Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Mười ba sơn dùng quẻ thế và bốn câu Dương công truyền lại

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202614 phút đọc2 lượt đọc
Mười ba sơn dùng quẻ thế và bốn câu Dương công truyền lại

Có chuyện kể về hai ngàn lượng bạc đổi lấy một bí quyết chỉ vỏn vẹn bốn câu. Từ đó người ta mới biết trong hai mươi bốn sơn chỉ mười ba chữ cần thay sao, mười một chữ thì để nguyên. Thay hay không thay, ranh giới nằm ở vài độ lệch…


Đất tốt mà chưa gặp thời thì chờ

Thẩm Trúc Nhưng viết: đất tốt mà thời không tốt thì chờ thời hợp rồi hãy táng. Trình Tử cũng nói không phải thời thì không táng, và nghĩ cho kỹ chữ "thời" thì khỏi cần giải thích. Cứ bám lấy một mảnh đất nhỏ thì long khí thường hỗn tạp. Nhưng nếu không đúng thời mà lý khí, quái hào phối hợp đúng phép thì sau khi táng vẫn được phúc, như ghi chép về mộ tổ nhà Kê Trung Đường trong "Trạch Đoán" của Chương Trọng Sơn.

Phép dùng thế quái nằm ở bốn câu "Khôn Nhâm Ất" trong chương "Khai Tông Minh Nghĩa" của Thanh Nang Áo Ngữ. Đọc bốn câu ấy thì toàn bàn hai mươi bốn chữ đã lộ một nửa bí mật, mười hai chữ còn lại vẫn ẩn. Rất nhiều người giải thích nhưng đều không thấu lý lẽ của Lạc Thư, chỉ lấy ý riêng mà giảng. Âu Dương Thuần chép từng chữ bàn hai mươi bốn sơn từ "Địa Lý Lục Yếu", có cả ca quyết, nhưng tiếc là không nói nghĩa lý nên người học không có dấu vết để theo. Hình đồ phối quái ông ghi nhìn như đúng mà không đúng, càng làm người đọc rối thêm.

Hồ Bá An từng mang lý thuyết này ra hỏi, và Thẩm Trúc Nhưng đã xếp thành hình đồ để giải. Người học nhờ đó hiểu được thuyết thế tinh và các khẩu quyết trong sách của Âu Dương Thuần.

Hai cung Kiền Tốn đều bố Vũ Khúc

Hai cung Kiền Tốn, chữ nào cũng bố Vũ Khúc, nghe thật đáng ngờ. Nhưng đó chỉ vì hai cung này cùng với lệnh tinh Ngũ ở trung cung lúc tiến lúc lùi. Các nhà thiên văn nói đây là cửa trời và cửa đất: đi thuận thì Kiền là Lục, đi nghịch thì Tốn cũng là Lục. Vì thế phải dời đối cung mà khởi tinh.

  • Ba chữ Tuất Kiền Hợi của cung Kiền: Tuất là Tứ. Nếu Ngũ vào giữa đi nghịch thì từ Tuất tới Thìn là Lục, nên bố tới Thìn là Vũ Khúc. Kiền chứa Lục Ngũ Tứ, Hợi là Lục, từ Thìn đi nghịch tới Tuất cũng là Lục, nên Tuất cũng bố Vũ Khúc.
  • Tốn chứa Tứ Lục Ngũ, Tỵ là Tứ; Ngũ vào giữa, dời vị trí mà khởi tinh thì Tốn Tỵ cũng đều bố Vũ Khúc.

Cách bố ái tinh này gọi là thế quái. Nhưng không phải chữ nào trong hai mươi bốn sơn cũng dùng được thế quái. Có mười ba chữ dùng làm thế quái được, mười một chữ không dùng được. Còn cuộc đất mà Ngũ Hoàng bay tới đều thuộc Liêm Trinh; Mậu thì đi thuận, Kỷ thì đi nghịch, nhưng phi tinh là Ngũ Hoàng vào trung cung nên không có tác dụng làm thế tinh.

Mười ba chữ dùng được, mười một chữ không

Bạch Hạc Minh đi qua từng cung:

CungBa sơn và sao gốcChữ dùng thế quáiChữ không dùng
KhảmNhâm Tý Quý, Nhất Bạch Tham LangNhâm (thành Thất Xích Phá Quân)Tý, Quý (vẫn là Tham Lang)
LyBính Ngọ Đinh, Cửu Tử Hữu BậtBính (thành Thất Xích Phá Quân)Ngọ, Đinh (vẫn là Hữu Bật)
ChấnGiáp Mão Ất, Tam Bích Lộc TồnGiáp (thành Nhất Tham Lang), Mão, Ất (thành Nhị Cự Môn)Không có
ĐoàiCanh Dậu Tân, Thất Xích Phá QuânCanh (thành Cửu Tử Hữu Bật)Dậu, Tân (vẫn là Phá Quân)
KiềnTuất Kiền Hợi, Lục Bạch Vũ KhúcKhông cóCả ba chữ
TốnThìn Tốn Tỵ, Tứ Lục Văn KhúcCả ba chữ (đều thành Lục Bạch Vũ Khúc)Không có
KhônMùi Khôn Thân, Nhị Hắc Cự MônThân (thành Nhất Tham Lang)Mùi, Khôn (vẫn là Cự Môn)
CấnSửu Cấn Dần, Bát Bạch Tả PhụSửu, Cấn (thành Phá Quân), Dần (thành Hữu Bật)Không có

Chữ "thế" mang nghĩa thay thế. Thế quái là dùng một quẻ (một phương vị) nào đó thay vào; không thành thế quái tức là không cần quẻ thay thế.

Dùng thế quái chủ yếu là dùng chữ ở đầu hướng

Hồ Bá An kể rằng dùng thế quái là dùng chữ ở đầu hướng, ông quan sát nghiên cứu nhiều phần mộ nên biết rất ứng nghiệm. Bí quyết thành môn là một then chốt trong việc dùng thế quái. Nếu ở huyệt có nước hợp với thành môn thì thường phát phúc, chỉ có điều không thể không phân biệt phản ngâm và phục ngâm.

Ông nêu những trường hợp không thể thế mà vẫn đem ra thế:

  • Vận 4, sơn Canh hướng Giáp kiêm Dậu Mão. Ái tinh ở Giáp là Nhị, Nhị vốn đang nhập trung cung, nay dùng làm thế quái. Nhị tức Cự Môn bố tới Mùi, vẫn là Nhị vào trung cung nên không thế được. Dù đáo sơn đáo hướng cũng không luận là vượng sơn vượng hướng, vì trong đó có bệnh âm dương sai khác lẫn lộn; chi bằng dùng chuyên sơn Canh hướng Giáp.
  • Vận 4, sơn Giáp hướng Canh kiêm Mão Dậu. Lục bố tới Canh, mà Lục vốn đang vào trung cung; dùng thế quái thì Lục tức Tuất, Tuất là Vũ Khúc, vẫn là Lục vào giữa. Như vậy cũng giống sơn Canh hướng Giáp kiêm Dậu Mão.
  • Vận 2 và vận 8 sơn Mùi hướng Sửu; vận 3 và vận 7 sơn Tuất hướng Thìn; vận 5 sơn Thìn hướng Tuất: ra khỏi quái mà kiêm, hay kiêm lẫn âm dương. Nếu dùng thế quái thì ái tinh của nó rơi đúng vào chữ không thể thế. Thảy đều luận là xuất quái hoặc âm dương sai lẫn, không luận là đáo sơn đáo hướng.

Nếu lệnh tinh bản vận cùng đáo sơn hoặc cùng đáo hướng, thì khi dùng thế quái phải hợp với đáo sơn đáo hướng thành một cuộc. Ví như vận 6, sơn Nhâm hướng Bính kiêm Hợi Tỵ hoặc kiêm Tý Ngọ thì được. Còn kiêm Tham Lang hay kiêm Tả Phụ thì phải xem nước tới và nước đi ở hướng mà đoán.

Lấy ví dụ vận 6, sơn Nhâm hướng Bính kiêm Hợi Tỵ:

  1. Phi tinh của sơn vào trung cung vẫn là Nhị, không đổi.
  2. Ái tinh của hướng là Nhất; Nhất tức Nhâm, Nhâm bố ra Cự Môn, nên lấy Nhị vào trung cung.
  3. Lấy Nhị vào giữa bay thuận, Lục tới Bính là Nhất, nên cát.
  4. Kiêm xuất quái hoặc kiêm lẫn âm dương cũng bố sao theo cách ấy.

Dùng thế quái, sao bay tới đầu hướng tuy chẳng phải sao vượng của bản vận, nhưng nếu cửa nước hợp với vượng tinh thành môn, hoặc được sinh thành hợp thập thì vẫn cát. Điều tối kỵ là những cuộc như vận 5 sơn Tuất hướng Thìn, vận 8 sơn Thìn hướng Tuất, thuộc loại kiêm xuất quái hoặc kiêm lẫn âm dương, mà phi tinh của sơn và hướng chữ nào cũng giống nhau. Đó là không biến hóa, không sinh trưởng; táng vào huyệt như thế thì chỉ có hung chứ không có cát.

Hồ Bá An bày tỏ rằng ông tuy được chân truyền nhưng chưa tới mức cao siêu; các phép thành môn, đả kiếp, phản ngâm phục ngâm đều là đọc trước thuật của Thẩm Trúc Nhưng mới bắt đầu sáng. Nay đọc đoạn văn này thì những hoài nghi cũ về tiết "Khôn Nhâm Ất" đều tan. Ông gọi Thẩm Trúc Nhưng là bậc không thầy mà tự ngộ, chuyên tâm tới nơi tới chốn, sớm tối nghiên cứu mà làm sáng tỏ hết ngọn ngành lý này.

Vì sao phải kiêm, và ba cách kiêm

Bạch Hạc Minh giải thích: thế quái thường dùng khi chính hướng không được sơn hướng đương lệnh, như đáo sơn đáo hướng. Hình thế sông núi ngoài tự nhiên phức tạp, sơn mạch và dòng nước không phải lúc nào cũng nằm đúng tám phương chính hướng, mà có lúc lệch trái, lệch phải, có khi ẩn chìm. Khi đó phải dùng quẻ thế kiêm hướng mới tìm được khí hợp cách. Gọi là quẻ thế tức là hai sao sơn và hướng phải dùng sao khác thay vào chỗ sao nhập trung cung, nhờ đó thành ra những tượng quẻ khác khi lập quẻ.

Ví dụ sơn long tọa Tý hướng Ngọ mà hơi lệch về phía Quý. Khi độ lệch đạt tới một mức nào đó (thường lớn hơn ba độ) thì gọi là sơn Tý hướng Ngọ kiêm Quý Đinh. Lệch về Nhâm tới mức đó thì gọi là sơn Tý hướng Ngọ kiêm Nhâm Bính. Các sơn hướng khác cũng thế.

Kiêm hướng có ba trường hợp:

Kiêm cùng một khí

Thiên nguyên long và nhân nguyên long cùng khí dương hoặc cùng khí âm thì kiêm dùng được. Tý và Quý, Mão và Ất, Ngọ và Đinh, Dậu và Tân cùng khí âm. Cấn và Dần, Tốn và Tỵ, Khôn và Thân, Kiền và Hợi cùng khí dương.

Kiêm khác khí

Thiên nguyên long và địa nguyên long là âm dương tương kiêm: Tý và Nhâm, Cấn và Sửu, Mão và Giáp, Tốn và Thìn, Ngọ và Bính, Khôn và Mùi, Dậu và Canh, Kiền và Tuất, một âm một dương kiêm dùng với nhau.

Kiêm ra khỏi quái

Quẻ Khảm và quẻ Cấn kiêm nhau là Quý Sửu; quẻ Cấn và quẻ Chấn là Dần Giáp; Chấn và Tốn là Ất Thìn; Tốn và Ly là Tỵ Bính; Ly và Khôn là Đinh Mùi; Khôn và Đoài là Thân Canh; Đoài và Kiền là Tân Tuất; Kiền và Khảm là Hợi Nhâm. Chiều ngược lại cũng vậy: Khảm với Kiền, Kiền với Đoài, Đoài với Khôn, Khôn với Ly, Ly với Tốn, Tốn với Chấn, Chấn với Cấn, Cấn với Khảm cũng là kiêm ra khỏi quái. Kiêm như vậy thì khí quẻ không thuần, lẫn tạp khí gây hung sát; nên phải dùng thế quái để điều chỉnh.

Nếu hướng của sông núi hợp chính hướng mà chỉ tìm được cuộc thượng sơn hạ thủy, không tìm được vượng sơn vượng hướng, thì địa hình tuy đẹp nhưng không lợi cho nhà. Nếu vì hoàn cảnh bắt buộc phải dùng thì cần dùng quẻ thế kiêm hướng để tìm sơn hướng hợp thời vận. Nếu chính hướng không có vượng sơn vượng hướng nhưng có thành môn để chọn, thì dùng quẻ thế kiêm hướng để vượng tinh đến thành môn, hấp thụ khí tốt của sông núi; đó cũng là cách dùng quẻ thế để chọn nhà.

Bốn câu Dương Quân Tùng để lại và món tiền hai ngàn lượng

Trong "Thanh Nang Áo Ngữ", Dương Quân Tùng đời Đường chỉ để lộ phép thế quái kiêm hướng bằng bốn câu:

Khôn Nhâm Ất, Cự Môn từ đầu xuất;
Cấn Bính Tân, ngôi ngôi là Phá Quân;
Tốn Thìn Hợi, đều là vị trí Vũ Khúc;
Giáp Quý Thân, Tham Lang một đường.

Bốn câu chỉ nhắc mười hai sơn, một nửa còn lại bị bỏ để truyền miệng. Ai được truyền đều coi là của quý trong nhà, giấu kỹ không đưa ra ngoài, nên người sau không sao hiểu nổi. Mãi đến cuối đời Minh, đầu đời Thanh, Khương Diêu trả cho Tưởng Đại Hồng hai ngàn lượng bạc để Tưởng mai táng cha, mới được họ Tưởng chân truyền. Nhưng Khương Diêu cũng không nói công khai bí quyết, chỉ vô tình nhắc trong tác phẩm "Tòng Sư Tùy Bút", nên người sau đọc vẫn không dùng được. Đến thời gần đây, Vu Khải soạn "Địa Lý Lục Yếu" để giải thuật phong thủy của Âu Dương Thuần. Âu Dương Thuần lộ bài khẩu quyết hai mươi bốn chữ về quẻ thế kiêm hướng và các hình đồ nhưng không giải thích, người đọc càng mù mờ.

Bài khẩu quyết đó có hai mươi tám câu, trùng với bài khẩu quyết hai mươi tám câu trong "Tòng Sư Tùy Bút" của Khương Diêu. Vì sao người đời sau đọc vẫn không hiểu? Vì họ không biết phép bố sao. Không biết lập quẻ và bố tinh bàn thì làm sao hiểu quẻ thế kiêm hướng.

Khởi tinh khác lập quẻ thế nào, và sao nào thay cho sao nào

Quẻ thế kiêm hướng còn gọi là "khởi tinh", khác với phép lập quẻ. Lập quẻ là dùng cách bố sao để lập chính hướng; khởi tinh là dùng cách bố sao để lập kiêm hướng. Cách bố sao giống nhau, nhưng hai sao của sơn và của hướng phải dùng sao thay thế (thế tinh). Sau khi bố vận bàn, phải dùng sao nào thay cho hai sao ấy? Theo khẩu quyết Khương Diêu được truyền:

  • Bốn sơn Tý, Quý, Giáp, Thân: dùng Tham Lang (Nhất) thay thế.
  • Năm sơn Nhâm, Mão, Ất, Mùi, Khôn: dùng Cự Môn (Nhị) thay thế.
  • Sáu sơn Tuất, Kiền, Hợi, Thìn, Tốn, Tỵ: dùng Vũ Khúc (Lục) thay thế.
  • Năm sơn Tân, Dậu, Sửu, Cấn, Bính: dùng Phá Quân (Thất) thay thế.
  • Bốn sơn Ngọ, Đinh, Dần, Canh: dùng Hữu Bật (Cửu) thay thế.

Như vậy hai mươi bốn sơn sơn nào cũng có thế tinh, nhưng xem kỹ thì có mười một sơn không cần thay: Tý, Quý, Mùi, Khôn, Tuất, Kiền, Hợi, Tân, Dậu, Ngọ, Đinh. Số cần thay chỉ còn mười ba. Cụ thể:

  • Giáp (Tam) và Thân (Nhị): dùng Nhất thay.
  • Nhâm (Nhất), Mão (Tam), Ất (Tam): dùng Nhị thay.
  • Thìn, Tốn, Tỵ (đều là Tứ): dùng Lục thay.
  • Sửu (Bát), Cấn (Bát), Bính (Cửu): dùng Thất thay.
  • Dần (Bát), Canh (Thất): dùng Cửu thay.

Bốn điều cần nhớ khi dùng quẻ thế kiêm hướng

Phải lệch từ ba độ trở lên

Mỗi sơn khi lập hướng chiếm mười lăm độ; nếu chia đôi bằng đường giữa thì mỗi nửa của sơn hay của hướng chỉ chiếm bảy độ rưỡi. Khi hướng lệch dưới ba độ thì không cần thế. Lệch quá ba độ thì tạp khí đã nhiều, phải thay thế mới điều chỉnh được khí của quẻ.

Ba cách thay

Một là thay sao của sơn, hai là thay sao của hướng, ba là thay cả hai. Đại để, nếu hướng tìm được sao thế thì thay sao hướng; nếu không tìm được thì thay sao sơn; nếu cả sơn và hướng đều tìm được thì thay cả hai. Trọng tâm của việc tìm sao thế nằm ở sao của hướng.

Khi cả hai sao đều không có sao thay

Có những sơn hướng tuy lệch nhưng khi lập hướng hai sao sơn và hướng đều không tìm được sao thay. Vẫn dùng hai sao cũ lần lượt vào trung cung, tuy cũng ra vượng sơn vượng hướng nhưng không xem là vượng sơn vượng hướng. Vì nếu dựa vào long mạch của kiêm hướng để lập kiêm hướng thì tất nhiên phạm khí âm dương khác nhau, hoặc phạm quẻ xuất hướng.

Ví dụ vận 4, sơn Canh hướng Giáp kiêm Dậu Mão. Nếu chính hướng là vượng sơn vượng hướng, nay kiêm Dậu Mão thì hướng tinh Giáp là Nhị; theo khẩu quyết thế quẻ thì Nhị tức Mùi, Mùi là Cự Môn Nhị, vẫn là Nhị vào trung cung nên không gọi là thay thế. Sơn tinh Canh là Lục, Lục tức Tuất, Tuất là Vũ Khúc Lục, vẫn là Lục vào giữa nên cũng không gọi là thay thế. Không lập chính hướng mà lập kiêm hướng thì phạm âm dương sai lệch, không thể xem là vượng sơn vượng hướng. Gặp trường hợp này chỉ còn cách lập chính hướng để xử lý. Nếu sơn Canh hướng Giáp không kiêm Dậu Mão mà kiêm Thân Dần thì là kiêm xuất quái, cũng xử lý theo phép lập chính hướng. Nếu hình cuộc chưa hợp cách mà lại không sửa được thì dùng phép lập quẻ nội ngoại: bên trong lập quẻ thuần thanh chính hướng, bên ngoài lập quẻ kiêm hướng để hợp với hình cuộc bên ngoài.

Tám quẻ thuần

Dùng quẻ thế kiêm hướng đôi khi gặp trường hợp vô cùng đặc biệt là tám quẻ thuần. Loại quẻ này phi tinh của sơn và hướng chữ nào cũng giống nhau, không biến đổi, chủ đại hung, cũng gọi là phạm phản ngâm phục ngâm. Trong 216 cuộc, tám quẻ thuần có tám cục, đều phát sinh ở hai cung Kiền Tốn của vận 5. Đặc điểm là Kiền gặp Kiền, Tốn gặp Tốn, Cấn gặp Cấn, Khôn gặp Khôn, sơn tinh và hướng tinh cùng một chữ.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia