Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Lưu niên và lưu nguyệt: cách xếp sao theo năm và theo tiết khí

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202612 phút đọc1 lượt đọc
Lưu niên và lưu nguyệt: cách xếp sao theo năm và theo tiết khí

Ông Uông chưa từng mua bán cổ phiếu suốt năm mươi năm, vậy mà năm ấy bỗng dốc một khoản lớn vào thị trường và chỉ giữ lại được hai phần mười. Người xem nhà chỉ vào một ngôi sao đang đứng đúng ngay cửa phía tây. Ngôi sao ấy tên là…


Bốn lớp tinh bàn chồng lên nhau theo thời gian

Phái Đại Huyền Không Phi Tinh rất coi trọng việc phối hợp nguyên vận, và đó là điều ta đã biết. Nhưng thực tế người ta còn chú ý tới “tứ lưu tinh bàn”, gồm bốn loại:

  • Lưu niên tinh bàn: tinh bàn tính theo năm.
  • Lưu nguyệt tinh bàn: tinh bàn tính theo tháng.
  • Lưu nhật tinh bàn: tinh bàn tính theo ngày.
  • Lưu thời tinh bàn: tinh bàn tính theo giờ.

Các nhà phong thủy Huyền Không cho rằng vận của một ngôi trạch, ngoài đại vận và tiểu vận, đôi khi còn bị ảnh hưởng bởi bốn loại tinh bàn này.

Lưu niên tinh bàn: lấy tiết Lập Xuân làm mốc năm mới

Năm của phái Huyền Không không bắt đầu vào ngày mồng một Tết, mà vào lúc xuân bắt đầu.

Lưu niên tinh bàn lấy thời điểm bắt đầu tiết Lập Xuân làm chuẩn. Ví dụ năm Mậu Dần 1998: đến ngày mồng 8 tháng giêng âm lịch (tức ngày 4 tháng 2 dương lịch) mới bắt đầu tiết Lập Xuân. Vì thế từ mồng 1 tới mồng 7 tháng giêng vẫn thuộc về lưu niên phi tinh của năm trước (sao Tam Bích Lộc Tồn nhập trung cung); đến ngày mồng 8 tháng giêng mới tính là năm Mậu Dần (sao Cự Môn nhập trung cung). Thông thường, ngày bắt đầu tiết Lập Xuân của năm mới rơi vào khoảng ngày 4 hoặc 5 tháng 2 dương lịch.

Cách bài bố lưu niên phi tinh là lấy sao bay vào trung cung của năm ấy làm cơ sở tính. Trước tiên phải tìm xem năm đó thuộc năm Giáp Tý nào của thượng nguyên. Quỹ tích sao lưu niên nhập giữa cũng giống như nguyên vận: lấy năm Giáp Tý thượng nguyên làm đầu, cho sao Nhất Bạch vào giữa, rồi cứ mỗi năm một sao theo thứ tự bay nghịch (thứ tự bay nghịch là Cửu, Bát, Thất, Lục, Ngũ, Tứ, Tam, Nhị, Nhất; còn thứ tự bay thuận bắt đầu từ Nhất là Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, Lục, Thất, Bát, Cửu). Mười lăm năm đầu của vòng ấy xếp như sau:

NămPhi tinh bay nghịch vào giữa
Giáp TýNhất Bạch
Ất SửuCửu Tử
Bính DầnBát Bạch
Đinh MãoThất Xích
Mậu ThìnLục Bạch
Kỷ TỵNgũ Hoàng
Canh NgọTứ Lục
Tân MùiTam Bích
Nhâm ThânNhị Hắc
Quý DậuNhất Bạch
Giáp TuấtCửu Tử
Ất HợiBát Bạch
Bính TýThất Xích
Đinh SửuLục Bạch
Mậu DầnNgũ Hoàng

Cứ bài bố như vậy, ta thấy một vòng Giáp là một trăm tám mươi năm; khi gặp lại năm Giáp Tý thì nhất định sao Nhất Bạch lại nhập giữa. Để tra nhanh, có bảng cho biết sao lưu niên bay vào trung cung theo từng nguyên: năm Giáp Tý của thượng nguyên là Nhất Bạch, của trung nguyên là Tứ Lục, của hạ nguyên là Thất Xích. Ví dụ muốn tìm sao nhập giữa của năm Ất Mão thuộc trung nguyên, ta tìm hàng Ất Mão rồi kéo ngang sang cột trung nguyên, được sao Thất Xích. Biết sao nhập giữa của năm rồi, tám sao còn lại cứ theo quỹ tích lượng thiên xích mà bài bố.

Ông Uông và khoản cổ phiếu năm Đinh Sửu

Có một ví dụ về ảnh hưởng của lưu niên phi tinh do Bạch Hạc Minh kể lại. Một người bạn nhờ ông xem phong thủy căn nhà của Uông tiên sinh. Sau khi dùng la bàn đo tọa hướng, ông tính ra nhà mở cửa về hướng tây, và năm ngoái khí vận của căn nhà này rất xấu. Lý do: năm ngoái là năm Đinh Sửu, sao Tam Bích nhập trung cung, sao Ngũ Hoàng Liêm Trinh bay tới phương tây, tức đúng chỗ cửa nhà.

Nghe giảng giải xong, Uông tiên sinh giật mình nói:

– Năm mươi năm nay tôi chưa từng mua bán cổ phiếu, không hiểu sao năm ngoái bỗng nhiên lại đem một khoản tiền lớn đi đầu tư cổ phiếu. Lúc đầu cũng có lời chút ít, nhưng sau cơn sốt vàng thì cổ phiếu của tôi chỉ còn hai mươi phần trăm giá trị ban đầu. Bây giờ nghe ông nói mới biết chuyện hao tài năm ngoái có liên quan tới vận khí phong thủy.

Bạch Hạc Minh đáp: phong thủy đối với trạch vận mỗi năm đều có ảnh hưởng khác nhau, đó gọi là lưu niên phong thủy, nên với việc làm ăn buôn bán cần đặc biệt lưu ý. Uông tiên sinh hỏi tiếp: nếu đầu năm ngoái ông xem phong thủy trước thì có hóa giải được không? Câu trả lời là: nói chung phần lớn vấn đề đều có thể dùng phương pháp phong thủy hóa giải. Cũng như tục ngữ nói, phải trị bệnh ngay từ lúc mới nhiễm. Bệnh của căn nhà vào đầu năm mới nhiễm chưa thâm nhập sâu, nên dễ trị hơn nhiều, có thể làm tai họa lớn thành nhỏ, tai họa nhỏ thành không có.

Nhà của Uông tiên sinh có sao Ngũ Hoàng Liêm Trinh bay tới đại môn, đương nhiên là chiêu tai dân họa, vì đây là đại sát tinh. Kinh có viết: “Sao Ngũ Hoàng không luận sinh khắc, đều là hung.”

Lưu nguyệt tinh bàn: mỗi tháng một ngôi sao nhập giữa

Xã hội đổi thay từng phút, nên một năm dài quá để xoay xở; người ta cần đến cả tinh bàn của từng tháng.

Xã hội ngày nay thay đổi rất nhanh, không phút giây nào ngừng. Trong buôn bán, nhiều lúc được mất chỉ xảy ra trong chớp mắt, muốn bổ cứu cũng không kịp trở tay. Vì vậy các nhà phong thủy Huyền Không cho rằng phi tinh lưu nguyệt cũng sinh ra một sức ảnh hưởng nhất định. Họ nói chỉ cần nắm vững lưu nguyệt tinh bàn của phép Đại Huyền Không phi tinh thì có thể tính ra tốt xấu của từng tháng để xu cát tị hung.

Tháng tính theo tiết khí

Điều cần lưu ý là phái Huyền Không tính tháng theo tiết khí. Muốn nghiên cứu phi tinh lưu nguyệt thì phải biết công thức bài bố nguyệt phi tinh, mà công thức ấy lấy tiết khí làm chuẩn. Trước hết là bài ca quyết hai mươi bốn tiết khí:

Lập xuân, Vũ thủy là tháng giêng, nguyệt kiến là Dần.
Kinh trập, Xuân phân là tháng hai, nguyệt kiến là Mão.
Thanh minh, Cốc vũ là tháng ba, nguyệt kiến là Thìn.
Lập hạ, Tiểu mãn là tháng tư, nguyệt kiến là Tỵ.
Mang chủng, Hạ chí là tháng năm, nguyệt kiến là Ngọ.
Tiểu thử, Đại thử là tháng sáu, nguyệt kiến là Mùi.
Lập thu, Xử thử là tháng bảy, nguyệt kiến là Thân.
Bạch lộ, Thu phân là tháng tám, nguyệt kiến là Dậu.
Hàn lộ, Sương giáng là tháng chín, nguyệt kiến là Tuất.
Lập đông, Tiểu tuyết là tháng mười, nguyệt kiến là Hợi.
Đại tuyết, Đông chí là tháng mười một, nguyệt kiến là Tý.
Tiểu hàn, Đại hàn là tháng mười hai, nguyệt kiến là Sửu.

Xem bài ca ta thấy mỗi tháng có một tiết lệnh và một trung khí; mười hai tháng có mười hai tiết lệnh và mười hai trung khí, cộng lại thành hai mươi bốn tiết khí. Mỗi tiết khí trung bình chiếm khoảng mười lăm ngày. Giao thời tiết Lập Xuân là bước vào tháng giêng theo lịch mặt trời, và tháng giêng gọi là tháng Dần, nghĩa là tháng giêng có nguyệt kiến ở Dần, tức khí mạnh nhất của tháng giêng lấy chữ Dần của địa chi làm đại biểu. Các tháng còn lại suy theo đó.

Ngày giao tiết cụ thể thì tra vạn niên lịch. Nói đại khái, theo dương lịch ta cũng ước lượng được ngày bắt đầu mỗi tiết khí:

Tiết khíNgày dương lịchTiết khíNgày dương lịch
Lập xuân4 hoặc 5 tháng 2Lập thu7 hoặc 8 tháng 8
Vũ thủy18 hoặc 19 tháng 2Xử thử22 hoặc 23 tháng 8
Kinh trập5 hoặc 6 tháng 3Bạch lộ7 hoặc 8 tháng 9
Xuân phân20 hoặc 21 tháng 3Thu phân22 hoặc 23 tháng 9
Thanh minh4 hoặc 5 tháng 4Hàn lộ8 hoặc 9 tháng 10
Cốc vũ19 hoặc 20 tháng 4Sương giáng22 hoặc 23 tháng 10
Lập hạ5 hoặc 6 tháng 5Lập đông7 hoặc 8 tháng 11
Tiểu mãn20 hoặc 21 tháng 5Tiểu tuyết22 hoặc 23 tháng 11
Mang chủng5 hoặc 6 tháng 6Đại tuyết7 hoặc 8 tháng 12
Hạ chí20 hoặc 21 tháng 6Đông chí21 hoặc 22 tháng 12
Tiểu thử7 hoặc 8 tháng 7Tiểu hàn5 hoặc 6 tháng 1
Đại thử22 hoặc 23 tháng 7Đại hàn20 hoặc 21 tháng 1

Theo bảng này, mỗi năm vào ngày 4 hoặc 5 tháng 2 dương lịch là bước vào tiết Lập Xuân, từ đó suy ra sao lưu nguyệt phong thủy của tháng giêng; các tiết khí còn lại cũng suy theo.

Công thức xếp sao theo tháng

Biết ranh giới tiết lệnh rồi, ta xem công thức bài bố lưu nguyệt phi tinh. Bắt đầu từ năm mang chi Tý, vì Tý là chi đứng đầu mười hai chi: tháng giêng của năm Tý, sao Bát Bạch nhập giữa; tháng hai, sao Thất Xích; tháng ba, sao Lục Bạch; tháng tư, sao Ngũ Hoàng. Cứ thế, mỗi tháng sao nhập giữa bay theo thứ tự nghịch, tuần hoàn không ngừng cho đến tháng cuối cùng của năm Tý là tháng mười hai thì sao Lục Bạch nhập giữa. Sang tháng giêng năm Sửu tiếp tục theo thứ tự nghịch ấy thì đến sao Ngũ Hoàng nhập giữa; tháng hai năm Sửu là sao Tứ Lục, và cứ thế suy ra.

Để tra nhanh, sao nhập trung cung của các tháng chia theo ba nhóm năm:

ThángNăm Tý, Ngọ, Mão, DậuNăm Thìn, Tuất, Sửu, MùiNăm Dần, Thân, Tỵ, Hợi
Tháng 1Bát BạchNgũ HoàngNhị Hắc
Tháng 2Thất XíchTứ LụcNhất Bạch
Tháng 3Lục BạchTam BíchCửu Tử
Tháng 4Ngũ HoàngNhị HắcBát Bạch
Tháng 5Tứ LụcNhất BạchThất Xích
Tháng 6Tam BíchCửu TửLục Bạch
Tháng 7Nhị HắcBát BạchNgũ Hoàng
Tháng 8Nhất BạchThất XíchTứ Lục
Tháng 9Cửu TửLục BạchTam Bích
Tháng 10Bát BạchNgũ HoàngNhị Hắc
Tháng 11Thất XíchTứ LụcNhất Bạch
Tháng 12Lục BạchTam BíchCửu Tử

Cách dùng: muốn tra lưu nguyệt phi tinh của tháng sáu năm Mậu Dần (năm 1998), trước hết xem năm Dần nằm ở cột nào (cột những năm Dần, Thân, Tỵ, Hợi), rồi kéo thẳng xuống hàng tháng sáu thì được sao Lục Bạch nhập giữa.

Cửa hiệu Tường Hưng: hai ngôi sao Nhị và Ngũ gặp nhau

Đây là ví dụ do Bạch Hạc Minh kể. Cửa hiệu Tường Hưng ở Thượng Hải do chủ hiệu và mẹ ông thay phiên nhau trông coi. Căn nhà thuộc vận 3, sơn Canh hướng Giáp. Năm Bính Dần, trung nguyên vận 4, sao Nhị Hắc nhập giữa, sao Ngũ Hoàng bay tới khí khẩu. Trong tiết Lập Hạ, Tiểu Mãn của tháng tư, sao Bát Bạch nhập trung cung, sao Nhị Hắc bay tới khí khẩu. Kết quả là chủ hiệu mắc bệnh trước, rồi mẹ ông cũng mắc bệnh, tình hình càng lúc càng nặng, thành bệnh kinh niên, tinh thần khí lực không còn phong độ như thường ngày, thật tệ hại. Đây là cách cuộc hai sao Nhị và Ngũ gặp nhau, rất xấu cho chủ nhân.

Căn nhà này vận 3 sơn Canh hướng Giáp, vị trí cung đông bắc (long thần thủy bao bọc) là sao khí vượng, do đó đương nhiên phải luận tài vận của căn nhà rất tốt. Nhưng trong thời gian mang bệnh kéo dài cả năm, thể lực suy thoái thê thảm. Chuyện bệnh tật theo năm tháng có thể phân tích như sau: lưu niên phi tinh Ngũ Hoàng bay tới phương đông bắc của tọa vị; lưu nguyệt phi tinh Nhị Hắc cũng bay tới phương đông bắc của tọa vị. Hai sao cùng góp mặt hợp thành cách cuộc chủ về gia trưởng gặp hung, cho nên trong tháng ấy phải mang bệnh. (Tọa vị là vị trí ngồi của chủ nhân.)

Theo phái Huyền Không, trường hợp này có thể dùng phép “Di cung hoán bộ” để làm các sao dời chuyển vị trí ngay khi vừa bước sang tháng tư. Tọa vị ban đầu vốn thuộc cung Ly của căn nhà, nay dời sang phạm vi cung Kiền, nên cửa ra vào đang ở phương đông bắc của tọa vị biến thành ở phương đông của tọa vị. Vì thế lưu niên và lưu nguyệt phi tinh thay đổi như sau: cửa ra vào vốn bị lưu niên phi tinh Ngũ Hoàng Liêm Trinh chiếm, sau khi dùng phép “Di cung hoán bộ”, sao chiếm đóng vị trí cửa biến thành Cửu Tử; cửa ra vào vốn bị lưu nguyệt phi tinh Nhị Hắc Cự Môn chiếm, sau khi dùng phép ấy, sao chiếm đóng vị trí cửa biến thành Lục Bạch.

Nhà ông Hàn: cửa tây và sáu lần bệnh nặng của người con gái

Nhà của ông Hàn mở cửa ở hướng tây. Suy lý ra thì năm Đinh Sửu vừa qua, cửa hướng tây là cửa đại hung, vì sao Ngũ Hoàng Liêm Trinh của lưu niên tinh bàn bay tới cửa chính. Sách “Cửu tinh lược đoán” viết: “Cung Ngũ Hoàng Liêm Trinh trấn ở vị trí trung ương, uy dương tám hướng, sắc của nó là vàng, thuộc hành thổ, nên tĩnh mà không nên động, động thì trợ giúp hung khí.”

Cửa chính nhà họ Hàn ở hướng tây, lại đúng lúc sao Ngũ Hoàng Liêm Trinh bay tới, mà cửa ra vào lại là vị trí khí động, nên kích phát sát khí của hung tinh. Vì vậy phải luận rằng khí số năm vừa rồi của nhà họ Hàn rất xấu, gia vận không tốt. Hơn nữa cửa mở ở hướng tây thuộc quẻ Đoài, mà quẻ Đoài đại biểu cho thiếu nữ, nên sức khỏe người con gái nhà họ Hàn có vấn đề. Quả nhiên ông Hàn xác nhận năm vừa rồi con gái ông mắc bệnh nặng tới sáu lần.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia