Bài tổng quan
Tử Hạ giữ mộ thầy sáu năm và truyền Dịch đi xa
Khi các học trò đã về hết sau ba năm để tang, có một người vẫn ở lại bên mộ thầy thêm ba năm nữa. Người ấy về sau dạy học ở Tây Hà và để lại một bộ Dịch truyện mang tên mình. Nhưng bộ Dịch truyện ấy có thật là của ông?
Học trò ở lại giữ mộ thầy thêm ba năm nữa
Khi Khổng Tử mất, các đệ tử để tang ba năm bên mộ thầy rồi mới lần lượt ra về. Riêng Tử Hạ còn dựng lều, mặc áo tang, ở lại giữ mộ thêm ba năm nữa. Chi tiết ấy đủ cho thấy ông là người học trò trung hiếu đến mức nào.
Tử Hạ sống từ năm 507 đến năm 400 trước Công nguyên, họ Bốc, tên Thương, tự là Tử Hạ, người nước Vệ thời Xuân Thu, cũng có thuyết nói ông là người nước Tấn, ở phía tây nam huyện Ôn, miền đông Hà Nam. Ông là một trong bốn học trò giỏi nhất của Khổng Tử, và công lớn nhất của ông với Dịch học là việc truyền bá. Đời sau còn có một bộ Tử Hạ Dịch truyện mang tên ông. Tùy thư xếp ông đứng ngay sau ba bậc thánh Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử, và Tứ khố toàn thư đặt Tử Hạ Dịch truyện lên đầu các trước tác bàn về Dịch.
Người thầy của bậc vương giả ở Tây Hà
Có những người không đặt ra học thuyết nào mới, mà chỉ giữ cho học thuyết của thầy khỏi tắt.
Sau khi Khổng Tử mất, Tử Hạ dạy học ở Tây Hà và dạy cả Ngụy Văn hầu, theo Sử ký, phần truyện các đệ tử của Trọng Ni. Hán thư, phần Nho lâm truyện, viết Điền Tử Phương, Đoàn Can Mộc, Ngô Khởi, Cầm Hoạt Ly đều lần lượt thụ nghiệp nơi ông. Ông còn là thầy dạy của bậc vương giả. Nghĩa là ảnh hưởng của ông trong thời ấy rất rộng. Tương truyền việc ông viết lời tựa kinh Thi và Dịch truyện đều gắn với thời dạy học ở Tây Hà.
Tử Hạ rất giỏi điển tịch và văn chương, giỏi nắm những điều thầy truyền về kinh Thi, kinh Thư và kinh Dịch. Sử ký chép lời Khổng Tử rằng mình có bảy mươi bảy học trò giỏi, mỗi người một biệt tài: về đức hạnh có Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung; về chính sự có Nhiễm Hữu, Quý Lộ; về ngôn ngữ có Tể Ngã, Tử Cống; về văn học có Tử Du, Tử Hạ.
Khổng Tử thường bàn kinh Thi với ông. Một lần Tử Hạ hỏi: kinh Thi có câu miệng chúm chím cười xinh, đôi mắt đẹp đẽ long lanh, trên nền trắng vẽ ra bức tranh đủ màu, nghĩa là gì? Khổng Tử đáp: phải có sẵn một nền trắng, rồi sau mới vẽ thành tranh. Tử Hạ hỏi tiếp: vậy là làm người trước hết phải có trung tín, rồi sau mới giữ lễ phải không? Khổng Tử đáp: chỉ có anh Thương mới có thể cùng ta bàn về kinh Thi thôi.
Cuộc hỏi đáp về số của Dịch trong Khổng Tử gia ngữ
Trong Khổng Tử gia ngữ, thiên Chấp bí, còn lưu cuộc hỏi đáp của Khổng Tử và Tử Hạ về việc nghiên cứu Dịch. Tử Hạ thưa: con nghe nói Dịch sinh ra người, vạn vật, cho đến chim muông sâu bọ, mà loài nào cũng có chẵn có lẻ, khí phận mỗi loài một khác. Mọi người không biết sự thật ra sao, chỉ bậc đại đức mới có thể lần về tận gốc. Trời một, đất hai, người ba; ba lần ba là chín, chín lần chín là tám mươi mốt; tám mươi mốt là chủ về ngày; ngày thì mười. Cho nên người ta mang thai mười tháng thì sinh. Tám lần chín là bảy mươi hai, chẵn thì theo lẻ.
Đây là cuộc trò chuyện về khí và số mà Dịch sinh ra trời đất rồi sinh ra vạn vật, về lẽ “trời một, đất hai, người ba” và câu “sinh sinh gọi là Dịch” trong Hệ từ, gần với tam tài trong cách nhìn Dịch. Nó cho thấy ảnh hưởng của Tử Hạ đối với việc hình thành lý luận Dịch trong Dịch truyện. Ở chỗ khác Tử Hạ còn nói: con nghe rằng người ở nơi đất rắn, người ở nơi đất mềm đều thịnh hư theo mặt trời mặt trăng. Điều đó cho thấy ông hiểu sâu cách nhìn về cứng, mềm, thịnh, hư.
Dịch truyện mang tên Tử Hạ: có thật là của ông không?
Một bộ Dịch truyện đã mất, nhưng dấu của nó vẫn nằm trong lời chú của những bậc đại sư.
Hán thư, phần Nghệ văn chí, không nhắc Tử Hạ Dịch truyện. Nhưng Tùy thư, phần Kinh tịch chí, có chép: Chu Dịch hai quyển, dạy Ngụy Văn hầu, Bốc Tử Hạ truyện, tàn khuyết; thời Lương còn sáu quyển. Sách ấy còn kể lai lịch của Dịch: xưa Phục Hy lập bát quái để thông với đức thần minh và phân loại tình trạng của vạn vật, chồng bát quái lên nhau thành sáu mươi bốn quẻ. Rồi qua ba đời có ba bộ Dịch: nhà Hạ là Liên Sơn, nhà Ân là Quy Tàng, đến Văn Vương làm lời quẻ thành Chu Dịch. Chu Công viết lời hào. Khổng Tử viết Thoán, Tượng, Hệ từ, Văn ngôn, Tự quái, Thuyết quái, Tạp quái. Rồi đến Tử Hạ viết Dịch truyện.
Vị trí ngay dưới ba bậc thánh cho thấy chỗ đứng của ông. Từ Phòng thời Đông Hán cũng viết rằng các kinh Thi, Thư, Lễ, Nhạc được Khổng Tử định hình, còn việc khai mở chương cú thì bắt đầu từ Tử Hạ. Đời Nam triều, Lục Đức Minh trong Kinh điển thích văn tự lục viết Tử Hạ có soạn ba quyển Dịch truyện.
Điều đáng ngờ là ở chỗ khác. Lưu Hướng trong Thất lược nhắc chuyện Hàn Anh thời Hán, mà Hán thư không có Dịch truyện của Tử Hạ, lại có hai thiên Dịch truyện của Hàn Anh. Phải chăng Tử Hạ Dịch truyện chính là bộ lấy tên Hàn Anh? Điều này không phải không có căn cứ. Hàn sinh cũng dạy Dịch và lấy ý trong Dịch mà viết truyện, nhưng không nghe nói ông học Dịch ở ai, mà lại đề tên Tử Hạ, khác với truyện của Thương Cù. Cho nên Tử Hạ Dịch truyện, dù không phải do chính Tử Hạ viết, cũng là do người sau dựa theo tư tưởng của ông mà viết rồi đề tên ông. Chuyện này cũng xảy ra với nhiều sách cổ.
Bản gốc đã thất lạc. Nay chỉ còn bản Tử Hạ Dịch truyện mười một quyển, phần lớn do người đời sau thu gom rồi chép vào các bộ sách: Tôn Đường nhặt được một quyển trong Hán Ngụy nhị thập nhất gia Dịch chú; Mã Quốc Hàn nhặt được hai quyển Chu Dịch Tử Hạ truyện, chép trong Ngọc hàm sơn phòng tập dật thư. Bản mười một quyển không phải bản gốc mà là do người đời sau làm giả, được chép trong Tứ khố toàn thư và trong Thông chí đường kinh giải.
Dấu vết trong lời chú của các bậc đại sư
Dù vậy, Khổng Dĩnh Đạt đời Đường trong Chu Dịch chính nghĩa và Lý Đỉnh Tộ trong Chu Dịch tập giải đều dẫn rất nhiều lời bàn về Dịch của Tử Hạ. Có ba chỗ tiêu biểu.
Thứ nhất, về bốn chữ nguyên, hanh, lợi, trinh của quẻ Càn. Khổng Dĩnh Đạt viết, theo Tử Hạ truyện: nguyên là bắt đầu, hanh là thông, lợi là hòa, trinh là chính; đức của quẻ này thuần dương, tự nhiên lấy khí dương mà khởi sinh muôn vật, đó là cội nguồn và sự hanh thông của vạn vật, khiến tính chất muôn vật hài hòa, loài nào loài ấy đều bền lâu; thánh nhân học theo Càn mà làm bốn đức, nên nói nguyên hanh lợi trinh. Lý Đỉnh Tộ cũng dẫn lời ấy. Bản hiện hành, tên cũ đề Bốc Thương soạn, thì viết: thánh nhân khi ở ngôi đã giữ trọn nguyên khí thái hòa, thu về cái lợi và cuối cùng giữ được chính đạo.
Thứ hai, chú hào sơ cửu “rồng ẩn đừng dùng”. Lục Đức Minh nói rồng ví với khí dương và thánh nhân. Khổng Dĩnh Đạt dẫn rằng tiềm là ẩn nấp, rồng là vật biến hóa, ý nói khí của trời đất; dương khí thịnh còn ẩn dưới đất nên gọi sơ cửu là rồng ẩn, đó là hiện tượng tự nhiên mà thánh nhân phỏng theo để nói. Lý Đỉnh Tộ dẫn Tử Hạ truyện: rồng tượng trưng cho dương. Bản hiện hành: dương khí bắt đầu sinh, còn tiềm ẩn, chưa thành hình, tuy có đức của rồng nhưng chưa khác gì mọi người.
Thứ ba, chú quẻ Tỷ. Kinh điển thích văn và Chu Dịch tập giải đều dẫn Tử Hạ truyện: đất có nước thì mềm, nước ở trên đất thì chảy, nên gọi là Tỷ; quẻ Tỷ hợp bởi quẻ Khảm tượng trưng nước và quẻ Khôn tượng trưng đất. Lục Đức Minh còn dẫn Tử Hạ truyện ở rất nhiều quẻ nữa như Cổ, Truân, Tụng, Lý, Thái, Khiêm, Dự, Đại súc, Minh di, Khuê, Cấu, Tỉnh, Lữ. Câu còn lại được chép trong Nhị Dậu đường tùng thư: đất có nước thì thành đầm, nước có đất thì yên; dưới được trên thì yên, trên được dưới thì vững, nên tiên vương dựng muôn nước và thân với chư hầu thì thiên hạ yên.
Khổng Dĩnh Đạt, Lục Đức Minh, Lý Đỉnh Tộ đều là những đại gia về kinh học và Dịch học mà nhiều chỗ phải dẫn Tử Hạ, đủ cho thấy ảnh hưởng của sách này với đương thời.
Bộ Dịch truyện bị nghi giả nhưng vẫn đứng đầu
Cái tên được mượn nhiều khi chính là bằng chứng rõ nhất về uy tín của người có tên.
Tứ khố toàn thư xếp Tử Hạ Dịch truyện đứng đầu trong các kinh, và khen đây là sách xưa nhất bàn về Dịch. Phần toát yếu của bộ ấy ghi rằng các sách Hán bàn về Dịch có mười ba nhà nhưng không thấy Tử Hạ viết truyện; đến họ Lương, họ Nguyễn mới có sáu quyển Tử Hạ Dịch; có người nói do Hàn Anh viết, có người nói do Đinh Khoan viết, nhưng các lời không khớp nhau, lại thêm sách bị hủy hoại nhiều mà vẫn phải dùng, nên nhiều chỗ còn nghi vấn. Tư Mã Trinh cũng nói theo Thất lược của Lưu Hướng có Tử Hạ Dịch truyện, nhưng sách ấy đã lâu không thấy lưu hành, sách hiện hành phần nhiều khác nguyên bản. Chiêu Thuyết truyện trong Dịch Đường ký còn nói sách đề là Tử Hạ truyện hiện nay thực ra là Dịch của Trương Hồ đời Đường, thêm một bản giả nữa. Dù vậy, những lời dẫn trong Kinh điển thích văn, Chu Dịch tập giải và Khốn học kỷ văn đều nói rõ rằng sách ấy đã được truyền từ lâu.
Từ khảo chứng này có thể rút ra ba điều. Một là Tử Hạ là học trò có văn tài nhất trong số đệ tử Khổng Tử, cùng Tử Du sở trường kinh học và từng viết nhiều về kinh Thi, nên rất có khả năng ông đã biên soạn Dịch truyện; bản gốc đã mất, bản hiện hành là giả. Hai là một số nội dung của bản gốc còn được giữ trong Kinh điển thích văn của Lục Đức Minh, Chu Dịch tập giải của Lý Đỉnh Tộ và Khốn học kỷ văn của Vương Ứng Lân. Ba là bản gốc không có trong Hán thư, nhưng Tùy thư, Lương thư và Thất lược có chép, và Thất lược nghi sách này do Hàn Anh soạn rồi đề tên Tử Hạ.
Tử Hạ là nhân vật có ảnh hưởng lớn trong Dịch học ở hai mặt: truyền bá và soạn truyện. Về truyền bá, ông là một trong những đệ tử lớn của Khổng Tử; sau thầy mất ông giảng học ở Tây Hà, được Ngụy Văn hầu, Lý Khắc, Ngô Khởi tôn trọng. Giỏi về kinh điển Nho gia, lại chịu ảnh hưởng của thầy, ông có đóng góp lớn trong việc truyền thụ và nghiên cứu kinh điển, kể cả kinh Dịch. Về sách, bản gốc tuy thất lạc nhưng tinh túy được các đại học giả như Lục Đức Minh, Khổng Dĩnh Đạt, Lý Đỉnh Tộ tiếp thu và nhiều sách tập hợp đã lưu giữ. Bản hiện hành tuy không phải bản gốc cũng không nhỏ về ảnh hưởng, vẫn giữ được những tư liệu quý để nghiên cứu Dịch học.
Về học thuật, ông không nêu quan điểm nào đặc biệt, nhưng ảnh hưởng của ông trong việc truyền bá Dịch học rất sâu. Dù Tử Hạ Dịch truyện là sách người khác mượn danh, điều đó lại chứng thực địa vị quan trọng của ông trong Dịch học.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
