Bài tổng quan
Mười hai cách cứu dụng thần khi bị hình, khắc, cướp mất
Dụng thần đã chọn đúng mà vẫn bị kẻ cướp đứng ngay bên cạnh thì làm sao? Có lá số tự có người canh giữ, có lá số cần một cái hợp để trói kẻ phá. Mười hai tình huống, mười hai lối thoát…
Khi sự phù trợ quá tay, lại cần một dụng thần đứng ra cân bằng
Có lúc nhật can nhược được sinh phù thái quá, hoặc nhật can vượng bị chế áp thái quá. Làm thế nào? Nếu sự phù trợ mạnh quá thì ngũ hành áp chế sự phù trợ ấy cũng được gọi là dụng thần. Nguyên tắc ở đây là lấy sự cân bằng có ích cho Tứ trụ làm chuẩn, chứ không phải cứ thấy thiếu là bù, thấy yếu là đỡ cho đến khi tràn.
Lấy ví dụ mộc nhược thì dùng thủy để phù trợ, thủy là dụng thần. Thủy phù trợ thái quá thì dùng thổ để khống chế thủy, và thổ chính là dụng thần cân bằng cho Tứ trụ. Mộc nhược nhờ thủy phù trợ nhưng quá mức, tức ấn tinh quá nhiều làm thân quá vượng; trong khi nhật can vốn suy nhược, thậm chí đang rơi vào đất tử tuyệt, thì sinh phù càng nhiều vẫn không thể mạnh bằng nhật can vốn được lệnh lại được ấn vượng sinh thành cường tráng. Còn khi nhật can nhược đã biến thành vượng thì phải dùng dụng thần chế áp để khỏi sinh thân quá mức.
Nhật nhược mà được sinh phù thái quá thành thân vượng thì cách chọn dụng thần giống như cho nhật vượng, tỉ kiếp vượng: lấy quan sát làm dụng thần. Nhưng nếu nhật nhược lại không được lệnh thì dù giúp thân đến đâu cũng không bằng nhật can được lệnh lại có tỉ kiếp trợ giúp, nên dụng thần quan sát của nó không cần phải thật mạnh. Ngược lại, mộc mạnh thì dùng kim để áp chế, kim là dụng thần của mộc. Nhưng khi kim áp chế mạnh quá thì phải dùng hỏa khống chế kim, lúc ấy hỏa mới là dụng thần của mộc. Nếu kim áp chế chưa đủ thì dùng thổ sinh cho kim, và thổ là dụng thần.
Quan sát cường mà thân cũng cường
Thân cường, quan sát càng cường, thực tế là không có ấn tinh để thông quan nên thân yếu đi một bậc. Dùng thực thương để khống chế quan sát thì cần nắm vững sức mạnh của dụng thần thực thương, vì thực thương không những chế áp quan sát mà còn làm xì hơi thân. Cho nên dụng thần thực thương không được quá mạnh. Thực thương này chính là dụng thần cứu ứng, trên thực tế chính là trường hợp trong Tứ trụ quan nhiều mừng gặp thực thương đến giải cứu.
Thân cường mà quan sát nhược thì sức áp chế của quan sát không đủ, lúc ấy mong gặp tài để sinh quan. Dụng thần tài tinh này cũng không nên vượng quá, vì ở đây không phải là không có quan sát mà chỉ là lực quan sát yếu. Tài mạnh quá thì biến thành thân nhược, không thắng nổi tài quan, mất cân bằng sẽ đưa đến tai họa. Cách chọn dụng thần ở đây nói chung theo nguyên tắc không phù trợ hay chế áp quá mạnh, tức là phương pháp chọn dụng thần cho các trường hợp đặc biệt trong tổng thể cân bằng của Tứ trụ.
Những người đặt tên theo ngũ hành để bổ cứu cho Tứ trụ thường nắm rất kỹ phân lượng của dụng thần. Có người trong tên cần thêm ba chữ thủy, có người chỉ cần hai hoặc một chữ, có người chỉ thêm chữ sương, có người lại thêm chữ vũ để làm nhuận. Cơ sở của chuyện ấy là chọn đúng mức độ của dụng thần. Nếu có người vặn hỏi dụng thần bị khắc, bị hợp, bị xung, bị hình hoặc vô lực thì sao, thì đó lại là một loại mệnh cục khác. Điểm mấu chốt là xác định thân vượng hay thân nhược, sau đó chọn dụng thần trực tiếp nhất hoặc có khả năng cân bằng nhất cho Tứ trụ. Chọn xong dụng thần thì thôi, không chọn dụng thần thứ ba nữa.
Mười hai cách cứu dụng thần khi bị hình, khắc, cướp mất
Dụng thần trong lá số đôi khi bị phá hại thương tổn, và mỗi kiểu bị hại lại có một cách cứu riêng. Tứ trụ có cứu là Tứ trụ có bệnh và có phương thuốc chữa. Những Tứ trụ thiên về khô mà không có cứu là Tứ trụ có bệnh mà không có thuốc. Người học có thể tự đi từ phía ngược lại để hiểu các trường hợp không có cứu.
Chính quan làm dụng thần
Quan gặp thương. Dụng thần là chính quan, kị thần là thương quan khắc nó. Nếu có chính ấn thì chế áp được thương quan và hỗ trợ chính quan, nên chính ấn là cứu ứng của chính quan.
Quan gặp sát. Chính quan và thiên quan lẫn lộn, không rõ ràng. Dụng thần là quan phải thanh khiết. Với nhật can dương thì kiếp tài, với nhật can âm thì thương quan có thể hợp mất thất sát, giữ lại chính quan. Cần nhớ nhật giáp thì tân là quan, canh là sát; nhật ất thì canh là quan, tân là sát. Chẳng hạn nhật can ất gặp bính là thương quan, bính hợp mất tân là sát, còn lại canh là quan; nhật can giáp có ất là kiếp tài, ất hợp mất canh là sát, còn lại tân là quan.
Quan gặp hình xung. Chính quan ẩn trong địa chi bị hình xung thương tổn. Khi ấy phải xem trong Tứ trụ có hợp cục để hóa hình, hóa xung hay không. Ví dụ nhật can bính gặp chi tý thủy, trong tý tàng quý là chính quan của bính, nên tý chính là chỗ chính quan đứng gốc. Nếu dụng thần chính quan bị mão hình hại, mà trong lá số có hợi, mão, mùi hợp thành cục, hoặc dần, mão, thìn hội thành cục, hoặc tuất với mão lục hợp, tức là hợp chặt được kị thần, cứu được dụng thần chính quan. Nếu dụng thần bị xung phá thì cũng xem có hợp cục để hóa xung không. Cũng với chi tý ấy, chính quan bị ngọ xung nên rễ không chắc, nhưng nhờ mùi và ngọ lục hợp, hợp chặt được kị thần, dụng thần chính quan được cứu. Vậy quan gặp hình xung thì hợp cục có thể giải cứu.
Tài làm dụng thần
Tài gặp kiếp. Dụng thần là tài, kị thần là kiếp tài khắc nó. Nếu trong lá số có thực thần thì xì hơi kiếp tài để sinh tài tinh, nên thực thần là cứu ứng đắc lực nhất của tài tinh. Nếu có quan tinh thì quan tinh chế áp kiếp tài, bảo vệ tài tinh, nên quan tinh cũng là cứu ứng của tài. Một bên hút bớt sức kẻ tranh của, một bên đứng ra canh giữ, cả hai đều bảo vệ được nguồn tài.
Tài gặp sát. Thất sát xì hơi tài tinh nên thành kị thần. Nếu trong lá số có thực thần áp chế thất sát và sinh tài thì dụng thần tài được cứu. Thất sát cũng có thể bị hợp chặt để bảo hộ tài tinh: nhật can ất gặp tân là thất sát, thương quan bính hợp chặt thất sát; nhật can giáp gặp canh là thất sát, kiếp tài ất hợp chặt thất sát, chống lại sự hình khắc để bảo vệ tài. Cho nên khi thất sát là kị của tài thì kiếp tài của nhật dương, thương quan của nhật âm sẽ bảo vệ tài tinh, ứng cứu cho dụng thần.
Tài gặp thương sát. Thương quan sinh tài, nhưng thất sát đến làm hóa tài và thành kị thần. Nếu có hợp cục hợp mất thất sát để bảo hộ tài thì tốt. Nhật can dương thì kiếp tài hợp mất thất sát, như nhật giáp gặp canh là sát, kiếp ất hợp mất canh sát. Nhật can âm thì thương quan hợp mất thất sát, như nhật ất gặp tân là sát, nếu có bính thương thì sẽ hợp mất tân sát.
Tài gặp sát (lộc cách). Khi Tứ trụ có dụng thần là tài, không nên gặp thất sát đến làm hóa tài; cái hợp mất được thất sát sẽ bảo hộ được tài tinh. Cũng là kiếp tài của can dương, thương quan của can âm hợp mất thất sát để bảo hộ tài, và chúng là cứu ứng của dụng thần tài tinh. Cứu ứng đạt được nhiều hay ít rất khó nắm chính xác; người học có thể dựa vào những ví dụ về dụng thần bị hình, xung, khắc, hại để hiểu rõ thêm.
Ấn và thực thần làm dụng thần
Ấn gặp tài. Dụng thần là ấn tinh, kị thần là tài tinh. Khi trong Tứ trụ cả ấn tinh lẫn tài tinh cùng xuất hiện mà cần làm mất tài giữ lại ấn, nếu có kiếp tài thì kiếp tài chế áp được tài tinh để giữ ấn tinh, nên kiếp tài cũng là cứu ứng của dụng thần ấn tinh. Nếu có hợp cục hợp mất tài tinh mà ấn tinh không bị khắc chế thì cũng được cứu, vì kị thần đã bị trói lại còn dụng thần vẫn nguyên vẹn. Nhật can dương có thể hợp mất tài tinh, giữ lại ấn tinh: nhật can giáp gặp quý là ấn, gặp kỷ là tài thì hợp. Năm can âm, kiêu thần cũng có thể hợp chặt chính tài. Đó đều là cứu ứng cho dụng thần chính ấn, giữ cho nguồn khí nuôi thân khỏi bị tài làm hỏng.
Thực thần gặp kiêu. "Dụng thần là thực thần thì không thể bị cướp mất", đó là nguyên tắc. Trong Tứ trụ, kiêu thần và thực thần rất kị gặp nhau, khi gặp nhau thì kị thần cần bị chế hóa. Thất sát có thể chế hóa kị thần để biến nguy thành an, nên thất sát là cứu ứng của dụng thần thực thần. Nếu có tài tinh chế áp được kiêu thần để hộ vệ thực thần thì thiên tài cũng là cứu ứng của thực thần.
Thực thần gặp sát ấn. Thực thần là dụng thần, kị thần là ấn tinh. Thực thần chế sát mà có ấn tinh đến giúp thì ấn chế áp thực thần, bảo hộ sát; thế là kị thần ấn đã lật ngược thế cờ. Khi ấy nếu có tài tinh thì làm mất ấn tinh, giữ lại thực thần; tài tinh thành cứu ứng của dụng thần thực thương trong điều kiện có ấn tinh.
Quan sát làm dụng thần
Quan gặp thương, sát gặp thực (cách kình dương). Quan sát là dụng thần, thương thực là kị thần. Tứ trụ có quan mà không có kình dương thì không vinh hiển, có sát mà không có kình dương thì không có uy, và kị bị chế phục quá mức. Tứ trụ có nhiều ấn tinh thì bảo hộ được quan tinh hoặc thất sát, lại ràng buộc được thực thương, để quan hoặc sát vừa được chế vừa được giúp, vừa được hỗ trợ, quyền uy không ai cản nổi. Cho nên ấn tinh có lực là cứu ứng của quan sát: quan sát nhờ nó mà giữ được cả sức lẫn phép tắc, không bị thương thực nuốt mất.
Quan gặp thương (lộc cách). Quan tinh có lộc thì chức cao vinh hiển, rất kị gặp thương quan. Nếu trong Tứ trụ có hợp cục hợp mất thương quan thì bảo vệ được quan tinh. Nhật can dương có thể hợp mất thương quan, như nhật giáp gặp nhâm là kiêu, nhâm hợp mất đinh thương quan. Nhật can âm có thất sát hợp mất thương quan, như nhật ất gặp tân là sát, tân hợp mất bính thương. Cho nên năm can dương có kiêu và năm can âm có thất sát đều có thể hợp mất thương quan, trở thành thần bảo hộ của dụng thần chính quan.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
