hoặc phần nhà của mình trong một tòa nhà lớn (thường ở trên lầu), lấy phương có nhiều cửa sổ nhất làm hướng.
Dù có cả chục cách, vì hoàn cảnh mỗi căn nhà một khác, nên cơ bản nhất vẫn là hai phương pháp: lấy cửa lớn để định hướng, và lấy “dương” để định hướng.
Tam nguyên, cửu vận và nhịp sáu mươi năm, hai mươi năm
Mọi ngôi nhà đều đứng trong một dòng thời gian, và phái Huyền Không chia dòng ấy ra từng khúc rất rõ.
Tam nguyên là thượng nguyên, trung nguyên và hạ nguyên. Mỗi nguyên dài sáu mươi năm, tức một vòng lục thập hoa giáp. Cửu vận là chín vận, từ vận 1 tới vận 9, mỗi vận kéo dài hai mươi năm, nên chín vận cộng lại là một trăm tám mươi năm.
Ba nguyên được phối với chín vận như sau: thượng nguyên quản ba vận 1, 2, 3; trung nguyên quản ba vận 4, 5, 6; hạ nguyên quản ba vận 7, 8, 9. Vì vậy khí số của tam nguyên cửu vận là một trăm tám mươi năm. Mỗi vận trong chín vận ấy thường gọi là tiểu vận, còn trọn vòng một trăm tám mươi năm gọi chung là một chính nguyên.
Ba chính nguyên lại hợp thành một đại nguyên, và đại nguyên cũng luân phiên bài bố từ vận 1 đến vận 9. Nói cách khác, một nguyên sáu mươi năm là một đại vận trong chín đại vận của đại nguyên, và mỗi đại nguyên tính ra năm trăm bốn mươi năm. Đại nguyên cũng chia ra thượng, trung, hạ, mỗi bậc năm trăm bốn mươi năm, nên một vòng đại nguyên trọn vẹn là một nghìn sáu trăm hai mươi năm.
Tuy vậy, thông thường người nghiên cứu phi tinh chỉ cần biết hiện thời thuộc tiểu vận nào là đủ. Theo cổ tịch, các nhà phong thủy đã liệt kê tam nguyên cửu vận tính từ năm thứ nhất thời Hoàng Đế (theo lịch pháp cổ của Trung Quốc là năm 2697 trước công nguyên) cho đến nay. Mỗi nguyên được chia ba vận, khởi đầu lần lượt từ các năm Giáp Tý, Giáp Thân và Giáp Thìn.
Đọc bảng ấy ta biết năm Giáp Tý 1984 đến năm Quý Mùi 2003 là tiểu vận 7 của hạ nguyên, và từ năm Giáp Thân 2004 đến năm Quý Mão 2023 là tiểu vận 8 của hạ nguyên. Khi một chu kỳ tam nguyên cửu vận hoàn thành, nó lại bắt đầu quay một chu kỳ mới; hai mươi năm là một tiểu vận, cứ thế mà tính.
Đãng quái: khi một quẻ vào trung cung, tám quẻ kia dời chỗ
Trong bản đồ này không có gì đứng yên; chỉ cần đổi một ngôi sao ở giữa, cả tám phương cùng chuyển.
“Đãng” nghĩa là di động. Theo phái Huyền Không, mỗi nguyên vận đều có một quẻ dời vào ở trung cung; khi quẻ ấy ngồi vào trung cung thì các quẻ khác cũng di chuyển theo, tình hình này gọi là “đãng quái”. Cách làm dựa vào thứ tự cửu cung của Lạc Thư để phối với bát quái Văn Vương. Khi nguyên vận đổi, quẻ vào trung cung cũng đổi, rồi các quẻ khác lần lượt bay vào cung của chúng theo đúng thứ tự, sự di động này tuần hoàn không ngừng nghỉ.
“Lượng thiên xích” là tên gọi chỉ thứ tự bộ pháp của Lạc Thư, vì thế đãng quái và lượng thiên xích tuy là hai tên nhưng ý nghĩa thông nhau. Cùng một thứ ấy còn được gọi là “Bài sơn chưởng quyết”, “Huyền Không đãng quái”, “Bát quái tương đãng”, “Phi tinh bộ pháp”, “Huyền Không tử bạch”… Danh từ khác nhau nhưng đều chỉ quỹ tích bay của chín ngôi sao.
Lượng thiên xích: cây thước đo thiên vận
Cây thước này không đo chiều dài; nó đo độ mạnh yếu của thời gian đối với một mảnh đất.
Lượng thiên xích còn gọi là “Cửu tinh đãng quái” hoặc “Bài sơn chưởng quyết”. Nó đi theo thứ tự các số của Lạc Thư, rồi nhà phong thủy căn cứ vào các sao nằm trong từng cung mà tính tốt xấu, họa phúc cho dương trạch hay âm trạch. Cái tên “lượng thiên xích” có nghĩa là phương pháp tính thiên vận: giống như thước đo góc dùng để tính góc độ của vòng tròn, phái Huyền Không cho rằng nó đo được độ suy vượng của thiên vận đối với một cuộc đất.
Hình đồ Lạc Thư ghi tên các sao Tử Bạch, nhưng khi dùng, người ta chỉ lấy các con số để đại diện. Hãy đi theo tuyến từ số năm ở trung cung: bước sang số sáu ở tây bắc, rồi tới số bảy ở tây, và cứ tiếp tục như vậy đến hết, ta sẽ thấy tổng cộng chín bước:
- Từ trung cung sang tây bắc.
- Từ tây bắc sang tây.
- Từ tây sang đông bắc.
- Từ đông bắc sang nam.
- Từ nam sang bắc.
- Từ bắc sang tây nam.
- Từ tây nam sang đông.
- Từ đông sang đông nam.
- Từ đông nam trở về trung cung.
Hiểu bộ pháp lượng thiên xích, tức bức “cửu tinh đãng quái” này, mới có thể hiểu công thức bài bố tinh bàn cho từng vận của hai loại trạch, nhà ở và mồ mả.
Chín ngôi sao, hai cách bay: thuận và nghịch
Mỗi ngôi sao đều từng được ngồi vào chỗ giữa, và mỗi lần ngồi, nó có thể chọn đi xuôi hoặc đi ngược.
Chín phi tinh Huyền Không chính là chín sao của Lạc Thư, và vị trí gốc của chúng như sau:
- Nhất Bạch Tham Lang ở phương bắc.
- Nhị Hắc Cự Môn ở tây nam.
- Tam Bích Lộc Tồn ở phương đông.
- Tứ Lục Văn Khúc ở đông nam.
- Ngũ Hoàng Liêm Trinh ở trung cung.
- Lục Bạch Vũ Khúc ở tây bắc.
- Thất Xích Phá Quân ở phương tây.
- Bát Bạch Tả Phù ở đông bắc.
- Cửu Tử Hữu Bật ở phương nam.
Bạch là màu trắng, hắc là đen, bích là biếc, lục là xanh, hoàng là vàng, xích là đỏ, tử là tía; những chữ này là màu gắn với từng sao.
Mỗi sao trong chín sao đều có thể được xếp vào trung cung. Lúc nó ở trung cung sẽ có hai tình huống: bay thuận và bay nghịch. Bay thuận là các sao còn lại lần lượt vào các cung theo thứ tự bình thường của bộ pháp lượng thiên xích; chẳng hạn khi Nhất vào trung cung thì Nhị tới cung Kiền (tây bắc), kế đó Tam tới cung Đoài (tây), và cứ như thế. Bay nghịch là các sao còn lại đi ngược thứ tự bình thường: khi Nhất vào trung cung thì Cửu tới cung Kiền, tiếp đó Bát tới cung Đoài.
Như vậy mỗi sao nhập trung cung có hai cách bay, với chín sao thành mười tám kiểu. Chính mười tám kiểu bay thuận nghịch ấy là nền để lập chính quái bàn.
Hai mươi bốn sơn chia theo ba nguyên và hai khí âm dương
Trước khi xếp sao vào chín cung, phải biết mỗi phương trên la bàn thuộc nguyên nào và mang khí gì.
Dù là âm trạch hay dương trạch, muốn bài bố tinh bàn để luận tốt xấu thì trước hết phải biết tọa hướng. Trong phái Huyền Không, tinh bàn ấy gọi là “Ai tinh chính bàn”, còn có tên “Hạ quái đồ” hay “Ai tinh bàn”. “Ai” ở đây có nghĩa là lần lượt theo thứ tự, vậy nên các tên này đều chỉ cách xếp các sao theo thứ tự. Để lập được chính quái bàn, phải nắm vững mười tám cách bay thuận nghịch của lượng thiên xích.
Có một khái niệm cần hiểu trước, gọi là “Tam nguyên đại quái long”, cũng có thể gọi gọn là “Tam nguyên đại quái”, “Tam nguyên long” hay “Tam nguyên quái”. Thông thường la bàn có hai loại cơ bản là “Tam nguyên bàn” và “Tam hợp bàn”; hai mươi bốn sơn âm dương của Tam nguyên bàn đi theo “Tam nguyên đại quái long”.
Tam nguyên đại quái long lấy hai mươi bốn sơn chia theo hai hướng: một là phân thành ba quái thiên nguyên, địa nguyên, nhân nguyên; hai là phân thành âm quái và dương quái. Chia xong, ta có sáu nhóm:
- Thiên nguyên quái dương: Kiền, Tốn, Cấn, Khôn.
- Thiên nguyên quái âm: Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
- Địa nguyên quái dương: Giáp, Canh, Nhâm, Bính.
- Địa nguyên quái âm: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
- Nhân nguyên quái dương: Dần, Thân, Tỵ, Hợi.
- Nhân nguyên quái âm: Ất, Tân, Đinh, Quý.
Một Ai tinh chính quái bàn gồm thiên bàn, sơn bàn và hướng bàn. Các sao của thiên bàn bay rất đơn giản vì loại sao này chỉ bay thuận, không có chiều nghịch. Còn sơn bàn và hướng bàn thì phải phân biệt bay thuận hay bay nghịch, và điều này căn cứ vào âm dương của các vận tam nguyên.
Căn nhà này thuộc vận nào: ba cách quyết định
Cùng một mái nhà, hỏi “nó mấy tuổi” và hỏi “ai đang sống trong đó” có thể ra hai vận khác nhau.
Trước khi lập tinh bàn còn phải biết trạch vận của hai loại trạch, nhà ở và mồ mả. Có nhiều cách quyết định trạch vận, thông thường có ba cách.
Dựa theo vận lúc xây dựng
Với âm trạch, lấy năm hạ táng để xem thuộc nguyên vận nào. Chẳng hạn hạ táng vào thời gian vận 6 thì ngôi mộ ấy thuộc vận 6, và tính cát hung bằng tinh bàn vận 6. Dương trạch cũng tính theo thời gian xây dựng: ngôi nhà xây vào vận 7 thì gọi là nhà vận 7, muốn luận phong thủy tốt xấu của nó phải dùng tinh bàn vận 7.
Tùy vận mà thay đổi
Không cần kể hạ táng hay xây dựng vào lúc nào, chỉ căn cứ vào nguyên vận ở thời điểm xem phong thủy, rồi dùng tinh bàn của vận ấy để tính cát hung. Chẳng hạn ngôi mộ hạ táng vào vận 6, nhưng tới vận 8 mới xem phong thủy, thì lấy tinh bàn vận 8 mà luận. Một tòa nhà xây thời vận 6, tới vận 8 mới xem, cũng lấy tinh bàn vận 8.
Địa linh nhân kiệt
Với âm trạch, tính theo năm hạ táng: hạ táng vào vận 6, dù tới vận 7 mới xem phong thủy vẫn dùng tinh bàn vận 6 để luận cát hung. Còn dương trạch thì không kể xây vào vận nào, chỉ luận theo nguyên vận của thời gian người vào ở. Ví dụ một ngôi nhà xây từ năm 1964 đến năm 1983, nhưng mãi tới khoảng từ năm 1984 đến năm 2003 mới có người đến mở cửa hiệu buôn bán, thì lấy vận 7 để tính cát hung.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
