Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Tần, Đường, Tùy, Minh sụp đổ vì những vết nứt giống nhau

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202611 phút đọc3 lượt đọc
Tần, Đường, Tùy, Minh sụp đổ vì những vết nứt giống nhau

Triều nào lúc dựng nghiệp cũng anh minh, và gần như triều nào cũng bắt đầu lung lay từ một chỗ: lòng tin đặt nhầm người, sức dân bị rút cạn, tiếng can bị bịt. Bốn triều Tần, Đường, Tùy, Minh cho thấy những vết nứt ấy nối nhau xuất hiện ra sao…


Nhà Tần mười lăm năm: tin hoạn quan, chôn học trò, vắt kiệt dân

Năm 221 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng nam chinh bắc chiến bao năm, ra sống vào chết mới thống nhất được sáu nước, chấm dứt cảnh mỗi nước chư hầu cát cứ một phương. Qua mấy thế hệ vun đắp, triều Tần lẽ ra phải vững mạnh, vậy mà chỉ tồn tại vẻn vẹn mười lăm năm. Nguyên do có ba.

Thứ nhất là làm mất lòng người, đốt sách chôn học trò. Rút bài học từ cảnh phong đất cho chư hầu ngầm chứa mầm chiến tranh, Tần Thủy Hoàng bỏ chế độ phong đất, chia đất nước thành quận huyện để củng cố chính quyền trung ương, đó là việc tích cực. Lẽ ra củng cố như vậy thì triều đại sống lâu, nhưng vì hà khắc quá mức nên dẫn tới diệt vong. Để ngăn chia rẽ, ông ra lệnh đốt sách, chôn sống học trò. Thư tịch về văn, sử, triết mà lịch sử để lại đều bị đốt sạch, trí thức bị hại dã man, bốn trăm sáu mươi nho sinh bị chôn sống, nền văn hóa bị tàn phá nặng nề.

Thứ hai là tin hoạn quan gian xảo. Doanh Chính quá tin hoạn quan Triệu Cao, giao cho y giữ ngọc tỷ, tạo điều kiện cho y thực hiện hàng loạt mưu mô về sau. Khi Tần Thủy Hoàng băng hà trên đường tuần thú, Triệu Cao câu kết với công tử Hồ Hợi và thừa tướng Lý Tư, sửa chiếu thư, mưu giết công tử trưởng Phù Tô, lập Hồ Hợi lên ngôi, rồi dùng kế chỉ hươu bảo ngựa để giết những kẻ không cùng phe. Tiếp đó Triệu Cao chém Lý Tư, ép Hồ Hợi tự sát, bản thân y không lên ngôi được nên đành lập Tử Anh. Không bao lâu sau nhà Tần diệt vong.

Thứ ba là ngang tàng bạo ngược, lòng dân oán thán. Từ đời Doanh Chính đến đời Hồ Hợi, triều Tần vắt kiệt người và của để xây cung A Phòng, lăng mộ vua, Vạn Lý Trường Thành, rồi để bù cho ngân khố thiếu hụt lại đánh sưu cao thuế nặng, phu phen liên miên. Dân bị đẩy vào đường cùng, tiếng than vang khắp nơi, cả nước đứng lên chống lại, nổi bật là cuộc khởi nghĩa của Trần Thắng và Ngô Quảng.

Ba nguyên nhân ấy cho thấy việc nhà Tần ngắn mệnh là tất yếu, nhưng mầm họa nằm ở Tần Thủy Hoàng: quá tin kẻ gian, bản thân bạo ngược, còn Hồ Hợi thì nhu nhược. Triều chính như vậy thì làm gì có lẽ trường tồn.

Huyền Tông: người dựng thịnh Đường cũng là người mở cửa cho loạn

Đại Đường thái bình thịnh vượng, tiếng thơm vang khắp nơi, vậy mà bỗng sinh loạn. Từ bốn thời thịnh trị có thể thấy một điểm chung: lúc đầu vua còn trẻ, sung sức, luôn chịu làm việc, cần kiệm liêm chính, một lòng củng cố địa vị. Đến cuối, hoặc tuổi già xế bóng sinh hủ lậu lẩm cẩm, hoặc còn nhỏ tuổi thì chẳng làm gì, hoặc ăn chơi hưởng lạc, hoặc quá tin kẻ gian, nên dẫn tới loạn lạc, suy yếu rồi diệt vong.

Đường Huyền Tông ở tuổi trung niên sức lực cường tráng, khí thế hăng say, đưa cả triều đình vào công cuộc trị nước yên dân, quốc gia rừng rực đà đi lên. Về cuối đời ông chìm trong tửu sắc, ưa nghe lời nịnh, khiến kỷ cương triều đình ngày càng xuống dốc. Biểu hiện ở ba điều.

Một là vua hồ đồ, quá tin tiểu nhân. Lúc cuối, Huyền Tông tin dùng tể tướng Lý Lâm Phủ, kẻ ghét người hiền, ngang ngược vô đạo, miệng thì ngọt mà bụng đầy dao găm, lộng quyền trong triều. Quần thần sợ hãi ngậm miệng, không ai dám can, Huyền Tông dần mất lòng tin của quần thần.

Hai là về già sinh hủ bại, đắm chìm trong tửu sắc. Huyền Tông không còn sủng ái Võ Huệ phi nữa, suốt ngày rầu rĩ, đại hoạn quan Cao Lực Sĩ bèn bất chấp luân thường đem Dương Ngọc Hoàn dâng cho vua. Từ đó vua mê đắm đôi mắt đưa tình của phi tử, bỏ bê triều chính. Để làm vui lòng nàng, ông bổ nhiệm anh họ nàng, một kẻ bất tài nhưng ngang ngược là Dương Quốc Trung, làm tể tướng, tự gây mầm họa cho mình.

Ba là tha thứ cho kẻ xấu cũng đồng nghĩa với khuyến khích cái xấu. An Lộc Sơn bề ngoài trung hậu mà bên trong gian hùng, được vua và quý phi sủng ái. Dưới sự che chở của quý phi, y chiêu binh mua ngựa, tích lương, rồi nhân lúc triều thần căm ghét Dương Quốc Trung, y giương cờ thảo phạt Quốc Trung để dấy binh. Đại quân áp sát Trường An, Huyền Tông dắt quý phi bỏ chạy, đến dốc Mã Ngôi quân sĩ nổi giận giết Dương Quốc Trung, ép vua ban cái chết cho Dương Ngọc Hoàn, rồi mới chịu hộ giá về cung.

Loạn An Sử tuy do An Lộc Sơn gây ra nhưng trách nhiệm thuộc về Huyền Tông. Từ một minh chủ ông trở thành một hôn quân sa đọa, quá tin tiểu nhân, để chính kẻ tiểu nhân ấy đào huyệt chôn mình. Người làm cho Đại Đường thái bình hưng thịnh cũng là người làm cho Đại Đường loạn lạc suy vong. Cuộc loạn tám năm mới dứt, chính trị và kinh tế nhà Đường thiệt hại nặng nề, không ngóc đầu lên được nữa.

Tùy Dạng Đế và bốn lối rút cạn sức dân

Nhà Tùy cũng như nhà Tần: cùng lập công lớn thống nhất đất nước, cùng mất ở đời thứ hai. Quả thật nhà Tùy đã đi vào vết xe đổ của nhà Tần. Cả hai triều lúc dựng nghiệp thì anh minh, đến đời sau thì vô đạo, hồ đồ, và sự ngắn mệnh của chúng để lại tiếc nuối sâu sắc.

Thứ nhất là xây dựng bừa bãi, cạn sức dân. Tùy Dạng Đế là một ông vua đại bịp. Ban đầu giả vờ nhân nghĩa liêm chính để được tin cậy mà lập thái tử, rồi hãm hại vua cha, giết anh để đoạt ngôi. Lên ngôi rồi, y lộ nguyên hình: ngạo mạn, ăn chơi xa xỉ, dâm loạn, xây cung điện vườn thượng uyển khắp nơi, chứa vàng bạc châu báu. Sau đó y vắt kiệt người và của xây kinh đô Lạc Dương, điều động một lực lượng dân công lớn đào con kênh dài tám trăm dặm, hàng triệu người tu bổ Vạn Lý Trường Thành, đào núi Thái Hành. Qua bao lần như vậy, dân công và phu dịch không kể xiết, đàn ông bị trưng dụng hết, ở nhà chỉ còn đàn bà con gái, sản xuất đình đốn, dân khổ cực than khóc.

Thứ hai là rong chơi không dứt, hao của nhiễu dân. Dương Quảng là một hoàng đế phong lưu, hay đi du ngoạn khắp nơi, vừa để phô oai vừa để thưởng ngoạn sông núi. Mỗi lần đi lại huy động hàng trăm xe hoặc thuyền rồng chở thần tử, cung phi, kẻ hầu người hạ ồn ào, đoàn tùy tùng nối dài có khi tới hai chục vạn người. Nơi đoàn dừng chân, quan địa phương phải vất vả chạy chọt đón tiếp, người giàu người nghèo đều kêu than. Cuối cùng chính y chết trên đường tuần du.

Thứ ba là ham hư danh, quốc khố rỗng. Y chỉ ham công danh, bất chấp dân phản đối, mấy lần đem quân đánh Cao Ly, hao người tốn của, ngân khố cạn kiệt. Sau đó ra lệnh nhà giàu bỏ tiền mua ngựa, nhà nghèo phải xuất đinh, khiến trăm họ trắng tay, vợ chồng con cái ly tán, ai trốn quân dịch bị tróc nã, bắt được thì đánh tàn phế suốt đời.

Thứ tư là tính cách bạo tàn, giết người như ngóe. Dạng Đế tàn ác, đàn áp khởi nghĩa giết hàng vạn người, hơi không vừa ý là giết hoặc chôn sống dân công, tội ác chồng chất, dân căm ghét. Lời ngay thì trái tai, y từ chối mọi lời can, giết những ai can phạm tới mình, thần dân oán mà không dám nói. Dân không chịu nổi sưu thuế nặng và phu dịch liên miên nên bỏ trốn khắp nơi, ruộng bỏ hoang, đời sống lầm than.

Tùy Dạng Đế là một bạo quân khét tiếng. Dù có công đào kênh, tu trường thành, mọi nhọc nhằn đều đổ lên đầu dân, y không để ý đến đời sống của dân, luôn đẩy họ vào cảnh nước sôi lửa bỏng, dẫn tới các cuộc nổi dậy, rốt cuộc nhà Tùy chìm trong làn sóng ấy. Qua chuyện nhà Tùy ngắn mệnh có thể thấy: vua vô đạo, đè nén dân thì dù đang giàu mạnh cũng không tránh khỏi suy vong.

Sùng Trinh treo cổ ở Cảnh Sơn: bốn vết nứt của nhà Minh

Ngày 19 tháng 3 năm 1644, sau khi nghĩa quân của Lý Tự Thành đánh vào Bắc Kinh, vị hoàng đế cuối cùng của nhà Minh là Chu Do Kiểm lên núi Môi Sơn, tức Cảnh Sơn ở Bắc Kinh ngày nay, treo cổ tự tận dưới một cây hòe dáng nghiêng. Một triều đại hơn hai trăm năm khép lại từ đó.

Bài học diệt vong của nhà Minh rất sâu, nhưng chỉ có thể nói nó diệt vong ở đời vua cuối cùng, chứ không thể đổ cho Chu Nguyên Chương thuở dựng nước. Chỗ yếu lớn nhất của vị vua cuối là đa nghi: nghi hết các quan đại thần quanh mình, để đặc vụ hoành hành, chính trị tối tăm, trung thần hiền tài hầu như bị giết sạch. Con cháu nối ngôi cũng như cha ông, nghi tất cả mà chỉ tin mù quáng vào hoạn quan, cuối cùng thái giám điều hành, triều chính mục nát, và triều đại bị lật bởi cuộc khởi nghĩa của nông dân.

Thứ nhất là triều chính hủ bại, phu dịch nặng nề. Cuối đời Minh, chính trị mục nát, ăn chơi xa xỉ, bỏ bê triều chính, quyền rơi dần vào tay thái giám. Tình thế đã xấu, vua còn cho xây lăng mộ, tổ chức hôn lễ cho thái tử và công chúa, chiến tranh biên giới, hao phí một lượng lớn tiền bạc, nên phải tăng lao dịch và thuế, dân khổ cực vô cùng.

Thứ hai là hoạn quan lộng quyền, kết thành bè đảng. Hoạn quan nhà Minh ngang ngược lộng quyền đến mức thành điển hình trong lịch sử. Chu Nguyên Chương từng ra quy định rõ để hạn chế thái giám dự triều chính, nhưng đến Chu Đệ, vì cảm kích công thái giám giúp mình đoạt ngôi, nên hoạn quan lại ngóc đầu dậy. Đời vua nào cũng có một đại hoạn quan làm khuynh đảo triều đình, như Vương Chấn, Uông Trực, Lưu Cẩn, Ngụy Trung Hiền. Họ không những trực tiếp can dự triều chính mà còn độc chiếm quyền hành, dựng nhà tù, giết hại tàn khốc các đảng đối lập như phái Đông Lâm, bài xích người không cùng phe, ly gián vua tôi, hãm hại trung thần.

Thứ ba là đa nghi trung thần, tin dùng hoạn quan gian giảo. Vua Minh ngờ vực mọi đại thần, phòng họ như phòng lũ lụt và thú dữ, còn mình thì mải hưởng lạc, giao việc triều chính cho hoạn quan thân tín làm thay, nên thực tế hoạn quan thành người thay thế hoàng đế. Có kẻ tìm đủ cách không cho đại thần gặp vua, ai phản đối là bị giết, văn võ bá quan đều phải phủ phục dưới chân hoạn quan. Thời Võ Tông, hoạn quan Lưu Cẩn đứng đầu tám hoạn quan được gọi là bát hổ, hung ác vô cùng. Thời Hỷ Tông, Ngụy Trung Hiền quyền khuynh thiên hạ, chỉ dưới một người là hoàng đế, được xưng Cửu thiên tuế. Sùng Trinh lên ngôi tuy trừng trị nặng bọn Ngụy Trung Hiền, nhưng vì không tin các đại thần nên lại trọng dụng hoạn quan.

Thứ tư là lao dịch ngày một nặng, dân khốn khổ. Ngày đầu dựng nước, Chu Nguyên Chương từng tự nhắc mình:

"Vừa được thiên hạ, sức của trăm họ còn thiếu thốn, như chim non không được vặt lông, như cây mới trồng không được chặt rễ."

Ông thường nhắc quần thần phải giảm lao dịch, giảm thuế để dân yên nghỉ, có vậy mới khôi phục được sản xuất. Về sau, khi nhà Minh yếu đi, gian hoạn chuyên quyền, triều đình bạc nhược, quốc khố hụt, chúng ra sức vơ vét của dân, dân đói khổ, khắp nơi dấy cờ khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Lý Tự Thành và Trương Hiến Trung, rồi lật nhà Minh.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện