Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Cá hay chân gấu, nhân hòa hơn địa lợi: lời Mạnh Tử còn vang

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202610 phút đọc4 lượt đọc
Cá hay chân gấu, nhân hòa hơn địa lợi: lời Mạnh Tử còn vang

Cá là món ta thích, chân gấu cũng là món ta thích, nhưng bàn ăn chỉ có chỗ cho một món. Mạnh Tử dùng chuyện ăn uống giản dị ấy để nói về lúc người ta phải chọn giữa sống và nghĩa. Còn nhiều câu nữa của ông, từ ngọn mạ bị nhổ đến chén nước dội xe củi cháy…


Trong Mạnh Tử có rất nhiều câu nổi tiếng nói về triết lý nhân sinh và cách xử thế, ảnh hưởng tới xã hội Trung Quốc qua nhiều thời đại. Có câu trở thành khuôn mẫu tiết tháo của người quân tử, có câu thành thành ngữ dân gian, có câu hóa ra lời nhắc cho các bậc làm vua. Đọc từng câu một, người ta thấy chân dung của một người lấy nhân nghĩa làm trọng ở mọi nơi ông đặt chân đến.

Tiết tháo của một đại trượng phu

Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị đại trượng phu.

Giàu sang không làm cho phóng túng, nghèo hèn không làm đổi chí, uy quyền không khuất phục nổi, như thế mới đáng gọi là bậc đại trượng phu. Câu này đã thành danh ngôn của Trung Quốc cổ đại, cổ vũ biết bao văn nhân chí sĩ: khi giàu có biết kìm lòng ham muốn vật chất, khi nghèo khó không đổi tiết tháo, đối mặt cường bạo không khuất phục trước áp lực. Nó ảnh hưởng lớn tới việc học tập tiết tháo của người Trung Quốc.

Xá sinh thủ nghĩa.

Bỏ sống để giữ nghĩa. Câu phản ánh tiết tháo của Mạnh Tử, coi nhân nghĩa cao hơn tất cả. Ông nói sự sống và nghĩa đều là điều quý, nhưng nếu một lúc không giữ được cả hai thì ông nguyện hy sinh thân mình để bảo vệ nghĩa, nếu không sẽ mất đi bản tính. Lời ấy gần với câu "đói là việc nhỏ, thất tiết là việc lớn" của họ Trình, và có ảnh hưởng lớn với đời sau. Văn Thiên Tường nói người ta từ xưa ai không chết, miễn giữ được tấm lòng trong sạch, và câu "ngọc nát còn hơn ngói lành" cũng đều bắt đầu từ danh ngôn của Mạnh Tử.

Ngư, ngã sở dục dã; hùng chưởng, diệc ngã sở dục dã.

Cá là món ta thích, chân gấu cũng là món ta thích. Nếu không được cả hai thì ta bỏ cá mà lấy chân gấu. Sống ta cũng ham, nghĩa ta cũng thích; nếu không được cả hai thì ta bỏ sống mà giữ nghĩa. Mạnh Tử mượn hai món ăn không thể cùng lúc có được để nói rõ chân lý bỏ mạng sống mà giữ tiết nghĩa.

Người, gia đình và thiên hạ

Lão ngô lão, dĩ cập nhân chi lão; ấu ngô ấu, dĩ cập nhân chi ấu; thiên hạ khả vận ư chưởng.

Kính người già của mình rồi suy ra kính người già của người khác, thương trẻ nhỏ của mình rồi suy ra thương trẻ nhỏ của người khác, thì thiên hạ có thể xoay vần dễ như trong lòng bàn tay. Từ lòng tôn kính bậc trưởng bối của chính mình mà mở ra lòng kính người cao tuổi nơi khác, từ yêu con mình mà thương con người. Cốt của câu này là mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và quốc gia, mà Mạnh Tử đã thống nhất lại, có ảnh hưởng lớn với đời sau. Mệnh đề nổi tiếng "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" trong Đại Học cũng có nguồn gốc từ đó.

Vương hà tất viết lợi, diệc hữu nhân nghĩa nhi dĩ hĩ.

Vua sao phải nói đến lợi, chỉ có nhân nghĩa mà thôi. Đây là câu tiêu biểu cho mệnh đề trọng nghĩa khinh lợi của Mạnh Tử, phản ánh quan điểm đạo đức kinh tế của Nho gia. So với tư tưởng công lợi "nghĩa là lợi" của Mặc Tử, câu này rất mới mẻ. Nhưng trong mấy nghìn năm xã hội phong kiến, tư tưởng trọng nghĩa của Khổng Tử, "quân tử trọng nghĩa, tiểu nhân trọng lợi", và của Mạnh Tử vẫn chiếm ưu thế.

Nhân giai khả dĩ vi Nghiêu, Thuấn.

Người người đều có thể làm Nghiêu, Thuấn. Đây là danh ngôn xưa nay, nói rõ mỗi người đều có tính thiện. Qua các thời đại, câu ấy đã thúc đẩy tinh thần của văn nhân chí sĩ và sự phát triển lý luận đạo đức Trung Quốc.

Nhân giai hữu bất nhẫn nhân chi tâm.

Người ta ai cũng có lòng không nỡ với người khác. Nghĩa là mỗi người đều có lòng thương xót, đều có sự đồng cảm với người. Mạnh Tử cho đó là của trời phú cho người. Quan điểm này đặt cơ sở cho thuyết tính thiện của ông và có ý nghĩa lịch sử quan trọng.

Dữ nhân vi thiện.

Cùng với người làm điều thiện. Khổng Tử coi thiện đức là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất của việc làm người, như lời ngài nói bậc quân tử chẳng qua là làm điều thiện. Mạnh Tử lấy các vị vua hiền Nghiêu, Thuấn làm gương, nhấn mạnh rằng việc cao thượng nhất của con người là mưu cầu phúc lợi. Ảnh hưởng của lời ấy với các thời đại rất lớn, nó trở thành hạt nhân nhân đạo của Nho gia.

Vua và dân: quý ai, vui cùng ai

Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh.

Dân là quý nhất, xã tắc đứng sau, vua nhẹ nhất. Câu ấy nhấn mạnh quý dân, coi nhẹ vua, là danh ngôn vượt thời đại. Mạnh Tử đảo vị trí giữa vua và dân, đại diện cho tư tưởng dân chủ thời cổ đại, có tính tiến bộ cao và ảnh hưởng tốt tới việc hình thành các chế độ chính trị tiến bộ của những triều đại sau.

Dữ dân đồng lạc.

Vui cùng với dân. Mạnh Tử từng khuyên vua Tề Tuyên Vương rằng nay nhà vua vui cùng dân chúng thì mới đúng là vua. Ý là bậc làm vua phải đồng cam cộng khổ với dân thì mới trị được nước.

Nhân giả vô địch.

Người nhân đức thì thiên hạ không ai địch nổi. Mạnh Tử nói câu này để khuyên Lương Huệ Vương thi hành nhân chính, và ảnh hưởng của nó tới đời sau rất lớn.

Vũ bát niên ư ngoại, tam quá kỳ môn nhi bất nhập.

Vua Vũ xa nhà tám năm, ba lần đi ngang cổng nhà mình mà không vào. Chuyện Đại Vũ trị thủy, nhiều lần qua cửa nhà không ghé, là danh ngôn nhấn mạnh rằng bậc làm vua phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ thì mới có được thiên hạ. Vua Vũ là tấm gương rõ nhất.

Thất kỳ dân giả, thất kỳ tâm dã... đắc kỳ dân, tư đắc thiên hạ hĩ.

Mất dân là vì mất lòng dân; được dân thì tự nhiên được thiên hạ. Câu nhấn mạnh việc được lòng dân là rất quan trọng trong yên nước trị dân, cụ thể hóa tư tưởng lấy dân làm gốc của Mạnh Tử, và ảnh hưởng khá lớn tới các triều đại.

Ý chí, lo xa và chuyện ngụ ngôn

Cố thiên tương giáng đại nhiệm ư tư nhân dã, tất tiên khổ kỳ tâm chí, lao kỳ cân cốt, ngạ kỳ thể phu, không phạp kỳ thân.

Cho nên khi trời sắp trao việc lớn cho ai, trước hết khiến người ấy khổ tâm chí, nhọc gân cốt, đói thân thể, khốn cùng bản thân. Muốn làm nên sự nghiệp lớn thì phải rèn ý chí, chịu gian khổ, thậm chí qua thử thách khắc nghiệt, gồm cả khổ luyện tinh thần lẫn thể xác, mới thành công hơn người. Việt Vương Câu Tiễn nằm gai nếm mật là hình mẫu tiêu biểu nhất.

Sinh ư ưu hoạn, nhi tử ư an lạc dã.

Sống nhờ lo nghĩ, hoạn nạn; chết vì yên vui, thoải mái. Câu này phát triển ý thức lo nghĩ của Chu Dịch và Nho gia. Lịch sử Trung Quốc rất chú trọng quan hệ biện chứng an và nguy, nhấn mạnh sự đối lập và thống nhất của chúng. Chu Dịch nói khi yên đừng quên nguy, khi còn đừng quên mất, khi trị đừng quên loạn; Tả truyện nhắc ở yên thì nghĩ đến nguy. Ý khuyên mọi người luôn mang ý thức về an nguy.

Ngũ thập bộ tiếu bách bộ.

Kẻ bỏ chạy năm chục bước cười kẻ bỏ chạy một trăm bước. Về thực chất giống như câu "gậy ông đập lưng ông", đời sau thành lối nói "nồi đen chê nồi đen", chỉ người không biết lỗi của chính mình.

Trợ trưởng giả, yển miêu giả dã.

Kẻ giúp lúa lớn chẳng khác kẻ nhổ mạ. Qua chuyện người nước Tống kéo mạ non cho chóng lớn, câu chê cười kẻ ngu mà lại muốn nhanh thành công. Nó răn những ai chỉ theo ý muốn chủ quan mà đi ngược quy luật khách quan.

Nhất nhật bộc chi, thập nhật hàn chi.

Phơi nắng một ngày, rét mười ngày. Chỉ người không chuyên tâm, lúc thế này lúc thế khác, nhấn mạnh rằng làm việc gì cũng cần kiên trì chuyên tâm mới thành. Cũng nơi ấy còn có câu "chuyên tâm dẫn đến đắc chí" với ý tương tự.

Do dĩ nhất bôi thủy cứu nhất xa tân chi hỏa dã.

Cũng như dùng một chén nước cứu một xe củi đang cháy. Mạnh Tử muốn nói nếu chỉ có ít người làm điều nhân thì cũng chỉ như chén nước dội lên xe củi cháy mà thôi.

Thời thế, nhân hòa và đạo làm người

Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa.

Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa. Trọng tâm câu là mối quan hệ giữa ba yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa, trong đó con người đóng vai trò chủ đạo. Vì vậy nó nhấn mạnh sự đoàn kết, cải thiện nhân duyên, và đã ảnh hưởng tốt ở nhiều thời đại.

Ngũ bách niên tất hữu vương giả hưng, kỳ gian tất hữu danh thế giả.

Năm trăm năm ắt có bậc vương giả nổi lên, trong khoảng đó ắt có người nổi danh ở đời. Đây là lời dự đoán của Mạnh Tử, hàm ý lịch sử Trung Quốc không dễ có một vị vua hiền. Từ nhà Hạ về sau chỉ có các hiền quân và nhân thần như Nghiêu, Thuấn, Vũ, Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công Đán, còn hôn quân bạo chúa như Hạ Kiệt, Thương Trụ, Chu U Vương cũng không ít. Mạnh Tử cảm thán vì từ Chu Vũ Vương đến thời ông chừng bảy trăm năm mà chưa thấy xuất hiện hiền quân, và lời ấy phản ánh sự kêu gọi thánh quân hiền thần của ông.

Bỉ nhất thời dã, thử nhất thời dã.

Lúc kia là một thời, lúc này là một thời. Thời gian đổi thay thì phải nhìn bằng con mắt khác, nên tinh hoa của câu là phân tích cụ thể một tình hình cụ thể.

Nhân chi hữu đạo dã, bão thực, noãn y, dật cư nhi vô giáo, tắc cận ư cầm thú.

Làm người có đạo lý của mình; ăn no, mặc ấm, ở yên mà không được dạy bảo thì gần với cầm thú. Câu chỉ ra rằng con người là người vì có đạo lý làm người, đó là khác biệt gốc giữa người và cầm thú. Không tu dưỡng phẩm chất đạo đức thì người với cầm thú khác gì nhau, nên câu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tu dưỡng.

Ngưỡng nhi tư chi, dạ dĩ kế nhật, hạnh nhi đắc chi, tọa dĩ đãi đán.

Ngẩng lên mà suy nghĩ, ban đêm nối tiếp ban ngày; may mà ngộ ra thì ngồi chờ trời sáng. Câu phản ánh tinh thần đấu tranh gian khổ mà Mạnh Tử đề xướng, có ảnh hưởng khá lớn đời sau và sống mãi cùng thời gian.

Nhân, nhân tâm dã; nghĩa, nhân lộ dã.

Nhân là lương tâm của người, nghĩa là con đường chính đại của người. Mạnh Tử còn nói người ta thả gà chó ra còn biết tìm về, nhưng đánh mất lương tâm thì lại không biết tìm, và ông thương xót điều đó. Câu nhấn mạnh cao độ giá trị của lương tâm con người.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tập 2, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện