Bài tổng quan
Lời tình yêu vui hóa buồn và lối kể phá khuôn cũ
Hai người đứng đờ nhìn nhau, mỗi người có hàng vạn câu muốn nói mà không câu nào ra khỏi môi. Rồi một người cười, một người ngã xuống ho ra máu. Có những mối tình không tìm được lời, và người viết khéo là người biết để im lặng nói thay…
Mục lục · 6 phần
- 01Lời tình yêu thật đến mức chỉ cần ba tiếng
- 02Từ cực buồn hoá ra cười, từ cực vui hoá ra khóc
- 03Lời của tình trong tình: nói được nửa chừng rồi nín
- 04Lời tình yêu trong tiềm thức: giấc mộng của Đại Ngọc
- 05Lời tình thân trong gia đình: nước mắt của người ở cung cấm và người đi xa
- 06Lối kể bỏ người dẫn truyện, để nhân vật tự nói
Lời tình yêu thật đến mức chỉ cần ba tiếng
Lời tình yêu trong Hồng lâu mộng được tả rất giỏi, rất có tình, đạt đến đỉnh điểm của ngôn ngữ tình yêu trong tiểu thuyết cổ điển. Một thủ pháp quan trọng của nó là dùng cách nói thực để diễn đạt tình yêu.
Hồi thứ 32 nói về tình yêu của Giả Bảo Ngọc với Lâm Đại Ngọc có muôn ngàn lời để nói, nhưng chỉ cần ba tiếng "Em yên tâm" thốt ra, lời tuy ít mà đủ cảm động cả trời đất. Đại Ngọc ngẩn người một lúc rồi nói: có việc gì mà em không yên tâm? Em không hiểu câu nói của anh; anh nói lại xem thế nào là yên tâm với không yên tâm? Bảo Ngọc thở dài, hỏi: quả thực em không hiểu câu ấy à? Không lẽ lòng anh gắn bó với em từ bấy lâu nay đều là nhầm cả hay sao?
Đại Ngọc nghe nói, người choáng lên như sấm ran sét đánh, ngẫm nghĩ từng ly từng tí mới biết câu nói ấy rất thấm thía, hơn là moi từ trong gan trong ruột mình ra; có hàng vạn câu muốn nói nhưng không nói ra được nửa lời, chỉ cứ trừng trừng nhìn Bảo Ngọc. Bấy giờ trong bụng Bảo Ngọc cũng có hàng vạn câu muốn nói, nhưng không biết bắt đầu từ câu gì, nên cũng trừng trừng nhìn Đại Ngọc. Hai người đứng đờ ra một lúc, rồi Đại Ngọc ho một tiếng, nước mắt ròng ròng, quay đầu chực chạy.
Từ cực buồn hoá ra cười, từ cực vui hoá ra khóc
Có một thứ tiếng cười nặng hơn mọi tiếng khóc, và có một thứ nước mắt chỉ rơi trong ngày đoàn tụ.
Hồng lâu mộng là bộ tiểu thuyết bi kịch tình yêu, nên lời tình yêu phần lớn buồn thảm. Truyện không chỉ chú trọng viết từ cực vui hoá buồn, mà còn viết từ cực buồn hoá vui, tạo ra những chuyển biến mạnh mẽ về tình cảm; đó là điều tuyệt diệu của lời tình yêu trong truyện. Như khi nghe chị cả Ngốc nói Bảo Ngọc cưới Bảo Thoa, trong trường hợp cực kỳ đau đớn ấy Đại Ngọc lại cười với Bảo Ngọc. Tiếng cười ấy so với tiếng khóc nặng biết bao.
Ở hồi thứ 96, lúc đó rất lạ, Đại Ngọc không còn yếu đuối như trước. Nàng không cần Tử Quyên vén màn, tự mình vén lên, vào nhà thấy im lặng cũng chẳng để ý, cứ đi thẳng vào phòng. Bảo Ngọc đang ngồi đấy, cũng không đứng dậy mời, chỉ nhìn Đại Ngọc mà cười hì hì. Hai người chẳng chào hỏi, chẳng nói năng mời mọc gì, chỉ nhìn nhau cười một cách ngây ngô. Tập Nhân thấy tình hình như thế, trong bụng bối rối mà chẳng biết làm sao. Bỗng nghe Đại Ngọc hỏi: anh Bảo, anh làm sao mà ốm thế? Bảo Ngọc cười đáp: tôi vì cô Lâm mà ốm đấy. Tập Nhân và Tử Quyên đều khiếp sợ thất sắc, vội lựa lời nói lảng. Thế rồi hai người cũng chẳng nói gì, cứ ngồi cười ngây ngô như trước. Đại Ngọc đứng dậy, cứ nhìn Bảo Ngọc vừa cười vừa gật đầu. Tử Quyên giục: cô ơi, về nhà nghỉ thôi. Đại Ngọc nói: phải đấy, giờ đến lúc ta về đây. Nói rồi nàng quay gót đi ra, vẫn không cần bọn a hoàn dìu đỡ, tự mình đi nhanh hơn ngày thường. Khi đã gần đến cửa, Tử Quyên nói: a di đà Phật, may đến nhà rồi! Nói chưa xong thì thấy Đại Ngọc ngã sấp xuống, "oẹ" một cái, miệng nhổ ra một cục máu tươi.
Lời tình yêu vui quá hoá buồn cũng là cái tuyệt của truyện. Như đoạn Giả Nguyên phi thăm nhà, rất cảm động, có thể nói là đoạn miêu tả tuyệt vời về tình yêu thân thuộc. Ba tuần dâng trà xong, nhạc ngừng, Giả phi xuống ngai; Giả Mẫu quỳ xuống ngăn lại. Thoạt gặp mặt nhau, Giả phi rỏ nước mắt, một tay nắm Giả Mẫu, một tay nắm Vương phu nhân, ba người đều thổn thức nói không ra lời. Hình phu nhân, Lý Hoàn, Vương Hi Phượng, ba chị em Nghênh Xuân, Thám Xuân, Tích Xuân đứng bên cạnh cũng rỏ nước mắt không nói gì.
Giả phi lặng lẽ thở dài: xa hoa quá. Ngày trước đã đưa tôi đến chỗ không bao giờ được về gặp người nhà; nay may được về đây, mẹ con lại không cười không nói, cứ khóc mãi; chốc nữa tôi đi, biết bao giờ lại được gặp nhau. Nói tới đó nàng lại thổn thức khóc. Giả Chính đứng ngoài rèm vái chào thăm hỏi, Giả phi buông rèm gặp gỡ, và ngậm ngùi cách rèm hỏi cha:
Những nhà thôn quê tuy dưa muối sồi vải, lại được hưởng thú vui đoàn tụ với người thân. Ta nay phú quý đến cùng cực, nhưng cốt nhục phân ly, cũng chẳng có thú gì.
Có thể nói vui rất lớn và buồn cũng rất lớn, là mẫu mực viết nỗi buồn trong cái vui. Đồng thời những lời tình thân ấy phản ánh tâm tình Giả Nguyên phi: tuy là hoàng phi nhưng vẫn nằm trong niềm vui gia đình, không vì phú quý trong cung đình mà thay đổi. Cách dùng đối chọi giữa vui và buồn để nêu bật tình cảm cũng là một điều tuyệt của lời tình yêu trong truyện.
Lời của tình trong tình: nói được nửa chừng rồi nín
Khi một người thương mà nói không trọn một câu, ta biết điều họ giấu còn lớn hơn điều họ nói.
Lời tình yêu của Tào Tuyết Cần hết sức hàm súc, có thể nói là lời của tình trong tình. Đoạn Bảo Ngọc bị đòn, Bảo Thoa và Đại Ngọc đến thăm cũng là một đoạn điển hình. Ở hồi thứ 34, Lâm Đại Ngọc khóc đến nỗi "hai mắt sưng bằng hai quả nhót", bộc lộ hết tình thật. Ngay cả Bảo Thoa, người sống trong kín cổng cao tường, cũng "nói được nửa chừng thì nín hẳn lại":
Nếu cậu sớm chịu nghe lời mọi người thì đâu đến nỗi như ngày hôm nay! Chả cứ cụ và dì, mà ngay chúng tôi trông thấy cũng…
Mới nói được nửa chừng thì nàng nín hẳn, tự nhiên hai mắt đỏ hoe, cúi đầu xuống, tay mân mê dải áo, có dáng e lệ then thùng không thể hình dung hết. Bảo Ngọc trong lòng càng thêm cảm động, bao nhiêu đau đớn dường như đã trút sạch ra ngoài chín tầng mây. Những câu nói của Bảo Thoa và Đại Ngọc khi đến thăm, bỗng nhiên đang nói lại ngừng, khó bề thổ lộ, chẳng phải là lời tình trong tình đó sao.
Lời tình yêu trong tiềm thức: giấc mộng của Đại Ngọc
Có những nỗi sợ mà ban ngày không dám nghĩ, đến đêm chúng tự bước vào giấc ngủ.
Truyện còn khéo dùng tiềm thức để tả tình, dùng thủ pháp hư hư thực thực trong cảnh mộng để truyền tình. Nó khắc hoạ hoạt động tâm lý của Đại Ngọc đang thương cảm thân phận bèo dạt mây trôi, trong đó rõ ràng cũng ẩn giấu tình yêu. Hồi thứ 82 có một cảnh mộng như sau.
Bỗng dưng Đại Ngọc thấy Phượng Thư, Hình phu nhân, Vương phu nhân, Bảo Thoa đều đến, cười nói: chúng tôi trước là đến mừng, sau là tiễn cô. Đại Ngọc hoảng lên hỏi các mợ và các chị nói gì vậy. Phượng Thư nói: cô còn giả vờ ngớ ngẩn nữa thôi, chả lẽ cô lại không biết chú Lâm thăng chức lương đạo tỉnh Hồ Bắc, lấy một bà kế mẫu rất tâm đầu ý hợp; bây giờ cha cô nghĩ bỏ cô ở đây không ra sao cả, nên nhờ ông Giả Vũ Thôn làm mối, đưa cô gả cho người bà con nào đó của bà kế mẫu, nghe nói là làm vợ kế, vì thế sai người đến đón cô về. Đại Ngọc nghe nói lạnh toát cả người, càng nghe càng tức, càng bối rối, đành nắm lấy Bảo Ngọc khóc: anh ơi, anh bảo em theo ai? Bảo Ngọc nói: em không muốn đi thì ở lại đây; em vốn đã hứa hôn với anh nên mới đến ở đây; anh đối đãi với em thế nào, em nghĩ lại xem. Đại Ngọc khóc oà lên thì bỗng nghe Tử Quyên gọi: cô, cô, nằm mơ gì thế, mau tỉnh dậy, cởi áo ra mà ngủ.
Đại Ngọc trở mình một cái, thì ra là một cơn ác mộng. Trong cổ vẫn còn nghẹn ngào, tim đập thình thịch, gối đầu đã ướt đẫm, toàn thân lạnh ngắt. Nàng nghĩ một hồi: cha mẹ mình chết đã lâu, mình với Bảo Ngọc hôn nhân chưa định, việc này do đâu mà ra? Lại nghĩ cảnh ngộ của mình trong giấc mộng, không nơi nương tựa, nếu thật Bảo Ngọc mà chết đi thì biết làm thế nào. Nghĩ đến đó nàng đau xót, tâm thần rối loạn. Lời tình yêu ở đoạn này như than như khóc, đau thương xé ruột nát gan, đồng thời cũng ẩn giấu bi kịch tình yêu của Đại Ngọc.
Lời tình thân trong gia đình: nước mắt của người ở cung cấm và người đi xa
Người ta bước vào cung vàng điện ngọc, và điều họ nhớ nhất vẫn là bữa cơm dưa muối của nhà mình.
Lời tình thân trong gia đình ở truyện hết sức chân thật, cảm động. Như đoạn Nguyên phi sinh bệnh, Giả Mẫu, Giả Chính và một số người được phép vào cung thăm hỏi; lúc đó chỉ đàn bà con gái được vào, đàn ông chỉ được hỏi thăm ở ngoài cung. Phượng Thư đang định đứng dậy tâu bày thì thấy một cung nữ chuyển vào danh sách có nhiều chức tước tên tuổi, xin quý phi xem qua. Nguyên phi cầm xem, thấy tên bọn Giả Xá, Giả Chính, trong lòng chua xót, nước mắt lưng tròng. Nàng ứa nước mắt hỏi: tôi không được gần gũi cha mẹ anh em, thật không bằng con nhà thường dân.
Lại như lời Thám Xuân bị gả xa:
Con đành lỗi với mẹ cha, khóc thương chỉ thiệt thân già đấy thôi.
Cùng thông, số đã định rồi, hợp tan âu cũng duyên trời chỉ đây.
Phân chia hai ngả từ nay, dám mong giữ được ngày ngày bình yên.
Con đi, xin chớ lo phiền.
Những lời tình thân trong truyện sâu đậm tình người; đó chính là đặc điểm của Hồng lâu mộng.
Lối kể bỏ người dẫn truyện, để nhân vật tự nói
Khi người kể lùi ra khỏi sân khấu, chỉ còn các nhân vật đứng đó, và họ phải tự nói lên mình.
Trước Hồng lâu mộng, tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa chủ yếu là tiểu thuyết theo thể chương hồi, đặc điểm là lối bản thoại, lối kể bằng miệng người nói chuyện. Hồng lâu mộng là tiểu thuyết thể trần thuật, phá cách nói của tiểu thuyết chương hồi: bỏ vai người nói chính để triển khai tình tiết một cách tự nhiên, nâng cao trình độ mỹ học của tiểu thuyết. Vì vậy Lỗ Tấn mới nói: từ khi Hồng lâu mộng ra đời đã phá vỡ tư tưởng và cách viết truyền thống.
Điểm ưu việt của tiểu thuyết thể trần thuật là càng có lợi cho việc dựng hình tượng nhân vật, mà dựng nhân vật thành công hay không lại là yếu tố cơ bản để đánh giá trình độ cao thấp của một bộ tiểu thuyết. Sự thành công của Hồng lâu mộng có điều căn bản nhất là thành công trong việc dựng nhân vật. Thể văn trần thuật kết hợp tản văn với văn vần biểu thị cái đẹp nghệ thuật của ngôn ngữ tiểu thuyết, khiến bộ truyện tràn đầy ý vẽ tình thơ, xoá đi vị khô khan, thuyết giáo của tiểu thuyết theo thể cũ.
Văn học là nhân học: chỉ có để cho con người trong tiểu thuyết tự nói mới tránh được cảnh phải thay thế bằng người nói thay. Nhân vật của Hồng lâu mộng sở dĩ sống động, một mặt vì nó đến từ đời sống hiện thực của xã hội, một mặt vì nó liên quan đến sự đổi mới thể văn. Bộ truyện mở đầu cho tiểu thuyết thể trần thuật, mở ra tương lai rộng rãi cho sự phát triển của tiểu thuyết, và có ảnh hưởng sâu sắc đến tiểu thuyết Trung Hoa về sau.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
