Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Hào Phụ Mẫu Trong Việc Học: Chọn Kinh Sách Và Xét Thầy Dạy Ra Sao

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch19/09/20269 phút đọc5 lượt đọc
Hào Phụ Mẫu Trong Việc Học: Chọn Kinh Sách Và Xét Thầy Dạy Ra Sao

Một người cha xem quẻ hỏi con nên theo thầy nào, được hào Tử Tôn hóa hồi đầu khắc — dấu hiệu không nên theo học. Ông không nghe, vẫn gửi con đến lớp, rồi một ngày cậu bé bị thầy trách phạt, hoảng sợ bỏ chạy lên cầu mà ngã gãy chân. Một trường hợp khác, cha mẹ nhờ xem con học tiếng Anh có tiến bộ không, quẻ hiện Phụ Mẫu hóa Huynh Đệ, đúng là thầy tham tài hiếu lợi, quẻ biến lại gặp Lục xung, nên chỉ dạy được ít lâu rồi bỏ dở, quả nhiên ứng nghiệm. Tăng San Bốc Dịch dùng hào Phụ Mẫu làm trục chính để xét nghiệp học, tư cách người thầy, và việc nên theo kinh sách nào. Một hào duy nhất phân định được bao nhiêu tầng ý nghĩa của chuyện học hành?


Hào Phụ Mẫu, Hào Thế Và Con Đường Khoa Danh

Nho nghiệp giả, Phụ Mẫu Thế hào đồng vượng, chung tu biến hóa thành long; Nhật Nguyệt động hào tương sinh, định thị vương gia trừ khí.

Theo nghiệp Nho, Phụ Mẫu, hào Thế cùng vượng, có ngày biến hóa thành rồng; Nhật, Nguyệt, hào động tương sinh, ắt được làm quan trong nội.

Hào Thế và hào Phụ Mẫu đều vượng tướng, hoặc động hóa cát, hoặc Phụ Mẫu trì Thế, hoặc Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động sinh hợp hào Thế, là tượng thành phượng thành rồng, ắt hẳn có ngày vinh hiển.

Tài động quái trung, thanh đăng bất cửu; Tử Tôn trì Thế, bạch thủ vô thành.

Tài động trong quẻ, nghiệp sách đèn dang dở; Tử Tôn trì Thế, bạc đầu chẳng nên danh.

Hào Tài động khắc văn chương, khiến nghiệp học hành phải nửa chừng bỏ dở. Hào Tử Tôn động là tượng không có quan chức, đến tuổi già đầu bạc cũng chẳng nên danh.

Cửu lưu giả, Tài hưng Quan vượng, đạo trọng nhân khâm; Huynh động Thế suy, hữu hủy vô dự.

Theo học Cửu lưu, Tài động, Quan vượng, học nghiệp cao thâm được trọng vọng; Huynh động, Thế suy, chỉ chuốc phỉ báng chẳng nên danh.

Chú thích: Cửu lưu: Vốn chỉ 9 trường phái học thuật Tiên Tần là Nho gia, Đạo gia, Âm dương gia, Pháp gia, Danh gia, Mặc gia, Tung hoành gia, Nông gia. Sau dùng để chỉ các loại thợ thuyền, các ngành nghề kỹ nghệ khác nhau.

Câu này dùng cho những người theo học các ngành nghề Cửu lưu. Cần được Tài, Quan trì Thế, Tài, Quan, Thế phải đắc địa. Nếu là hào Huynh trì Thế, Huynh động trong quẻ thì chỉ tạm đủ ăn, không tạo được sự nghiệp.

Giác Tử bàn: Phép xưa xem cho nhóm Cửu lưu, đều coi Quan Quỷ là tốt, nói thế là không biết rằng các đạo sĩ, phù thủy trừ tà, đồng cốt, thầy thuốc đều cho là hào Tử Tôn vượng sẽ trị được Quỷ, nên phải coi hào Tử Tôn trì Thế, Tử Tôn động là tượng tốt.

Xem về các ngành thợ đều lấy hào Tài làm Dụng thần, lấy Tử Tôn làm Nguyên thần, rất kỵ hào Huynh động trì Thế và hào Huynh vượng động, chủ về một đời vất vả, nhọc nhằn, cách suy đoán tương tự như chương "cầu tài".

Tất cả các ngành học kể trên đều không nên gặp hào Thế bị Không, Phá, Mộ, Tuyệt, hưu tù, vì là tượng sự nghiệp khó thành. Nếu hào Thế hưu tù, lại theo Quỷ nhập Mộ, hoặc bị Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động xung khắc, hoặc động mà hóa Quỷ, hóa Tuyệt, hóa Khắc, không những nghiệp học khó thành, mà còn phải đề phòng tai họa bất trắc.

Chọn Đúng Kinh Điển Để Theo Học

Nghiệp học đã có khung định sẵn qua hào Phụ Mẫu, nhưng chọn kinh sách nào để dùi mài lại là một quẻ riêng.

Phép xưa cho rằng, kim là kinh "Xuân Thu", mộc là "Kinh Thi", thủy là "Kinh Thư", hỏa là "Lễ ký", thổ là "Kinh Dịch".

Giác Tử nói: Không thể hỏi chung, mà khi hỏi cần phải chỉ rõ kinh điển nào.

Cầu khấn thần linh như sau: Tôi nghiên cứu kinh điển này có được không?

Văn vượng, Quan động, sẽ thành rường cột của quốc gia. Thế Không, Tử động, chỉ là kẻ hàn sĩ chốn quê mùa.

Hào Quan trì Thế, được hào Phụ động tương sinh, hoặc Nhật, Nguyệt lâm Phụ Mẫu sinh Thế, hoặc hào Quan vượng tướng, hào Phụ trì Thế, hoặc hào Thế động mà hóa cát, đều là tượng hiển đạt, rộng bước đường mây.

Hào Thế Không, Phá, hoặc động mà hóa hung, hoặc hào Tử Tôn trì Thế, hào Phụ Mẫu Quan Quỷ Không, Phá, cần phải chuyển hướng sang nghiên cứu kinh khác, thành kính gieo lại quẻ khác xem sao.

Ví dụ: Ngày Bính Tý tháng Dậu, xem nghiên cứu kinh này liệu có phát triển được không, được quẻ Ích biến Quan:

Quẻ Phong Lôi Ích
Quẻ biến Phong Địa Quán

Đoán rằng: "Hào Quan vượng hợp hào Thế, nhưng hiềm vì hào sơ Chu Tước Tý thủy văn chương động hóa Mùi thổ hồi đầu khắc, nên đổi sang kinh khác." Người xem hỏi: "Nên đổi sang kinh nào?" Ta đáp: "Sách xưa có phép xem, nhưng ta thấy không ứng nghiệm. Anh muốn theo kinh nào, thì chỉ đích danh mà xem quẻ nữa." Người này bèn hỏi về kinh sách bốc dịch, được quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân:

Quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân

Ta đoán rằng: Hào Quan trì Thế, tuy là tốt, nhưng hào Phụ gặp Nguyệt phá, nên vẫn phải đổi kinh sách khác.

Lại xem về "Kinh Thư", được quẻ Phong biến Ly:

Quẻ Lôi Hỏa Phong
Quẻ biến Ly Vi Hỏa

Hào Phụ vượng trì Thế, được hào Quan động tương sinh, nhưng vì Nhật thần Tý thủy xung động Ngọ hỏa tổn thương kim, kinh này vẫn có thể học. Khoa thi năm Nhâm Tý, xung mất Ngọ hỏa, nên sẽ đỗ cao. Quả nhiên đến khoa thi năm Tý đỗ đầu.

Mời Thầy Về Dạy: Xét Tư Cách Và Duyên Thầy Trò

Ngoài việc tự học kinh sách, nhiều nhà còn phải xem quẻ trước khi rước thầy về nhà.

Phụ hào vượng tướng, tựu nhi chính yên.

Hào Phụ vượng tướng, nghiêm chính xứng danh.

Hào Phụ Mẫu cũng tượng trưng cho thầy, nên muốn mời thầy về dạy học, cũng lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần. Khi đó, hào Phụ Mẫu nên vượng tướng, hoặc lâm nhật nguyệt, hoặc động mà hóa cát, chủ về thầy nghiêm cẩn, đáng trọng. Nếu hào Phụ Mẫu hưu tù, Không, Phá, Tuyệt, hoặc động mà hóa hung, là thầy vô dụng, không có tư cách.

Thế vị tương sinh, bác ước thiện dụ.

Hào Thế tương sinh, học cao khéo dạy.

Hào Phụ Mẫu vượng, sinh hợp hào Thế, chủ về thầy khéo dạy bảo. Nếu hào Phụ Mẫu khắc Thế, mà hào Thế đắc địa, là thầy tận tâm, có trách nhiệm. Nếu hào Thế hưu tù, sẽ phải hệ lụy vì thầy.

Phụ nhập Mộ trung, lãn vu giáo huấn;

Hào Phụ nhập Mộ, dạy dỗ biếng lười;

Nếu hào Phụ nhập Tam Mộ hoặc lâm Tuyệt, không phải lười nhác trong dạy dỗ, cũng là quản giáo không nghiêm.

Tài lâm Thế thượng, nhu nhược bất nghiêm.

Hào Tài trì Thế, nhu nhược không nghiêm.

Hào Tài trì Thế, tức bản thân khắc cha mẹ, không phải thầy quản giáo không nghiêm, cũng là học trò khinh nhờn thầy dạy.

Quỷ hóa văn thư khắc Thế, tụng do hồ học;

Quỷ hóa văn thư khắc Thế, kiện tụng nảy từ việc học;

Nếu hào Quỷ hóa thành hào Phụ Mẫu, xung khắc hào Thế, ngày sau ắt sinh tranh chấp kiện tụng. Cho dù có Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động chế phục hào Quỷ, cũng không nên. Vậy nguyên do là vì đâu? Thần mách bảo thiên cơ tại hào động, trước mắt tuy bị chế phục, nhưng ngày sau nếu Qụỷ gặp sinh vượng, ắt gặp tai ương. Không chỉ Quỷ động hóa Phụ, mà Quỷ động khắc Thế, hoặc Thế động biến hung, đều là không tốt.

Nguyệt phù Thế hào Nhật trợ, thanh xuất ư lam.

Thế được Nguyệt phò Nhật giúp, ngày sau trò giỏi hơn thầy.

Nếu hào Thế vượng tướng, hoặc hào Phụ Mẫu trì Thế, hoặc hào Quan trì Thế, hoặc Thế được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động sinh phò, hào Thế động mà hóa cát, là tượng tiền đồ rộng mở, trò giỏi hơn thầy.

Động suy biến vượng, tiên nọa hậu cần; động vượng biến suy, tiên cần hậu đãi.

Động suy biến vượng, trước lười biếng sau siêng năng; động vượng biến suy, trước chuyên cần sau bê trễ.

Nếu hào Phụ suy mà động hóa sinh hóa vượng, hóa Nhật Nguyệt, hóa Tiến thần, đều chủ về trước lười biếng, sau siêng năng.

Nếu hào phụ vượng mà động hóa Không, Phá, Mộ, Tuyệt, hóa Thoái thần, đều chỉ càng về sau càng biếng nhác.

Phụ hóa Phụ, chủ về các nghề đặc thù; Phụ hóa Tài, chủ về đa bệnh; Phụ hóa Quỷ, chủ về giao du với người quyền quý; Phụ hóa Huynh, tham tài háo lợi.

Tân bình thích: Ví dụ, ngày Đinh Sửu tháng Ngọ, xem con theo học tiếng Anh ra sao? Được quẻ Thủy Địa Tỷ biến Khảm.

Quẻ Thủy Địa Tỷ
Quẻ biến Khảm Vi Thủy

Phụ Mẫu được Nguyệt tỉ phù, thầy cũng có năng lực, Tử Tôn Không mà nhập Mộ, con làm biếng học tập, Phụ Mẫu động mà hóa Huynh, thầy tham tài hiếu lợi, lâm Câu Trần, hào Ứng Nguyệt phá, tiến độ dạy học quá chậm, quẻ biến lục xung, nhất định khó dạy lâu dài. Quả như dự đoán.

Tam hợp liên niên thụ giáo; Lục xung bán tải nan lưu.

Tam hợp liền năm giảng dạy; Lục xung dăm tháng khó lưu.

Nếu hào Thế và hào Phụ cùng Nhật, Nguyệt hợp thành Tam hợp, thì tình cảm thầy trò bền chặt như cha con, được thầy dạy dỗ lâu dài, cho đến lúc thành tựu.

Nếu được quẻ Lục xung, hoặc hào Thế khắc hào Phụ, hoặc hào Phụ khắc hào Thế, là tượng không hòa hợp, khó mà dạy nổi nửa năm.

Nếu cha mời thầy về dạy cho con, thì hào Ứng chỉ thầy, hào Thế chỉ bên mời thầy, tốt nhất là Thế Ứng tương sinh, tương hợp, không nên tương khắc, tương xung. Hào Ứng sinh hào Thế, là ta được ích lợi từ thầy dạy. Hào Ứng Không Phá, việc mời dạy không có kết quả. Hào Ứng động, chủ về thầy thay lòng đổi dạ. Hào Thế Không, chủ về nhà mình đổi ý.

Giác Tử bàn rằng: Tuy lấy Thế, Ứng làm chủ, nhưng không thể bỏ qua hào Phụ Mẫu. Nếu hào Phụ vượng, tương hợp với Tử Tôn, là hữu danh hữu thực. Nếu hào Phụ động thương khắc Tử Tôn, đã không được ích lợi, còn có hại. Hào Tử Tôn động hóa hồi đầu khắc, thì không nên mời thầy đó. Hào Tử Tôn động mà hóa Quỷ, nên nhanh chóng từ bỏ ý định mời thầy.

Ví dụ: Ngày Mậu Ngọ tháng Dần, xem con theo thầy học ra sao, được quẻ Lữ biến Ly:

Quẻ Hỏa Sơn Lữ
Quẻ biến Ly Vi Hỏa

Hào Tử động hóa hồi đầu khắc, chủ về không nên theo thầy này. Nhưng người xem không nghe, sau người con bị thầy trách phạt, bỏ chạy lên cầu mà ngã gãy chân phải.

Tân bình thích: Tử Tôn lâm Dịch Mã (Dần Ngọ Tuất Mã tại Thân Tý Thìn), lại là quẻ Lữ, là tượng trốn học, Cấn là cầu, hào sơ là chân, âm là phải, Câu Trần là vấp ngã bị thương, do đó mà có ứng nghiệm như vậy.


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch