Bài tổng quan
Tô Vũ chăn dê và những đoạn truyện hay trong Hán thư
Giữa miền đất lạnh, một sứ thần đào hang chuột đồng lấy hạt ăn, cầm gậy chăn dê cho một vị vương nơi đất khách mà không phút nào đổi lòng. Có người cướp ngôi rồi khiến muôn dân khốn khổ, có người dâng sớ mà như khóc thay cho cả nước. Mười hai đoạn ngắn lần lượt hiện ra những gương sáng và gương tối của một triều đại.
Mục lục · 12 phần
- 01Tô Vũ chăn dê nơi đất khách
- 02Lời khen dành cho Hán Võ đế
- 03Đổng Trọng Thư ở nhà vẫn được triều đình hỏi kế
- 04Vương Mãng tiếm quyền: nhân đức lúc đầu, gian ác về sau
- 05Giả Nghị dâng sớ: khóc thay cho nước
- 06Tư Mã Thiên trong mắt Ban Cố
- 07Trương Khiên hai lần đi sứ Tây Vực
- 08Thực hóa chí: gốc của dân là cái ăn và cái mặc
- 09Nghệ văn chí: kinh thư bị đốt, bị tản, rồi được gom lại
- 10Thiên văn chí: 783 vì sao và sự ứng nhau giữa trời với đất
- 11Cao đế ký: Lưu Bang và bữa tiệc ở huyện Bái
- 12Tây Vực truyện: mở đất, mở cửa Ngọc môn
Tô Vũ chăn dê nơi đất khách
Tô Vũ đến vùng Hải Thượng, không có lương thực mang theo, phải đào hang chuột đồng, hái rau dại để sống qua ngày. Mỗi ngày ông cầm gậy chăn dê cho Kiền vương, chịu khổ như nếm mật nằm gai mà vẫn làm tròn phần việc của mình.
Năm sáu năm sau, Kiền vương đến Hải Thượng đi săn. Tô Vũ quăng lưới là bắt được cá, giương cung là bắn trúng thú. Kiền vương quý mến liền ban cho ông cơm áo. Hơn ba năm sau, Kiền vương bệnh nặng nhưng vẫn luôn thưởng cho Tô Vũ ngựa, gia súc, quần áo. Kiền vương mất, mọi người tản đi khắp nơi. Mùa đông năm đó, chỉ còn một mình Tô Vũ chăn dê, và ông lại trở về cảnh nghèo khổ như xưa.
Truyện này là một đoạn đặc sắc trong Hán thư. Tô Vũ bất chấp công việc tầm thường, một lòng chăn dê cho chủ, nêu lên tấm lòng trong sáng, trung trinh không hai. Người viết đặt ông bên cạnh Lý Lăng, hai người một trung một gian, đem so thì không cần bàn cũng rõ.
Lời khen dành cho Hán Võ đế
Sau khi kể hết một đời, người viết sử thường dừng lại một câu ngắn để định giá. Với Võ đế, đó là một đoạn khen rất dài.
Lời khen rằng: Hán Võ kế thừa tinh hoa của các vua trước, Cao tổ biến loạn thành yên, Văn vương và Cảnh vương theo đuổi sự nghiệp dưỡng dân, giữ lễ văn rất chu đáo. Ngày đầu lên ngôi, Võ đế đã có chủ trương nổi bật: mọi người học tập Lục kinh. Tiếng thơm vang trong ngoài nước, nhiều công tích được lập nên: mở mang trường học, tu sửa miếu thờ, giữ nghiêm thời Chính Sóc, làm ra lịch số, âm luật, thơ nhạc, dựng lễ phong thiền và tế bách thần, hiệu lệnh văn chương rạng rỡ. Con cháu nối được cơ nghiệp lớn, thịnh vượng ba đời. Võ đế hùng tài thao lược, cung kính theo phép dưỡng dân của Văn đế, Cảnh đế. Kinh Thi và Kinh Thư đã ngợi khen, hà tất phải nói thêm.
Đoạn khen này nằm ở cuối phần “Võ đế ký”, là bản đánh giá cao công đức của Võ đế và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sau.
Đổng Trọng Thư ở nhà vẫn được triều đình hỏi kế
Khi triều đình có việc lớn, vua sai sứ giả hoặc đình úy Trương Dạng đến tận nhà Đổng Trọng Thư để hỏi, và đều nhận được phương sách hay. Từ ngày Võ đế mới lên ngôi, những người như Ngụy Kỳ, Võ An Hầu đều noi theo Trọng Thư. Ông coi trọng Nho giáo, theo kế sách của ông thì noi gương họ Khổng, kìm chế trăm nhà. Việc đặt quan coi trường học, việc châu quận cử người hiếu liêm, đều là kế sách của Trọng Thư. Về già ông ốm mất tại quê. Gia tộc học hành đông đúc, con cháu thi đỗ làm quan to.
Đổng Trọng Thư là nhà đại Nho, nhà đại tư tưởng của triều Hán. Võ đế nghe theo quan điểm “ức chế trăm nhà, độc tôn Nho thuật” của ông, nhờ đó tăng cường tập quyền, củng cố sự nghiệp đại nhất thống. Đó là lý do ông có hẳn một truyện riêng.
Vương Mãng tiếm quyền: nhân đức lúc đầu, gian ác về sau
Lúc đầu Vương Mãng thuộc dòng ngoại thích. Bằng sức lực và tham vọng của mình, ông cầu vinh dự cho dòng họ, tỏ ra hiếu trung, thu nạp người giỏi bạn tốt cùng nhau giúp việc chính sự. Lúc nước thịnh lúc nước suy, ông đều cần lao vì quốc gia, đi trên đường thẳng, được mọi người ca tụng. Nhưng rồi ở nhà cũng nghe tiếng, ở triều cũng nghe tiếng, dẫn đến nhiều hành vi bất nhân và xảo quyệt. Nhân dịp chủ trì lễ mừng thọ thái hậu, mầm họa bắt đầu nảy sinh, và ý định tiếm quyền dần hình thành.
Vương Mãng lập căn cứ ở phía nam làm chỗ dựa, tự cho mình là người lật đổ Kiệt, Trụ để dựng lại thời Hoàng, Ngu. Lúc đầu nhân đức, càng về sau càng gian ác, gây nên nhiều tội ác lớn. Dân tình khắp nơi khốn khổ, trong ngoài phẫn nộ, xa gần lo lắng, thành trì bê trễ, triều đình chia rẽ, thành ấp ngày càng suy yếu, đất đai bị đào bới lung tung, hại đến dân sinh, tổn đến tình cốt nhục. Mãng được gọi là kẻ loạn thần tặc tử vô đạo, trên đời không ai gây tai họa bằng Mãng. Mãng mượn Thi, Thư để mưu lợi cá nhân, đọc lục nghệ để tìm kế gian, đi riêng một đường, mưu phế trừ thánh vương.
Vương Mãng là điển hình của kẻ ngoại đạo tiếm quyền triều Hán, nên Hán thư không xếp ông vào mục hoàng đế mà xếp ở cuối phần ngoại thích truyện. Đoạn trên là lời mô tả bản chất của ông, cho thấy sự giáng trả mãnh liệt dành cho dã tâm đoạt quyền, và giữ vững quan điểm chính thống của bộ sử.
Giả Nghị dâng sớ: khóc thay cho nước
Giả Nghị tâu với vua rằng nỗi lo của ông lớn đến mức nếu được khóc, ông sẽ là người đầu tiên rơi lệ, người thứ hai nhỏ nước mắt, người thứ ba thở dài. Ông âm thầm chịu nỗi khổ ấy, biết bản tấu sớ khó mà viết cho thấu. Những lời ông dâng là phép an định đất nước, ngày đêm canh cánh trong lòng. Người hiểu được phép an trị này đâu phải kẻ ngu đần, điên cuồng. Nay lúc lửa chưa bốc cháy, với thế hiện nay mà ra tay thì đâu có muộn. Từ trước đến nay chẳng lẽ bệ hạ chưa hiểu lòng thần? Xin xem “Trị an chi sách”, thử xem đất nước thái bình ra sao.
Giả Nghị là nhà chính luận, nhà văn, khi tham gia chính sự đã dâng sớ lên hoàng đế, nêu chủ trương trị nước. “Trị an sách” và “Quá Tần luận” (bàn về sai lầm khiến nhà Tần sụp đổ) là những bài rất nổi tiếng, được xem là “hồng văn”. Phần cuối truyện Giả Nghị còn chép lời Lưu Hướng: “Quá Tần luận” bình ba đời vua Tần, lời bàn sâu đẹp, thông đạt quốc thể, nói là lời bình hay nhất từ xưa đến nay cũng không ngoa.
Tư Mã Thiên trong mắt Ban Cố
Ban Cố viết về Tư Mã Thiên: ông có kiến thức quảng bác, trong kinh và truyện dẫn nhiều điển tích xưa nay, hàng nghìn điển tích, thật là chăm chỉ. Lưu Hướng và Dương Hùng đều ca ngợi ông là người có “tài của lương sử”. Lời văn của ông thẳng thắn, đầy chất nhân văn, không hoa mỹ rỗng tuếch, không ẩn ý ác độc, có thể gọi là sự thật của lịch sử.
Đoạn này lấy từ phần cuối truyện Tư Mã Thiên trong Hán thư, nơi Ban Cố dùng để đánh giá khách quan công lao của Tư Mã Thiên và hết lời ca ngợi: “lương sử chi tài”, “lời văn thẳng thắn”, “không hoa mỹ rỗng tuếch, không ẩn ý ác độc”.
Trương Khiên hai lần đi sứ Tây Vực
Dưới thời Tây Hán, Trương Khiên nhận lệnh của Hán Võ đế, hai lần đi sứ sang Tây Vực. Ông có rất nhiều đóng góp cho việc giao lưu kinh tế và văn hóa giữa Trung Nguyên và Tây Vực, đồng thời thúc đẩy mối quan hệ hữu hảo giữa Tây Hán với các nước phía tây. Truyện của ông ghi lại sự thật lịch sử về chuyến đi sứ ấy.
Thực hóa chí: gốc của dân là cái ăn và cái mặc
Thiên Hồng phạm nói về tám việc chính, việc thứ nhất là “thực”, việc thứ hai là “hóa”. Thực là trồng trọt làm ra của ăn; hóa là vải vóc làm quần áo mặc, cùng vàng, dao, rùa, vỏ sò lưu thông khắp muôn nơi. Cả thực lẫn hóa là gốc của sinh dân. Thời Thần Nông dạy dân chặt cây làm cày, đẽo gỗ làm lưỡi xới đất, có dụng cụ lao động, lương ăn ngày một no đủ. Sáng sớm ra chợ đã đông người, tụ họp mua bán, trao đổi hàng hóa, ai cũng được cái mình cần. Hàng hóa thông thương thì dân giàu nước mạnh.
“Thực hóa chí” có hai quyển, là một trong những phần chính nhất của mười Chí trong Hán thư. “Thực” đại biểu cho sản xuất nông nghiệp, “hóa” đại biểu cho buôn bán. Bộ Chí ghi tình hình kinh tế, tư tưởng, mậu dịch, tiền tệ thời Hán, là tài liệu quý để nghiên cứu tư tưởng kinh tế cổ đại. Đoạn trên miêu tả rõ mối quan hệ giữa nông và thương, và nhấn mạnh quan điểm lấy nông làm gốc. Quyển hai tổng kết tư tưởng kinh tế từ trước Tần đến Vương Mãng.
Nghệ văn chí: kinh thư bị đốt, bị tản, rồi được gom lại
Đoạn này kể rằng Xuân Thu chia làm năm, Thi chia làm bốn, Dịch chép việc của vài triều đại, rồi nếu gộp cả Chiến Quốc vào thì các sự kiện ở giữa lộn xộn vô cùng. Đến triều Tần thì đốt sạch văn chương, dùng kế ngu dân để trị. Sang triều Hán hưng thịnh, vua đổi cái hủ bại của nhà Tần, đi thu tìm thư tịch, mở rộng đường văn hóa. Đến đời Hiếu Võ, lễ hỏng nhạc đổ, vua than rằng “Trẫm rất bất yên”. Vua cho xây kho chứa sách, đặt quan chép sách, ban chiếu khắp nơi thu nạp thư tịch về triều. Đến đời Thành đế, thư tịch lại tản mạn khắp nơi. Thành đế sai Quang Lộc đại phu Lưu Hướng thu nạp kinh, truyện, thi phú; Bộ kinh hiệu úy Nhiệm Hoằng thu nạp binh thư; Thái sử lệnh Doãn Hàm hiệu chỉnh sách số thuật; Thị y Lý Trụ Quốc thu tập sách y thuật. Các bộ sách đều được đánh số chương mục rõ ràng, dễ tìm dễ thấy. Đến đời Ai đế, Lưu Hướng mất, con ông là Lưu Hâm nối nghiệp, gộp tất cả thành bộ “Thất lược” gồm bảy phần: Tập lược, Lục nghệ lược, Chư tử lược, Thi phú lược, Binh thư lược, Thuật số lược và Phương kỹ lược.
“Nghệ văn chí” là một trong những Chí nổi tiếng của Hán thư. Nó ghi lại diễn biến kinh thư điển tịch từ trước Tần đến Tây Hán, kèm mục lục thư tịch, là tư liệu quý để nghiên cứu văn sử và điển tịch. Đoạn này kể lại cảnh thư tịch thất tán trước Tần và quá trình thu tập, chỉnh lý thời Tây Hán, phản ánh sự chìm nổi của kho kinh thư nước nhà.
Thiên văn chí: 783 vì sao và sự ứng nhau giữa trời với đất
Về đồ họa và thư tịch thiên văn, có đến một trăm mười tám tác giả, ghi lại bảy trăm tám mươi ba vì sao tinh tú, ứng với các chức quan. Trong thời buổi lúc sáng lúc tối, chính tà còn mất, hư thực nhiều ít, tất cả đều gắn với ngũ hành, hợp tán phân ly. Nhật thực, nguyệt thực, sấm sét phong ba, mây đen biến khí đều biểu hiện tác động của âm dương, vật ở dưới đất phản ánh trên trời. Thành bại ở đây, biến đổi ở đây, hình thế nào bóng ứng thế ấy, tiếng thế nào vang ứng thế ấy. Người sáng suốt trước khi làm việc lớn thì giữ cho tư tưởng yên tĩnh thông suốt, họa qua phúc đến, hợp với thế giới tự nhiên.
“Thiên văn chí” là một trong những Chí nổi tiếng của Hán thư. Đoạn này tập trung tư liệu thiên văn học cổ của Trung Hoa từ trước Tây Hán, nội dung toàn diện, phong phú, xứng đáng là toàn tập thiên văn trước Tây Hán. Nó cực kỳ coi trọng quy luật tự nhiên, đó là điểm sáng trong thành tựu khoa học.
Cao đế ký: Lưu Bang và bữa tiệc ở huyện Bái
Cao tổ có mũi cao, mắt phượng, mày ngài, bộ râu rất đẹp, đùi trái có bảy mươi hai nốt ruồi đen. Ông khoan dung nhân nghĩa, đức độ hơn người, độ lượng. Thời trẻ ông làm đình trưởng Tứ Thượng, một chức quan nhỏ, việc gì cũng biết làm, và là người mê rượu mê sắc. Một lần ông ngao du đến Hàm Dương, chăm chú nhìn Tần hoàng đế rồi than một câu, ngầm chứa hoài bão lớn của người có chí khí.
Lã Công nhận chức huyện lệnh huyện Bái. Để tránh thù hận, giữ yên cửa nhà, ông mời các chức sắc trong huyện đến nhà dự tiệc. Hào kiệt trong huyện nghe tin đến chúc mừng rất đông. Làm chủ tiệc, Tiêu Hà cất tiếng: “Không đủ nghìn tiền thì ngồi nhà dưới.” Lúc ấy Cao tổ chỉ là viên đình trưởng nhỏ bé, cao hứng hô: “Mừng vạn tiền”, thực ra chẳng có một xu dính túi. Cao tổ bước vào, Lã Công kinh ngạc vội đứng dậy ra cửa đón. Lã Công giỏi xem tướng, thấy Cao tổ tướng mạo oai phong đường bệ thì rất kính trọng, cung kính mời ngồi. Tiêu Hà nói: “Anh Lưu hà tất phải nhún mình, chuyện nhỏ thôi mà.” Cao tổ đưa mắt nhìn khắp phòng, bước đến ghế chủ tọa ngồi xuống từ tốn. Suốt bữa tiệc Lã Công cứ liếc nhìn ông. Tan tiệc, Lã Công nói mình biết chút ít về tướng số, đã xem cho nhiều người nhưng chưa ai có tướng quý như ông, mong ông yêu quý, và xin gả ái nữ làm thiếp. Lã phụ nhân trách: ông thường ngày thương yêu con gái, định gả cho quý nhân, huyện lệnh huyện Bái mấy lần xin không cho, sao lại để làm thiếp Lưu Quý? Lã Công đáp: chuyện hôn nhân của con gái, ta là người hiểu rõ hơn cả. Nói xong ông gả con gái cho Cao tổ. Người con gái ấy sau là Lã hậu, sinh ra Hiếu Huệ đế và công chúa Lỗ Nguyên.
“Cao đế ký” là phần trung tâm của Hán thư, thuật lại toàn bộ quá trình Hán Cao tổ dựng nên triều Tây Hán và ca ngợi công đức nguyên huân của ông. Đoạn trên tả thuở trẻ ông có tướng mạo hơn người, được huyện lệnh Lã Công gả con gái, chứng tỏ sự phi phàm của Lưu Bang từ một người dân áo vải lên ngôi hoàng đế.
Tây Vực truyện: mở đất, mở cửa Ngọc môn
Thời Hiếu Võ, Hung Nô quấy nhiễu vùng biên giới phía tây, kết bè với Nam Khương, Nãi Biểu ở Hà Tây. Hiếu Võ thấy vậy bèn chia Tây Vực làm bốn quận, mở Ngọc môn thông ra Tây Vực, để chặn cánh phải của Hung Nô, chia cắt Nam Khương và Nguyệt Thị, cắt đường tiếp viện của chúng, dễ bề tiêu diệt. Thời Tây Hán, nhờ lệnh “dưỡng dân năm đời”, thiên hạ giàu có, của cải dư dả, quân sĩ cường tráng. Vì thế lãnh thổ được mở rộng tới tận Côn Minh, xây dựng cung điện nghìn cửa vạn hộ, cống nạp lễ vật từ nơi xa vạn dặm, lộ phí không sao tính xuể.
Dưới thời Tây Hán, bản đồ Trung Hoa mở rộng, biên giới ổn định, các dân tộc hòa đồng. Hán thư lập hẳn một tập “Tây Vực truyện” để phản ánh việc này.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
