Bài tổng quan
Cơ Tử giả điên, Quách Tử Nghi mở cổng, người vờ như không thấy
Thái sư Cơ Tử bỗng đầu tóc rũ rượi, nói năng điên loạn ngay sau khi Tỷ Can bị moi tim. Một vị đại tướng thì lại mở toang cổng phủ cho ai cũng ra vào. Cả hai đều biết một điều mà người ngay thẳng thường học muộn…
Âm mưu không nhất thiết là ngấm ngầm
Người ta quen chú ý đến đạo dương mà bỏ quên đạo âm, trong khi Kinh Dịch nói rất rõ: một âm một dương mới thành đạo. Xưa hay nay, trong nước hay ngoài nước, lúc chiến tranh hay thời bình, người dân thường lo cơm áo ở nhà hay chính khách trên chính trường, nhà buôn lăn lộn thương trường, ai cũng không tách khỏi lẽ âm dương ấy.
Từ lâu người ta hiểu lầm rằng kẻ đi đường vòng để làm một việc là kẻ không chính đáng, hễ thấy ai khéo léo là bảo người này đang giở mánh khóe. Thật ra, một người ngay thẳng nếu dám nhìn thẳng vào mình sẽ thấy ngày nào mình cũng giở vài âm mưu nhỏ, làm một chút trí trá nho nhỏ, mà mục đích cuối cùng chẳng qua là để sống tốt hơn một chút. Vì thế cần chỉnh lại nghĩa của hai chữ này: âm mưu thật ra không phải lúc nào cũng ngầm, nó hoàn toàn có thể đem ra dùng một cách đường hoàng. Hiểu như vậy là phá được lối nghĩ cứng nhắc và cực đoan xưa nay, kiểu không đúng thì là sai, không phải ta thì là địch, không đẹp thì là xấu, không thật thì là giả, để rồi nhìn thế giới, nhìn người khác và nhìn chính mình bằng con mắt biết cân nhắc hai mặt.
Khi trí tuệ thành tai họa, giả dại là cửa sống
Lúc bình thường người ta tranh nhau khoe khôn, nhưng có những thời đại mà người khôn nhất lại là người phải tự làm mình trông ngu nhất.
Trong tình huống bình thường, ai cũng muốn phô trí tuệ và tài năng, lấy sự khôn ngoan làm niềm tự hào. Nhưng dưới một ông vua tàn bạo, đôi khi sự thông minh và ngay thẳng lại hóa thành họa. Người ta đành tự hạ mình, chịu nhục, giả điên giả dại mới thoát nạn. Đó là bi kịch của lịch sử, khiến ta không biết nên gọi đấy là chỗ khôn khéo hay chỗ đáng buồn của nhân loại. Chỉ vì muốn sống mà người ta phải nghĩ ra cách. Giả điên giả dại điển hình nhất là che giấu tài năng bằng một hình tượng ngờ nghệch, nhẫn nhục chịu đựng, lấy thoái làm tiến. Cơ Tử đời nhà Thương là ví dụ xưa nhất.
Thương Trụ vương, vua cuối cùng của nhà Thương, quen thói bạo ngược, ngày đêm yến tiệc với sủng phi và đám quý tộc nịnh bợ, dựng ao rượu treo thịt, đi săn khiến ruộng đồng bỏ hoang, dân không sống nổi. Những năm cuối, hình phạt ngày một nặng, can gián thì bị chối từ, trung thần bị giết. Người anh là Vi Tử khuyên nhiều lần không được, đành giận mà bỏ đi. Thiếu sư Tỷ Can cho rằng làm đại thần thì phải liều chết can vua, khuyên liền ba ngày không dứt, bị Trụ vương nổi giận giết đi, còn moi tim ra xem, bảo rằng nghe nói tim thánh nhân có bảy lỗ. Cơ Tử là chú ruột của Trụ vương, giữ chức Thái sư, nhìn cảnh ấy khiếp đảm, biết rằng nhát dao kế tiếp có thể rơi xuống mình. Ông liền đầu tóc rũ rượi, nói năng lung tung, mất hết dáng vẻ của một vị Thái sư, y như người điên thật. Trụ vương thấy vậy bèn giam ông vào ngục.
Lúc ấy nước Chu, chư hầu của nhà Thương, đã âm thầm chuẩn bị diệt Thương từ đời Văn vương. Đến đời Võ vương, nhờ chiêu hiền đãi sĩ, đất nước hưng thịnh rất nhanh. Thấy Trụ vương làm điều ngang trái, đại thần và chư hầu lần lượt bỏ đi, Võ vương cho rằng thời cơ đã chín, cùng Lã Thượng đem ba nghìn dũng sĩ, bốn vạn rưỡi giáp binh hợp với quân của tám trăm chư hầu đánh Trụ. Quân Thương ra chống ở Mục Dã nhưng vì căm ghét vua đã quay giáo. Trụ vương chạy về Triều Ca, leo lên Lộc Đài, mặc áo báu rồi tự thiêu. Nhà Thương mất, Chu Võ vương thả Cơ Tử ra khỏi ngục.
Cơ Tử không phải kẻ nhát gan nhất thời. Từ sớm ông đã nhìn ra con đường diệt vong của Trụ từ một việc rất nhỏ. Khi Trụ vương mới lên ngôi, vừa dùng đôi đũa ngà, Cơ Tử đã nói: có đũa ngà thì chẳng ai dùng bát đất nữa mà phải dùng chén tê ngọc; có đũa ngà chén ngọc thì chẳng ai ăn cơm đạm canh rau, mặc áo vải, ở nhà tranh nữa, mà phải áo gấm chín lớp, lầu cao phòng rộng, rồi cống vật quý lạ từ xa, xe ngựa cung thất không còn điểm dừng. Từ đây ta e ông ấy sẽ đi đến chỗ cùng đường. Quả nhiên Trụ nhanh chóng xây Lộc Đài, dựng cung ngọc, chất đầy của lạ, dân khổ lòng người ly tán. Có lần Trụ vương uống say đến quên cả ngày tháng, hỏi người quanh mình thì ai cũng nói không biết, bèn sai sứ đi hỏi Cơ Tử. Ông nghĩ một lát rồi đáp rằng mình cũng say, không rõ hôm nay là ngày gì. Học trò hỏi vì sao thầy biết mà nói không biết, Cơ Tử đáp: làm chủ thiên hạ mà để cả nước quên cả ngày tháng thì thiên hạ nguy rồi; cả nước đều bảo không biết, riêng một mình ta nói biết, há chẳng phải họa đã đến ngay trước mắt sao? Nên ta mượn rượu mà từ chối. Từ chuyện ấy thấy rằng ông luôn đề phòng sự nghi ngờ của vua, mọi lúc mọi nơi đều giữ mình.
Một nhà chính trị nhạy bén như vậy, thấy rõ Trụ sẽ diệt vong mà không đủ sức xoay trời chuyển đất, lại thấy tấm lòng son của Tỷ Can chỉ đổi lấy kết cục thê thảm, nên đã chọn cách ngụy trang khéo léo, dùng cảnh tượng giả mê hoặc nhà vua để thoát chết. Trụ vương giam ông nhưng không bao giờ hiểu được ông. Chỗ thành công chính là mượn cái giả che cái thật.
Bậc công thần và con em hoàng tộc cũng phải biết giấu mình
Tiếng tốt quá cao đôi khi lại là con dao treo trên đầu, dù người ấy là hoàng thân hay đại tướng.
Không riêng bề tôi thường, ngay cả con em hoàng gia và những người được phong vương cũng phải dùng cách này để giữ thân. Bắc Hải vương Lưu Mục thời Đông Hán ham đọc sách, trọng người hiền, từ lâu được Quang Vũ đế và Hán Minh đế yêu mến. Khi Tây Vực giao hảo với nhà Hán, vua nước Thiện Thiện gửi con trai sang Lạc Dương làm con tin, Bắc Hải vương theo lệ cử sứ giả vào kinh chúc mừng. Trước khi sứ giả lên đường, Lưu Mục hỏi: nếu bệ hạ hỏi đến ta thì ông nói thế nào? Sứ giả đáp: đại vương trung hiếu nhân từ, trọng người hiền, thần cứ theo sự thật mà tâu. Lưu Mục nói: ông mà nói đúng như thế thì ta nguy mất. Những điều ấy là chuyện lúc ta còn nhỏ. Nếu ông thật lòng lo cho ta, hãy nói rằng từ khi kế vị ta chí khí sa sút, chỉ ham vui chơi, ca hát. Như vậy ta mới tránh được họa. Sứ giả liên tục vâng dạ. Vì con em hoàng tộc mà tiếng tăm càng tốt, uy vọng càng cao thì càng khiến hoàng đế bất an, bởi họ có thể đe dọa ngai vàng. Lưu Mục tự hạ danh tiếng để vua yên lòng, đó là cách giữ thân tốt nhất.
Quách Tử Nghi đời Đường công trạng lẫy lừng, nhưng cổng phủ nhà ông luôn mở toang, ai muốn vào ra cũng được, ông không hỏi. Con cháu họ Quách cho rằng kẻ sang người hèn đều vào được nội đường như thế thì thật suồng sã. Ông nói: các con nào hiểu đạo lý trong đó. Ngựa nhà ta năm trăm con đều nhờ quốc gia cấp cỏ, một nghìn người hưởng bổng lộc triều đình, tiến không có chỗ, lùi không có đường. Nếu ta đóng cổng cao tường, trong ngoài không thông, lỡ có người đem chuyện vu cáo, gán cho cái tội không gỡ được thì cả nhà bị chém, lúc ấy có hối cũng không kịp. Nay ta mở toang cửa, dù có kẻ muốn bịa lời gièm pha cũng không còn chỗ nào mà bịa. Nghe xong, ai cũng bái phục. Mở cửa là cách giữ mình của một người có công lớn, và cũng là chỗ khôn khéo thật sự của ông.
Trong Kinh Dịch có thể thấy dấu vết sự tích của Cơ Tử, còn Quách Tử Nghi là đại tướng lừng danh đời Đường. Những nhân vật ấy đều học rộng và biết cách bảo toàn mình. Ngược lại có người vì không khéo vun đắp, kết quả sự nghiệp, tình cảm, quan hệ trên dưới, quan hệ láng giềng đều đổ vỡ cả.
Giả như không thấy: chuyện chàng trai trẻ và vị cấp trên
Có những điều chỉ cần thấy một lần là đủ lo cả năm, trừ khi ta biết cách để mình trông như chưa hề thấy gì.
Quách Hoa tốt nghiệp xuất sắc một trường đại học danh tiếng ở Thượng Hải, may mắn được phân vào làm việc ở một cơ quan nhà nước. Thầy giáo và bạn bè đều tự hào về anh, anh cũng quý trọng công việc không dễ có ấy, đi sớm về muộn, chăm chỉ, chẳng bao lâu đã mở được tiền đồ. Vị chủ nhiệm văn phòng khen tài và tinh thần làm việc của anh nhiều lần, anh nhớ ơn và quyết làm nên thành tích để khỏi phụ sự ưu ái ấy.
Một hôm chưa đến giờ làm, anh mang giấy tờ vào phòng chủ nhiệm thì bất ngờ chứng kiến một chuyện riêng tư kín đáo của vị cấp trên với một nữ đồng nghiệp. Anh bối rối lui ra. Từ đó anh nhìn chủ nhiệm là ngượng ngập như chính mình làm điều gì sai, luôn sợ ông nghi mình đi nói lung tung bên ngoài, suốt ngày làm việc chẳng ra hồn. Trong buổi họp mặt với thầy giáo cũ, thấy anh sa sút, mọi người gặng hỏi nhưng anh không nói. Sau tiệc, anh kể riêng với thầy và xin ý kiến.
Thầy bảo: hãy giả vờ hồ đồ, coi như chưa thấy gì. Thầy phân tích bốn điều. Một, chủ nhiệm là người trực tiếp dìu dắt anh, lại là người anh mang ơn, dù thấy cũng không nên tung ra, vì như vậy chẳng khác đưa điểm yếu của ông cho đối thủ chính trị, chôn vùi tiền đồ của ông. Hai, chuyện tình cảm của người ta vốn phức tạp, người ngoài không biết thực hư ra sao, đừng vội kết luận. Ba, nếu chuyện đồn ra, mọi người sẽ coi đó là tin xấu của cơ quan, có thể lấy cớ phủ nhận công tác của chủ nhiệm và đuổi cô đồng nghiệp đi, hậu quả rất nặng. Bốn, hiện tượng bề ngoài chưa chắc nói lên bản chất, biết đâu giữa hai người là tình cảm thật lòng, chỉ vì thời cơ và điều kiện chưa đủ nên chưa tiện công khai. Tóm lại, anh không nên có thái độ nửa úp nửa mở mà phải thể hiện rõ rằng mình không thấy gì cả.
Quách Hoa thấy có lý và làm theo. Việc công anh vẫn làm như trước, trong cơ quan chưa từng có ai nghe anh bàn tán chuyện ấy. Ban đầu chủ nhiệm có phần thiếu tự nhiên, thậm chí ngầm đề phòng, còn nhắc khéo. Quách Hoa theo đúng lời thầy, thỉnh thoảng như vô tình nhắn lại một ý: ông cứ yên tâm, tôi tuyệt đối không làm hỏng việc của ông, cũng không để ai nắm được chỗ yếu của ông. Chủ nhiệm càng thấy anh kín đáo, tử tế, không làm hỏng chuyện lớn, càng tin dùng và giao cho anh nhiều việc quan trọng. Một năm sau mọi việc được giải quyết đàng hoàng và công khai, cả cơ quan ngạc nhiên vì trước đó chưa hề thấy dấu hiệu gì. Trong buổi lễ, hai người nâng ly cảm ơn anh, nói anh là người rất có bản lĩnh và đáng tin. Không bao lâu chủ nhiệm được đề bạt lên cấp thành phố, Quách Hoa thay chỗ ông, trở thành cán bộ lãnh đạo trẻ nhất cơ quan.
Thử nghĩ nếu hôm ấy Quách Hoa nóng đầu đem chuyện mình thấy kể ra ngoài, người ta sẽ thêm mắm dặm muối, gây sóng gió lớn, vị chủ nhiệm mất uy tín, người kia lúng túng, một đôi người thật lòng yêu nhau có thể bị dư luận làm hại thậm chí tan nát. Vờ như hồ đồ, ở mức cao nhất, là cách của người lương thiện xuất phát từ ý tốt, có lợi cho người và cho mình. Lẽ ấy rất đơn giản. Kinh Thánh dạy muốn người đối với mình thế nào thì mình hãy đối với người như thế. Khổng Tử cũng nói điều gì mình không muốn thì đừng áp đặt cho người. Cách giả vờ này không hề hại ai, còn trong đời sống người không biết giả vờ trước một số việc rất dễ làm hại người khác, mà hại người rốt cuộc cũng là hại mình.
Điên để sống, ngây để làm việc lớn
Giả điên xưa nay có hai nẻo: nẻo giữ mạng khi quyền thế đã đổi, và nẻo che mắt kẻ thù để kịp làm một việc lớn.
Vở kịch Hamlet nổi tiếng của Shakespeare kể về thái tử Đan Mạch mang chí lớn, mục tiêu xa, nhưng giữa hiện thực và lý tưởng có khoảng cách quá lớn. Để đạt mục đích, chàng có thể giả ngây giả dại, nói năng điên khùng, hy sinh cả tình yêu và hạnh phúc riêng, dùng dáng vẻ rồ dại khiến đối thủ lơi cảnh giác và bảo toàn mình.
Khoái Thông thời Tây Hán từng là người bày mưu cho Hàn Tín. Sau khi Hàn Tín đánh bại Hạng Vũ, ông khuyên Hàn Tín chia ba thiên hạ cùng Lưu Bang. Về sau Hàn Tín bị Lã hậu giết vì tội mưu phản, Khoái Thông liền giả điên, suốt ngày nói mê nói sảng, khiến Lã hậu không biết ông điên thật hay điên giả nên rốt cuộc không giết.
Trong hoàn cảnh sống còn hiểm ác, giả điên giả dại như Cơ Tử, Khoái Thông hay Hamlet là điều cần thiết. Còn trong đời thường thời bình, người ta để giữ lợi ích của mình và tránh bị xã hội hay người khác làm tổn hại thì một chút giả điên giả dại đúng mực vẫn là điều rất cần.
Nguồn: Tư Mã Sơn Nhân, Nguyên An, Âm Dương Kinh.
