Bài tổng quan
Sang hèn, cát hung, thọ yểu đều đọc từ dụng thần
Có Tứ trụ quan tinh chồng chất mà vẫn hèn, lại có lá số chẳng thấy quan mà vẫn sang. Có người cả đời yên ổn dù không giàu, có người sóng gió liên miên dù tiền của không thiếu. Điều phân định không nằm ở chỗ nhiều hay ít, mà ở chỗ thứ ấy là hỉ hay là kị, và dụng thần đứng vững hay đổ...
Mục lục · 6 phần
- 01Sang hay hèn phải xem quan tinh, nhưng nhiều ít chưa phải điều quyết định
- 02Quan tinh là dụng thần: mấy dạng sang thường gặp
- 03Quan nhiều, quan ít và những cách hèn
- 04Cát và hung: dụng thần yên ổn hay bị phá
- 05Thọ và yểu: nguyên khí dày hay mỏng
- 06Giàu, sang, cát, thọ và những điều ngược lại, gói trong mấy câu
Sang hay hèn phải xem quan tinh, nhưng nhiều ít chưa phải điều quyết định
Muốn biết một người sang hay hèn thì phải nhìn quan tinh, gồm cả chính quan lẫn thiên quan. Nhưng không phải cứ quan vượng là sang, quan nhược là hèn. Có lúc quan tinh nhiều vô kể mà vẫn hèn, ngược lại quan tinh yếu, thậm chí vắng mặt mà vẫn sang. Mấu chốt vẫn là ba câu hỏi quen thuộc: quan tinh ấy có phải hỉ thần hay không, có nguồn nuôi hay không, có trọn vẹn hay không và rốt cuộc có lợi cho mình hay không.
Nếu trong mệnh không kị tài, mà quan lại là dụng thần thì phú quý song toàn.
Quan tinh là dụng thần: mấy dạng sang thường gặp
Quan là dụng thần có lực
Chỉ khi thân vượng mới lấy quan tinh làm dụng thần được. Quan làm dụng thần mà có lực, không bị khắc, hợp, xung là một dạng sang rõ nhất. Kiếp nặng, tài nhẹ, quan chế được kiếp, thân vượng, kiếp và tài lại được quan che chở thì sang nhiều hơn giàu vì tài nhẹ. Kị tỉ kiếp mà quan vượng, tài vượng đủ sức chống tỉ kiếp thì giàu sang.
Quan là hỉ thần và chuyện quan ẩn
Nhật chủ nhược, dụng thần là ấn, quan trợ giúp cho dụng thần có lực, đồng thời dụng thần không bị hợp, khắc, xung: đó là quan làm hỉ thần.
Có sách giải thích ám quan là trong mệnh không có quan. Phải nhớ quan tinh là dấu hiệu của chữ sang; thông thường không có quan tinh thì không duyên với chức tước. Tuy nhiên, có thể lấy tháng sinh mà xem quan tinh có được sinh phù không để biết quan vượng hay suy. Quan vượng mà làm dụng thần là mệnh có tài. Quan gặp tuế vận thì có chức vụ.
Thân vượng, quan vượng
Quan tinh vượng làm dụng thần, lại có ấn thụ bảo vệ quan thì nhất định sang. Thân vượng gánh nổi tài quan, có ấn thụ tỉ kiếp sinh khắc chế hóa đủ đầy là giàu sang. Quan vượng mà thân nhược, quan sinh ấn: quan quá vượng khắc thân quá mức, cho nên có thể lấy ấn vượng làm dụng thần thông quan, hóa quan thành sinh thân, và nhờ vậy mà sang. Thân vượng, quan vượng, ấn suy, tài tinh không hiện, nhưng ấn tỉ giúp thân chặt chẽ, tức quan và thân ngang nhau thì cũng sang.
Thân vượng, sát mạnh, thực thần có lực: thất sát vốn là tiểu nhân, nhờ thực thần chế áp mà phụ tá được cho vua, có ích cho đời, gọi là anh hùng áp đảo vạn người. Sát và thân cùng vượng, không có ấn, thực thương làm dụng thần có lực, ấn không làm hại dụng thần, dụng thần chế được sát vượng thì thân và sát ngang nhau, cũng sang.
Quan nhược mà vẫn sang
Thân vượng, quan nhược, tài có lực: tài vượng sinh cho quan nhược, quan nhờ vậy mà vinh hiển nên phú quý. Ấn vượng, quan suy, tài làm hại ấn: thân vượng thì ấn là kị thần, quan suy không sinh nổi ấn, nhưng có tài sinh quan, tài lại chế được ấn tinh là kị thần; thân, tài, quan ngang đều nhau, đó là mệnh phú quý.
Một số cách quan là dụng thần khác
Thân nhược, dụng thần là tỉ kiếp, tài suy, quan có thể sinh ấn: quan vượng làm ấn vượng, ấn sinh dụng thần, không có kị thần tài khống chế, nên thân từ nhược thành mạnh, thắng được quan, gánh được quan và trở nên sang. Thân nhược, tài vượng, có ấn, tỉ kiếp, quan tuy không nhiều nhưng không bị phá; dụng thần quan tinh thông được với tài ấn để sinh thân, ngũ hành tương sinh hợp tình hợp lý nên phú quý song toàn. Thân nhược, tài tinh làm hại ấn, quan có thể sinh ấn: dụng thần là ấn, kị tài tinh làm tổn ấn; có quan vượng hóa tài liên tục sinh cho ấn rồi sinh cho thân. Tài là kị thần nhưng được quan hóa giải nên hợp lý, đó là người tiểu phú đại quý.
Quan nhiều, quan ít và những cách hèn
Thường thì quan sát không trung hòa, nặng quá hoặc nhẹ quá, nên có hại mà thành ra chuyện.
Quan nhiều
Quan nhiều kị gặp tài, thân lại nhược: tài tinh nắm lệnh hoặc có tài cục, thân nhược không gánh nổi tài quan nên nghèo hèn. Nếu thân vượng mà tài quan tương sinh càng vượng thì vẫn khắc thân; gặp vận ấn, vận tỉ kiếp thì có đỡ hơn.
Thân nhược, dụng thần là ấn nhưng tài tinh phá ấn: dụng thần bị tài khắc tổn, không có quan vượng để sinh ấn hóa giải tài, nên mệnh hèn. Quan sát nặng mà không có ấn: quan sát nặng, không có ấn sinh thân hóa giải, thân bị quan sát khắc nên hèn. Chính quan nặng, không có ấn, thực thương mạnh để áp lại: thân nhược không nơi nương tựa, quan tinh bị thực thương chế, thực thương lại xì hơi thân, đó là sự xì hơi vô tình làm nghèo hèn. Quan nặng, ấn nhẹ, thân nhược: tuy quan sinh ấn nhưng ấn yếu không đủ sức sinh thân, thân nhược vẫn bị quan tinh vượng khắc nên rơi vào mệnh hèn.
Quan nhược
Quan nhược, kiếp nặng, không có tài: quan yếu lại không có tài sinh, gặp kiếp tài nặng nên nghèo hèn. Quan nhẹ, ấn nặng, thân vượng: ấn hóa quan mà không còn quan, thân vượng mà không quan là hèn. Quan tàng không thấu, tài nhẹ, kiếp nặng: thân vượng, tài và quan đều nhẹ, tức không có tài quan để nuôi mệnh nên nghèo hèn.
Cát và hung: dụng thần yên ổn hay bị phá
Cát chưa chắc đã giàu sang, nhưng cả đời ổn định, ít vất vả phong ba, vì dụng thần gắn liền với cái sinh phù nên yên ổn. Hung thì đói khổ, nhiều hiểm họa, sóng gió, dễ bị thương tổn. Kị thần có lực khắc dụng thần, cách cục Tứ trụ lại thiên khô là mệnh không có cứu, đưa đến dụng thần rơi vào nguy hại. Tứ trụ thiên khô không cứu nghĩa là bệnh nặng không thuốc, không chọn nổi dụng thần, đã thế lại còn bị phá.
Cách xem cát
Chung cho mọi trường hợp: dụng thần có sinh hoặc có người che chở, tránh bị khắc tổn thương; dụng thần ở thiên can không bị khắc hợp, ở địa chi không bị khắc, hợp, hình, xung.
Thân vượng thì có bốn thế cát. Dụng thần là tài, có thực thương sinh tài hoặc có quan sát bảo vệ tài. Dụng thần là quan, có ấn bảo vệ quan. Dụng thần là sát, sát nặng thì có thực thương chế, sát nhẹ thì có tài sinh. Dụng thần là thực thương, có tài lưu thông và bảo vệ thực thương, đều là cát.
Thân nhược cũng có bốn thế cát. Dụng thần là tỉ kiếp, quan tinh nặng, có ấn sinh thân và xì hơi quan. Dụng thần là tỉ kiếp, tài tinh nặng, có quan xì hơi tài và sinh ấn. Dụng thần là tỉ kiếp, thực thương nặng, có ấn chế thực thương mà sinh thân. Dụng thần là ấn, có quan tinh sinh ấn, hoặc tỉ kiếp bảo vệ ấn.
Cách xem hung
Hung là khi không có dụng thần, hoặc dụng thần bị hóa mất, không được sinh, bị khắc; hoặc kị thần quá nhiều, không bị chế, lại được sinh. Cụ thể theo từng sao:
Tài nặng: tài vượng, thân nhược, kiếp và ấn nhẹ. Tài nhẹ: dụng thần là tài, tài nhẹ mà kiếp nặng, ấn nặng. Quan nặng: quan nhiều, thân nhược, không có ấn. Quan nhẹ: dụng thần là quan, ấn nặng. Sát nặng: thân nhược lại không có thực thương, ấn thụ; hoặc thân nhược kị sát lại gặp nhiều tài. Sát nhẹ: dụng thần là sát nhưng sát nhẹ không chế nổi bên nặng, lại không có tài. Ấn nặng: ấn kiếp đều nặng mà quan nhẹ. Ấn nhẹ: dụng thần là ấn mà gặp tài nhiều. Thực thương nặng: thực thương nhiều mà không có ấn. Thực thương nhẹ: dụng thần là thực thương lại gặp nhiều kiêu thần. Tỉ kiếp nặng: ấn và kiếp đều nặng còn quan nhẹ; hoặc Tứ trụ tỉ kiếp nhiều mà không có quan sát. Tỉ kiếp nhẹ: dụng thần là tỉ kiếp mà quan sát nhiều.
Thọ và yểu: nguyên khí dày hay mỏng
Người thọ là người nguyên khí dày, tức dụng thần được sinh mà có lực. Người yểu là người nguyên khí mỏng, tức dụng thần được ít khí, Tứ trụ thiên về khô, không có tổ hợp tốt.
Dấu hiệu mệnh thọ
Thân vượng, dụng thần là quan, quan nhược gặp được tài: dụng thần được sinh nên có lực. Thân vượng, dụng thần là tài, tài nhẹ gặp thực thương: dụng thần được sinh nên có lực. Thân nhược nhưng có ấn thụ nắm quyền. Gặp các vận là hỉ thần của dụng thần. Tứ trụ không bị xung, hoặc có xung nhưng hội về cho dụng thần, hỉ thần không bị phá hại. Ngũ hành đồng đều là tốt, trung hòa và thuần túy thì càng thọ.
Dấu hiệu mệnh yểu
Dụng thần đã nhược lại bị khắc, kị thần có lực. Kị thần và dụng thần hỗn chiến. Thân quá vượng mà không bị khắc, xì hơi, hao tổn. Thân quá nhược, gồm ba dạng: thân quá nhược mà ấn quá nặng, nhật nguyên không có gốc, ấn sinh mạnh quá nên phiêu diêu, lưu lửng; tài sát quá vượng, nhật chủ không chỗ dựa, quá yếu lại không có ấn thụ, tỉ kiếp để thắng tài sát; thân nhược không có ấn mà thực thương chồng chất.
Ngoài ra còn các dấu hiệu: xung hợp bất lợi, kị thần không bị xung hợp mà dụng thần hoặc hỉ thần lại bị xung hợp; thân nhược lại gặp vận không lợi cho dụng thần hay hỉ thần, hoặc gặp các vận hao tổn xì hơi không có lợi cho bản thân; kim hàn thủy lạnh làm thổ đóng băng, hoặc hỏa nóng thổ khô làm mộc cháy khô; và Tứ trụ thiên khô hỗn tạp.
Tóm lại, phú quý cát thọ hay nghèo hèn hung yểu đều dựa vào cách cục mà định. Đại vận tốt thì mọi việc trôi chảy: giàu thì phát đạt, sang thì xe ngựa nghênh ngang, cát thọ thì sống lâu vô cương. Đại vận xấu, hình xung khắc hại đúng chỗ yếu của mệnh cục thì mọi chuyện đều xấu. Đại vận tốt mà lưu niên không tốt, hoặc đại vận không tốt mà lưu niên tốt, là còn có cứu. Đại vận đã xấu, lưu niên cũng xấu là không có cứu. Mọi kết luận đều nên kết hợp với tướng mặt, tướng tay và khí sắc rồi mới chốt.
Giàu, sang, cát, thọ và những điều ngược lại, gói trong mấy câu
Giàu: nhật chủ mạnh thì tài tinh là dụng thần, tài càng vượng càng giàu; nhật chủ yếu thì tỉ kiếp là dụng thần, tỉ kiếp càng vượng càng giàu.
Sang: nhật chủ nhược, quan sát là dụng thần, quan sát càng vượng càng sang; hoặc nhật chủ nhược, ấn tinh là dụng thần, ấn tinh càng vượng càng sang.
Cát: nhật chủ mạnh thì cái áp chế, làm hao tổn, xì hơi nhật chủ là dụng thần, dụng thần được sinh vượng càng tốt; nhật chủ nhược thì cái sinh phù nhật chủ là dụng thần, được sinh vượng càng cát.
Thọ: nhật chủ mạnh, thực thương là dụng thần, thực thương càng vượng càng thọ; nhật chủ nhược, ấn tinh là dụng thần, ấn tinh càng vượng càng thọ.
Nghèo: nhật chủ mạnh, tỉ kiếp là kị thần, kị thần càng vượng càng nghèo; nhật chủ nhược, tài tinh là kị thần, tài càng vượng càng nghèo.
Hèn: nhật chủ mạnh, ấn tinh là kị thần, ấn càng vượng càng hèn; nhật chủ nhược, quan sát là kị thần, quan sát càng vượng càng hèn.
Hung: nhật chủ mạnh, cái sinh phù là kị thần, kị thần càng vượng càng hung; nhật chủ nhược, cái khắc, xì hơi, hao tổn nhật chủ là kị thần, kị thần càng vượng càng hung.
Yểu: nhật chủ mạnh, ấn tinh là kị thần, ấn càng vượng càng yểu; nhật chủ nhược, thực thương là kị thần, thực thương càng vượng càng yểu.
Những kết luận này được chắt lọc từ tinh hoa xưa nay và kết tinh từ thực tiễn, đủ để người học nắm được bộ khung của vấn đề.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
