Bài tổng quan
Tinh bàn xoay theo vận và chín tầng của la bàn họ Tưởng
Cùng một chiếc la bàn, vận 1 thì Nhất ngồi giữa, vận 2 thì Nhị ngồi giữa, và chín ngôi sao đổi chỗ theo từng lần xoay. Chỉ một vòng bàn tay cũng đủ vẽ lại cả Thái cực đồ, vậy mà chiếc la bàn hai kim của Dương công lại bị người đời dùng sai suốt bao năm. Vậy kim nào chỉ hướng, kim nào chỉ cái lý kiêm…
Mục lục · 7 phần
- 01Ngũ nhập trung cung: mỗi vận một lần xoay lại bàn sao
- 02Có bàn nói ra được, có bàn không nói ra được
- 03La bàn hai kim và chuyện kiêm tả, kiêm hữu
- 04Liên Sơn, Quy Tàng và Chu Dịch chỉ là một Dịch
- 05Tiết khí trên la bàn là đường đi của Thái Dương
- 06Hai mươi tám sao có khớp với hai mươi bốn sơn không
- 07Chín tầng của la bàn Tưởng Đại Hồng
Ngũ nhập trung cung: mỗi vận một lần xoay lại bàn sao
Có người hỏi: hai hình đồ thiên văn và địa lý đều dựa vào la kinh để diễn giải, vậy lúc dùng phải dời chuyển phương hướng ra sao? Câu đáp mở ra một chuyện nghe giản dị mà là trục của cả môn Huyền Không: hậu thiên bát quái chính là một tinh bàn, và con số đứng giữa bàn không bao giờ đứng yên.
Khi tính theo vận, số của vận ấy được đưa vào trung cung, các số còn lại bay theo đường Lạc Thư. Lấy vận 2 làm mẫu: Nhị vào giữa, Tam tới Kiền, Tứ tới Đoài, Ngũ tới Cấn, Lục tới Ly, Thất tới Khảm, Bát tới Khôn, Cửu tới Chấn, Nhất tới Tốn. Các vận khác cứ theo đúng nếp ấy mà suy. Vận 1 thì Nhất vào giữa, vận 2 thì Nhị vào giữa, mỗi vận có số trung cung riêng.
Phép tính toán trên bàn tay là mô phỏng Thái cực đồ, có phân chia phương vị rõ ràng.
Câu kinh ấy nhắc rằng tính bằng ngón tay cũng chính là vẽ lại Thái cực đồ trong đầu. Còn chữ "Ngũ nhập trung cung" vốn nói về Lạc Thư, nơi số Năm ngồi giữa. Điều khác biệt của Huyền Không là số ngồi giữa bàn thay đổi theo từng vận chứ không bị đóng đinh ở số Năm.
Có bàn nói ra được, có bàn không nói ra được
Câu hỏi kế tiếp xoay quanh những dòng cuối của Linh Thành Tinh Nghĩa, đại ý rằng có ba bàn truyền được và có ba bàn không truyền được. Thẩm Trúc Nhưng đáp: bàn truyền được là tinh bàn của vận Năm trong Lạc Thư, tức bàn đứng yên với Ngũ Hoàng ngồi giữa. Bàn không truyền được là tinh bàn của lệnh tinh mỗi vận, vì cứ đổi vận thì số trung cung đổi, nên không thể chép sẵn thành một hình cố định. Đó là lý do môn học này mang chữ "Huyền Không" (cái hư huyền, không đóng khung).
Tưởng Đại Hồng xếp chín sao trong tinh bàn vận Năm, có thể đọc từng chữ trong hai mươi bốn sơn. Ngũ Hoàng vào trung cung, các sao bay thuận thì ba chữ ở cung Kiền đều là sao Vũ; bay nghịch thì ba chữ ở cung Tốn cũng là sao Vũ. Âu Dương Thuần có một câu ít ai hiểu:
Kiền khởi sao Tham ở Tốn, Tốn khởi sao Tham ở Kiền.
Người đời nay đọc mãi vẫn mù mờ. Lời giải rất ngắn gọn: sao Tham được chọn làm đại biểu, làm ngôi sao mở đầu của chín sao, nên cung Kiền và cung Tốn hoán đổi vai trò khởi sao cho nhau tùy chiều bay thuận hay nghịch.
La bàn hai kim và chuyện kiêm tả, kiêm hữu
Tạ Thanh Đường hỏi về chiếc la bàn của phái Tam Hợp (phái gắn với Dương Quân Tùng), trên đó có vòng ghép hai kim, thế là nghĩa lý gì. Câu đáp kể rằng chính Dương công đã chế ra loại la bàn này, nhưng khẩu quyết đi kèm đã thất truyền theo truyền thuyết. Về sau người ta gán cho nó cách dùng quen thuộc: kim chính để lập hướng, kim giữa để chỉ "sa", kim ghép để nạp "thủy". Cách dùng ấy từng bị người xưa nghi là sai, nhưng họ không chỉ ra được chỗ sai nằm ở đâu.
Thực ra loại la bàn này sinh ra để kiêm tả kiêm hữu. Kim chính chỉ sơn hay hướng cụ thể, chẳng hạn Kiền là sơn thì Tốn là hướng. Kim giữa nói cái lý Kiền kiêm Hợi, kim ghép nói cái lý Hợi kiêm Kiền. Chúng không dùng để chỉ hướng. Hiểu được chỗ này thì suy rộng ra được bảy mươi hai sơn, sáu mươi long, một trăm hai mươi phân kim.
Về lý, la bàn phải chia thành hai loại cách dùng: "hạ quái" là tinh bàn dùng cho chính hướng, "khởi tinh" là tinh bàn dùng cho kiêm hướng. Kim chính thuộc hạ quái, hai kim giữa và ghép thuộc khởi tinh. Ai không rành lý này mà đem chúng ra chỉ sa nạp thủy thì sa lẫn thủy đều rơi vào "không vong". Có người bảo kim giữa và kim ghép là một tiến một thoái, nói vậy cũng hợp. Còn chuyện cho rằng loại la bàn này do thuật sĩ Dương Đại Niên ở Minh Lý, Giang Tây chế ra thì thật là sai.
Liên Sơn, Quy Tàng và Chu Dịch chỉ là một Dịch
Tăng Liêm Tuyền thắc mắc về việc trên một la bàn lại dùng cả Liên Sơn lẫn Quy Tàng. Thẩm Trúc Nhưng trả lời bằng một nhận xét gọn: cái dụng của Dịch nằm ở hậu thiên, và mấu chốt là đổi chỗ hai số Nhị và Bát.
- Trước khi đổi, đi từ Ly sang Kiền là Chín, Hai, Bảy, Sáu; đi từ Khảm sang Tốn là Một, Tám, Ba, Bốn.
- Sau khi hai ô Nhị và Bát đổi chỗ, từ Ly sang Kiền thành Chín, Tám, Bảy, Sáu; từ Khảm sang Tốn thành Một, Hai, Ba, Bốn.
Cái thần diệu của phép đổi ấy khó mà đo hết. Giới học giả thường nói Liên Sơn, Quy Tàng và Chu Dịch là ba loại Dịch khác nhau, còn ông thì cho rằng chỉ có một Dịch: Liên Sơn lấy Cấn làm đầu, Quy Tàng lấy Khôn làm đầu, và nghĩ cho tới cùng thì chẳng qua đều là Nhị với Bát đổi vị trí mà sinh ra một kiểu biến hóa khác.
Ông dẫn lời La Bí trong "Viêm Đế kỷ": muôn vật khởi đầu và kết thúc đều thịnh ở Cấn, Cấn là quê ở đông bắc, nên lấy Cấn mà bắt đầu thì gọi là Liên Sơn Dịch. Cấn nằm ở đông bắc chính là phương vị hậu thiên, cho thấy thời Viêm Đế đã có hậu thiên bát quái. Cổ nhân bảo tiên thiên và hậu thiên cùng xuất hiện một thời, nên hậu thiên chưa chắc bắt đầu từ Văn Vương, và Liên Sơn cũng chưa chắc là Dịch của nhà Hạ; nó chỉ là kết quả của việc hai số Nhị Bát đổi chỗ.
Thời Tống, sách nào trong dân gian bàn về âm dương ngũ hành đều phải nộp vào phủ quan, không được giữ riêng. Việc họ La còn truyền lại thuyết ấy chưa chắc là bịa. Ngày nay Liên Sơn và Quy Tàng đã thất truyền nên chẳng ai phân nổi thật giả, và những gì bày trên la bàn nay phần nhiều là của người kém hiểu biết tự tiện bày ra.
Tiết khí trên la bàn là đường đi của Thái Dương
Có người thắc mắc vì sao trên la bàn họ Tưởng tiết đông chí lại đặt ở chỗ khác với lẽ thường, dù ai cũng biết đông chí nằm giữa chi Tý. Câu đáp: các tiết khí ghi trên bàn đó không phải để tính mùa, mà là độ Thái Dương đi qua từng cung, dùng trong phép chọn ngày. Ví như cung Tý ứng với Huyền Hiêu; Thái Dương tới Tý, đi ngang Quý, rồi xoay sang cung kế tiếp.
Phép định chỗ Thái Dương đến theo từng sơn như sau. Thái Dương đi theo chiều nghịch ở cung, còn độ số thì tính thuận. Ngày giao tiết rơi vào các sơn thuộc can hay quẻ (Nhâm, Kiền, Tân, Canh...), còn ngày giao khí rơi đúng vào phương của mười hai chi. Mỗi ngày đi một độ, mỗi tháng đi một cung.
| Tháng | Tiết | Sơn Thái Dương đến | Khí | Sơn Thái Dương đến |
|---|---|---|---|---|
| Tháng 1 | Lập xuân | Nhâm | Vũ thủy | Hợi |
| Tháng 2 | Kinh trập | Kiền | Xuân phân | Tuất |
| Tháng 3 | Thanh minh | Tân | Cốc vũ | Dậu |
| Tháng 4 | Lập hạ | Canh | Tiểu mãn | Thân |
| Tháng 5 | Mang chủng | Khôn | Hạ chí | Mùi |
| Tháng 6 | Tiểu thử | Đinh | Đại thử | Ngọ |
| Tháng 7 | Lập thu | Bính | Xử thử | Tỵ |
| Tháng 8 | Bạch lộ | Tốn | Thu phân | Thìn |
| Tháng 9 | Hàn lộ | Ất | Sương giáng | Mão |
| Tháng 10 | Lập đông | Giáp | Tiểu tuyết | Dần |
| Tháng 11 | Đại tuyết | Cấn | Đông chí | Sửu |
| Tháng 12 | Tiểu hàn | Quý | Đại hàn | Tý |
Hai mươi tám sao có khớp với hai mươi bốn sơn không
Câu hỏi này được đáp bằng một chữ "lúc ban đầu thì hợp". Bốn quẻ tứ chính chia nhau mười hai sao: Khảm có Nguy, Hư, Nữ; Ly có Trương, Tinh, Liễu; Đoài có Vị, Mão, Tất; Chấn có Đê, Phòng, Tâm. Bốn quẻ tứ duy mỗi quẻ giữ bốn sao, cộng mười sáu, hợp với mười hai kia thành hai mươi tám.
- Kiền: Lâu, Khuê, Thất, Bích.
- Tốn: Cang, Giác, Chẩn, Dực.
- Cấn: Ngưu, Đẩu, Cơ, Vĩ.
- Khôn: Quỷ, Tỉnh, Sâm, Chuỷ.
Về sau năm tháng trôi đi, độ số của các sao dời khác, nên sự khớp ban đầu không còn nguyên vẹn nữa.
Chín tầng của la bàn Tưởng Đại Hồng
Chiếc la bàn do Thẩm Trúc Nhưng đơn giản hóa từ bàn của Tưởng Đại Hồng gồm chín vòng, đếm từ trong ra ngoài:
- Lạc Thư.
- Tiên thiên bát quái.
- Hai mươi bốn sơn.
- Kiêm hướng và thế quái.
- Sáu mươi bốn quẻ tiên thiên.
- Mười hai chi.
- Hai mươi bốn tiết khí.
- Phân kim sáu hào phi tinh của sơn và hướng.
- Phân kim nạp âm sáu mươi Giáp Tý.
Hai tầng đầu: Lạc Thư và tiên thiên
Tầng thứ nhất bày chín sao theo Lạc Thư, tức nguyên đán bàn, bàn gốc chưa xoay. Tầng thứ hai bày bát quái tiên thiên.
Tầng ba: âm dương của hai mươi bốn sơn
Đây là vòng quan trọng nhất, phân định âm dương cho từng sơn để ghép với khẩu quyết "điên điên đảo". Các hình đồ trạch mệnh bố thuận hay bố nghịch từ vận 1 đến vận 9 đều phải đối chiếu vòng âm dương này. Bàn họ Tưởng đã chia âm dương sẵn nên người theo phái Huyền Không dùng bàn ấy tiện hơn bàn họ Dương.
Màu đỏ và màu đen trên la bàn chia hai mươi bốn sơn theo ba nguyên thiên địa nhân:
| Nguyên | Vai trò | Sơn âm | Sơn dương |
|---|---|---|---|
| Thiên nguyên | Phụ mẫu | Tý, Ngọ, Mão, Dậu | Kiền, Tốn, Cấn, Khôn |
| Nhân nguyên | Thuận tử | Ất, Tân, Đinh, Quý | Dần, Thân, Tỵ, Hợi |
| Địa nguyên | Nghịch tử | Thìn, Tuất, Sửu, Mùi | Giáp, Canh, Nhâm, Bính |
Âm dương của Mậu và Kỷ tùy theo sơn hướng mà định. Những sơn ấy lại phối với số Lạc Thư và chín sao như sau:
- Nhất Bạch Tham Lang, hành thủy: Nhâm, Tý, Quý.
- Nhị Hắc Cự Môn, hành thổ: Mùi, Khôn, Thân.
- Tam Bích Lộc Tồn, hành mộc: Giáp, Mão, Ất.
- Tứ Lục Văn Khúc, hành mộc: Thìn, Tốn, Tỵ.
- Ngũ Hoàng Liêm Trinh, hành thổ: Mậu, Kỷ ở trung ương.
- Lục Bạch Vũ Khúc, hành kim: Tuất, Kiền, Hợi.
- Thất Xích Phá Quân, hành kim: Canh, Dậu, Tân.
- Bát Bạch Tả Phù, hành thổ: Sửu, Cấn, Dần.
- Cửu Tử Hữu Bật, hành hỏa: Bính, Ngọ, Đinh.
Lúc xếp sao theo nguyên vận, bất kể sao đó âm hay dương, tất cả đều vào giữa rồi bay thuận. Bàn sao xếp lần lượt kiểu ấy gọi là quẻ phụ mẫu. Sau đó mới xếp tiếp sao của sơn và sao của hướng: sao nào vào trung cung là âm thì bay nghịch, là dương thì bay thuận. Phi tinh của sơn gọi là quẻ địa, phi tinh của hướng gọi là quẻ thiên.
Thiên địa phụ mẫu tam ban quái.
Điên điên đảo, nhị thập tứ sơn hữu châu bảo; thuận nghịch hành, nhị thập tứ sơn hữu hỏa khanh.
Nghĩa là trong hai mươi bốn sơn xoay theo chiều thuận hay chiều nghịch, có cuộc tốt gọi là "châu bảo", có cuộc xấu gọi là "hỏa khanh".
Một ví dụ cụ thể: vận 1, sơn Tý hướng Ngọ
Vận 1 thì Nhất vào trung cung: Nhị tới Kiền, Tam tới Đoài, Tứ tới Cấn, Ngũ tới Ly, Lục tới Khảm, Thất tới Khôn, Bát tới Chấn, Cửu tới Tốn. Với sơn Tý hướng Ngọ, sao Lục đến sơn và sao Ngũ đến hướng.
Sao Lục vào giữa bay thuận: Thất tới Kiền, Bát tới Đoài, Cửu tới Cấn, Nhất tới Ly, Nhị tới Khảm, Tam tới Khôn, Tứ tới Chấn, Ngũ tới Tốn. Sao Ngũ vào giữa bay nghịch: Lục tới Tốn, Thất tới Chấn, Bát tới Khôn, Cửu tới Khảm, Nhất tới Ly, Nhị tới Cấn, Tam tới Đoài, Tứ tới Kiền.
Kết quả: bàn sơn Tý hướng Ngọ vận 1 được hướng vượng mà sơn không vượng. Lý do là Nhất là lệnh tinh của vận, nên phi tinh Nhất của sơn phải rơi vào sơn, phi tinh Nhất của hướng phải rơi vào hướng thì mới gọi là vượng sơn vượng hướng. Nếu lệnh tinh của sơn lại chạy sang hướng thì gọi là "hạ thủy", chủ về hao người; lệnh tinh của hướng chạy sang sơn thì gọi là "thượng sơn", chủ về phá tài. Ở ví dụ trên, phi tinh của sơn phạm vào cuộc hạ thủy nên sơn không vượng. Cách xếp sao này gọi là "ai tinh", được gọi là bí mật trong các bí mật, ngàn vàng khó mua được. Vận 1 đã làm mẫu thì các vận khác cứ theo đó mà suy.
Riêng vận 5 thì Ngũ ngồi giữa, tám quẻ đều đứng yên đúng chỗ của mình, gọi là nguyên đán bàn. Hai mươi bốn sơn ở vận Năm có mười hai cuộc vượng hướng, khác hẳn mọi vận còn lại.
Vì sao sơn nào âm, sơn nào dương
Thiên can có bốn chữ dương là Giáp, Bính, Canh, Nhâm vì đó là số lẻ; bốn chữ âm là Ất, Đinh, Tân, Quý vì đó là số chẵn. Thứ tự của mười can là: Giáp một, Ất hai, Bính ba, Đinh bốn, Mậu năm, Kỷ sáu, Canh bảy, Tân tám, Nhâm chín, Quý mười.
Địa chi thì Tý, Ngọ, Mão, Dậu thuộc âm; Dần, Thân, Tỵ, Hợi thuộc dương; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thuộc âm. Căn cứ nằm ở những can ẩn trong chi:
- Tý chứa Quý; Ngọ chứa Đinh, Kỷ; Mão chứa Ất; Dậu chứa Tân. Tất cả đều là can âm nên bốn chi này thuộc âm.
- Dần chứa Bính, Giáp, Mậu; Thân chứa Nhâm, Canh, Mậu; Tỵ chứa Mậu, Bính, Canh; Hợi chứa Nhâm, Giáp. Đều là can dương nên bốn chi này thuộc dương.
- Thìn chứa Quý, Mậu, Ất; Tuất chứa Tân, Mậu, Đinh; Sửu chứa Tân, Kỷ, Quý; Mùi chứa Ất, Kỷ, Đinh. Âm nhiều dương ít nên bốn chi này thuộc âm.
Bốn quẻ Kiền, Khôn, Cấn, Tốn thuộc dương vì tổng số hai quẻ đi cặp với chúng trong Lạc Thư đều lẻ: Kiền 6 cộng Khảm 1 là 7; Khôn 2 cộng Đoài 7 là 9; Cấn 8 cộng Chấn 3 là 11; Tốn 4 cộng Ly 9 là 13. Trong Lạc Thư, một và sáu hợp nhau, hai và bảy hợp nhau, ba và tám hợp nhau, bốn và chín hợp nhau; tổng của mỗi cặp là số lẻ, mà số lẻ là dương.
Các tầng bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín
Tầng bốn bày các sao dùng cho việc kiêm hướng và thế quái (quẻ thế). Tầng năm chia sáu mươi bốn trùng quái. Tầng sáu và tầng bảy dùng chung, ghi vị trí Thái Dương theo từng tiết khí và phương vị Thái Dương tam hợp sát.
Khi hạ táng, cần chọn ngày Thái Dương đến sơn, đến hướng, hoặc đến phương tam hợp thì là tốt nhất. Với cuộc sơn Tý hướng Ngọ, các tiết đại hàn, lập xuân Thái Dương đến sơn Tý; thu phân, hàn lộ đến Thìn; tiểu mãn đến Thân. Ba chỗ ấy cùng Tý làm thành tam hợp. Các tiết đại thử, lập thu thì Thái Dương đến hướng Ngọ; tiểu tuyết, đại tuyết đến Dần; xuân phân, thanh minh đến Tuất, cùng Ngọ làm thành tam hợp.
Trong các tiết khí, chọn ngày an táng thì ngày phải hợp mệnh người đã mất, không cần hợp mệnh người còn sống. Cần tránh ngày Thái Tuế của năm đó, ngày Ngũ Hoàng, ngày Tam Sát lâm sơn và ngày Tam Sát lâm hướng.
Bảng dưới đây cho biết với mỗi sơn thì Thái Dương đến sơn, đến hướng và tam hợp sát vào tiết nào.
| Sơn | Thái Dương đến sơn | Thái Dương đến hướng | Tam hợp sát |
|---|---|---|---|
| Nhâm | Lập xuân | Lập thu | Mang chủng đến Khôn, hàn lộ đến Ất |
| Tý | Đại hàn | Đại thử | Tiểu mãn đến Thân, thu phân đến Thìn |
| Quý | Tiểu hàn | Tiểu thử | Lập hạ đến Canh, bạch lộ đến Tốn |
| Sửu | Đông chí | Hạ chí | Cốc vũ đến Dậu, xử thử đến Tỵ |
| Cấn | Đại tuyết | Mang chủng | Thanh minh đến Tân, lập thu đến Bính |
| Dần | Tiểu tuyết | Tiểu mãn | Xuân phân đến Tuất, đại thử đến Ngọ |
| Giáp | Lập đông | Lập hạ | Kinh trập đến Kiền, tiểu thử đến Đinh |
| Mão | Sương giáng | Cốc vũ | Vũ thủy đến Hợi, hạ chí đến Mùi |
| Ất | Hàn lộ | Thanh minh | Lập xuân đến Nhâm, mang chủng đến Khôn |
| Thìn | Thu phân | Xuân phân | Đại hàn đến Tý, tiểu mãn đến Thân |
| Tốn | Bạch lộ | Kinh trập | Tiểu hàn đến Quý, lập hạ đến Canh |
| Tỵ | Xử thử | Vũ thủy | Đông chí đến Sửu, cốc vũ đến Dậu |
| Bính | Lập thu | Lập xuân | Đại tuyết đến Cấn, thanh minh đến Tân |
| Ngọ | Đại thử | Đại hàn | Tiểu tuyết đến Dần, xuân phân đến Tuất |
| Đinh | Tiểu thử | Tiểu hàn | Lập đông đến Giáp, kinh trập đến Kiền |
| Mùi | Hạ chí | Đông chí | Sương giáng đến Mão, vũ thủy đến Hợi |
| Thân | Tiểu mãn | Tiểu tuyết | Đại hàn đến Tý, thu phân đến Thìn |
| Khôn | Mang chủng | Đại tuyết | Hàn lộ đến Ất, lập xuân đến Nhâm |
| Canh | Lập hạ | Lập đông | Bạch lộ đến Tốn, tiểu hàn đến Quý |
| Dậu | Cốc vũ | Sương giáng | Xử thử đến Tỵ, đông chí đến Sửu |
| Tân | Thanh minh | Hàn lộ | Lập thu đến Bính, đại tuyết đến Cấn |
| Tuất | Xuân phân | Thu phân | Đại thử đến Ngọ, tiểu tuyết đến Dần |
| Kiền | Kinh trập | Bạch lộ | Tiểu thử đến Đinh, lập đông đến Giáp |
| Hợi | Vũ thủy | Xử thử | Hạ chí đến Mùi, sương giáng đến Mão |
Hai tầng cuối cùng làm nhiệm vụ phân kim. Tầng tám bày quẻ phân kim Huyền Không, tức phi tinh của sơn và hướng; tầng chín bày nạp âm của sáu mươi hoa giáp. Cả hai chỉ để vận dụng khi cần phân kim cho thật chính xác.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
